Head



 

 

Bach Dang Giang Phu (Truong Han Sieu)
28-11-2012 | THƠ

Bạch Đằng Giang Phú

 TRƯƠNG HÁN SIÊU

   Năm 938, NGÔ VƯƠNG QUYỀN chấm dứt ngàn năm nô lệ giặc Tầu sau
chiến thắng Bạch Đằng Giang. Cũng trên dòng sông ấy, năm 1288 HƯNG
ĐẠO VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN dẹp tan quân Mông Cổ.

Tranh dân gian làng Đông Hồ: Ngô Vương Quyền đánh giặc Tầu.

Hình bên phải: Tướng kỳ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (bìa báo Tri Tân 17)


白藤江賦

客有:

掛汗漫之風帆,

拾浩蕩之海月。

朝嘎舷兮沅湘,

暮幽探兮禹穴。

九江五湖,

三吳百粵。

人跡所至,

靡不經閱。

胸吞雲夢者數百而,

四方壯志猶闕如也。

乃舉楫兮中流,

縱子長之遠遊。

涉大灘口,

溯東潮頭。

抵白藤江,

是泛是浮。

接鯨波於無際,

蘸繇尾之相繆。

水天一色,

風景三秋。

渚获岸蘆,

瑟瑟颼颼。

折戟沉江,

枯骨盈丘。

慘然不樂,

佇立凝眸。

念豪傑之已往,

嘆蹤跡之空留。

江邊父老,

謂我何求。

或扶黎杖,

或棹孤舟。

揖余而言曰:

此重興二聖擒烏馬兒之戰地,

與昔時吳氏破劉弘操之故洲也。

當期:

舳艫千里,

旌旗旖旎。

貔貅六軍,

兵刃蜂起。

雌雄未決,

南北對壘。

日月昏兮無光,

天地凜兮將毀。

彼:

必烈之勢強,

劉龔之計詭。

自謂投鞭,

可掃南紀。

既而:

皇天助順,

凶徒披靡。

孟德赤壁之師談笑飛灰,

符堅合淝之陣須臾送死。

至今江流,

終不雪恥。

再造之功,

千古稱美。

雖然:

自有宇宙,

故有江山。

信天塹之設險,

賴人傑以奠安。

孟津之會鷹揚箬呂,

濰水之戰國士如韓。

惟此江之大捷,

猶大王之賊閒。

英風可想,

口碑不刊。

懷古人兮隕涕,

臨江流兮厚顏。

行且歌曰:

大江兮滾滾,

洪濤巨浪兮朝宗無盡。

仁人兮聞名,

匪人兮俱泯。

客從而賡歌曰:

二聖兮並明,

就此江兮洗甲兵。

胡塵不敢動兮,千古昇平。

信知:不在關河之險兮,

惟在懿德之莫京。

Bạch Đằng giang phú *

Khách hữu:

Quải hạn mạn chi phong phàm,

Thập hạo đãng chi hải nguyệt.

Triêu dát huyền hề Nguyên, Tương,

Mộ u thám hề Vũ Huyệt.

Cửu Giang, Ngũ Hồ,

Tam Ngô, Bách Việt.

Nhân tích sở chí,

Mị bất kinh duyệt.

Hung thôn Vân Mộng giả sổ bách nhi,

Tứ phương tráng chí do khuyết như dã.

Nãi cử tiếp hề trung lưu,

Túng Tử Trường chi viễn du.

Thiệp Đại Than khẩu,

Tố Đông Triều đầu.

Để Bạch Đằng giang,

Thị phiếm thị phù.

Tiếp kình ba ư vô tế,

Trám diêu vĩ chi tương mâu.

Thuỷ thiên nhất sắc,

Phong cảnh tam thu.

Chử địch ngạn lô,

Sắt sắt sâu sâu.

Chiết kích trầm giang,

Khô cốt doanh khâu.

Thảm nhiên bất lạc,

Trữ lập ngưng mâu.

Niệm hào kiệt chi dĩ vãng,

Thán tung tích chi không lưu.

Giang biên phụ lão,

Vị ngã hà cầu.

Hoặc phù lê trượng,

Hoặc trạo cô châu.

Ấp dư nhi ngôn viết:

"Thử Trùng Hưng nhị thánh cầm Ô Mã Nhi chi chiến địa,

Dữ tích thời Ngô thị phá Lưu Hoằng Thao chi cố châu dã".

Đương kỳ:

Trục lô thiên lý,

Tinh kỳ ỷ nỉ.

Tỳ hưu lục quân,

Binh nhẫn phong khỉ.

Thư hùng vị quyết,

Nam Bắc đối luỹ.

Nhật nguyệt hôn hề vô quang,

Thiên địa lẫm hề tương huỷ.

Bỉ:

Tất Liệt chi thế cường,

Lưu Cung chi kế quỷ.

Tự vị đầu tiên,

Khả tảo Nam kỷ.

Ký nhi:

Hoàng thiên trợ thuận,

Hung đồ phi mỵ.

Mạnh Đức Xích Bích chi sư đàm tiếu phi hôi,

Bồ Kiên Hợp Phì chi trận tu du tống tử.

Chí kim giang lưu,

Chung bất tuyết sỉ.

Tái bạo chi công,

Thiên cổ xưng mỹ.

Tuy nhiên:

Tự hữu vũ trụ,

Cố hữu giang san.

Tín thiên tạm chi thiết hiểm,

Lại nhân kiệt dĩ điện an.

Mạnh Tân chi hội ưng dương nhược Lã,

Duy Thuỷ chi chiến quốc sĩ như Hàn.

Duy thử giang chi đại tiệp,

Do đại vương chi tặc nhàn.

Anh phong khả tưởng,

Khẩu bi bất san.

Hoài cổ nhân hề vẫn thế,

Lâm giang lưu hề hậu nhan.

Hành thả ca viết:

"Đại giang hề cổn cổn,

Hồng đào cự lãng hề triều tông vô tận.

Nhân nhân hề văn danh,

Phỉ nhân hề câu dẫn".

Khách tòng nhi canh ca viết:

"Nhị thánh hề tịnh minh,

Tựu thử giang hề tẩy giáp binh.

Hồ trần bất cảm động hề, thiên cổ thăng bình.

Tín tri: bất tại quan hà chi hiểm hề,

Duy tại ý đức chi mạc kinh".


Phần sau đây trích từ Tạp chí Tri Tân **


BẠCH ĐẰNG là con sông nơi các anh hùng NGÔ QUYỀN, TRẦN HƯNG ĐẠO
đại phá Tàu Man 938, và Rợ Nguyên 1288

BÀI PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG


TRƯƠNG HÁN SIÊU soạn (nguyên văn bằng chữ Hán)

NGUYỄN HỮU TIẾN dịch ra Quốc văn (a)

DƯƠNG QUẢNG HÀM dẫn giải và chú thích


Tiểu dẫn:

Sông Bạch Đằng là một nhánh của sông Thái Bình phân địa giới hai tỉnh Kiến An và Quảng Yên ngày nay và đổ ra cửa Nam Triệu.

Sông rộng và sâu, bởi thế tàu biển hiện nay cũng phải vào cửa Nam Triệu rồi mới do lạch Định Vũ mà chạy tới bếnHải Phòng ở trên bờ sông Cửa Cấm.

Xưa kia binh thuyền của tàu kéo sang đánh nước ta thường do sông ấy mà tiến vào trong đất, nên có nhiều trận thủy chiến đã xảy ra trên mặt sông ấy. Trong các trận đó, đáng ghi nhớ nhất là trận vua Ngô Quyền đánh phá quân Nam Hán trong năm 938 và trận Trần Quốc Tuấn đánh tan quân Mông Cổ trong năm 1288.


Trương Hán Siêu (?-1354), một bậc danh nho đời Trần, ở cách trận Trần Nguyên giao chiến không bao lâu, nên khi ra chơi sông Bạch Đằng, còn được trông thấy dấu vết cuộc binh đao, nhân cảm xúc mà làm ra bài phú này.


Bài phú chia làm năm phần: thoạt tiên tác giả nói về cái tính thích ngao du sơn thủy của mình để mở bài (phần lung), rồi tả phong cảnh sông Bạch Đằng cùng dấu vết cuộc chiến tranh khiến cho tác giả nhớ đến các bậc anh hùng đời xưa (vần biện nguyên), kế đó tác giả nói tới việc vua Ngô phá quân Lưu và việc nhà Trần đánh giặc Nguyên và tả cuộc chiến đấu của hai bên cùng sự thất bại của quân địch (ba vần thích thực); sau tác giả bình luận cuộc thắng trận, cho rằng cái kết quả ấy chính do tài chí của Hưng Đạo Đại Vương, chứ không phải do sự hiểm trở của núi sông (vần nghị luận). Đoạn, tác giả kết lại bằng một bài ca ngợi khen công đức của vua tôi nhà Trần đã giữ vững được non sông đất nước.


Lời văn bài này, viết theo lối phú "lưu thủy" vừa lưu loát, vừa mạnh mẽ, nhiều đoạn có giọng hùng hồn cảm khích, thật là một áng văn hay trong nền Hán văn của ta xưa.


Khách có kẻ:

Chèo bể bơi giăng,

Buồm mây giong gió.

Sớm ngọn Tương (1) kia,

Chiều hang Vũ (2) nọ

Vùng vẫy Giang, Hồ,

Tiêu dao Ngô, Sở (3).

Ði cho biết đây,

Ði cho biết đó.

Chằm Vân Mộng (4) chứa ở trong kho tư tưởng, đã biết bao nhiêu;

Mà cái chí khí tứ phương, vẫn còn hăm hở.

Mới học thói Tử Trường (5),

Bốn bể ngao du.


Qua cửa Ðại Than (6),

Sang bến Ðông Triều (7);

Ðến sông Bạch Ðằng,

Ðủng đỉnh phiếm chu.

Trắng xoá sóng kềnh (8) muôn dặm,

Xanh rì rặng ác (9) một màu;

Nước trời lộn sắc,

Phong cảnh vừa thu;

Ngàn lau quạnh cõi,

Bến lách đìu hiu.

Giáo gãy đầy sông,

Cốt khô đầy gò,

Ngậm ngùi đứng lặng,

Ngắm cuộc phù du.

Thương kẻ anh hùng đâu vắng tá?

Mà đây dấu vết vẫn còn lưu!

Kìa kìa bên sông, phụ lão người đâu;

Lượng trong bụng ta, chừng có sở cầu (10).

Hoặc gậy chống trước, hoặc thuyền bơi sau.


Vái tạ mà thưa rằng:

Ðây là chỗ chiến địa của vua Trần bắt giặc Nguyên,

Và là nơi cố châu của vua Ngô phá quân Lưu (11) đấy.

Ðương khi:

Muôn đội thuyền bày, hai quân giáo chỉ.

Guơm tuốt sáng lòe, cờ bay đỏ khé!

Tướng Bắc, quân Nam;

Ðôi bên đối lũy.

Ðã nổi gió mà bay mây,

Lại kinh thiên mà động địa.

Kìa Nam Hán đọ mưu sâu,

Nọ Hồ Nguyên so sức khoẻ.

Nó bảo rằng:

Phen này đạp đổ cõi Nam, tưởng chừng cũng dễ!

May sao:

Trời giúp quân ta,

Mây tan trận nó.

Khác nào như:

Quân Tào Tháo bị vỡ ở sông Xích Bích (12) khi xưa.

Giặc Phù Kiên bị tan ở bến Hợp Phì (13) thuở nọ.

Ấy cái nhục tầy trời của họ, há những một thời;

Mà cái công tái tạo (14) của ta, lưu danh thiên cổ.

Tuy vậy, từ thuở có trời có đất, vẫn có giang san.


Trời đặt ra nơi hiểm trở,

Người tính lấy cuộc tồn an.

Hội nào bằng hội Mạnh Tân (15), như vương sư họ Lã (16),

Trận nào bằng trận Duy Thuỷ (17), như quốc sĩ họ Hàn (18).

Kìa trận Bạch Ðằng này mà đại thắng,

Bởi chưng Ðại vuơng (19) coi thế giặc nhàn (20).

Tiếng thơm còn mãi,

Bia miệng bao mòn.

Nhớ ai sa giọt lệ,

Hổ mình với nước non.


Rồi vừa đi vừa hát rằng:

Sông Ðằng một dải dài ghê!

Luồng to, sóng lớn dồn về bể Ðông.

Trời Nam sinh kẻ anh hùng,

Tăm kình yên lặng, non sông vững vàng.

Khách lại nối mà hát rằng:

Vua Trần hai (21) vị thánh quân,

Sông kia còn dấu tẩy trần giáp binh (22);

Nghìn xưa gẫm cuộc thăng bình,

Tại đâu đất hiểm, bởi mình đức cao.


Phần chú thích của giáo sư DƯƠNG QUẢNG HÀM ***


1. Lương: Tên con sông chảy qua tỉnh Hồ Nam rồi đổ vào hồ Động Đình.

2. Hang Vũ: dịch hai chữ "Vũ huyệt"; tên một cái hang ở núi Cối Kê (ở huyện Thiện Hưng, tỉnh Chiết Giang). Sách Thủy Kinh Chú chép rằng: Trên núi Cối Kê, có miếu vua Vũ. Xưa vua Đại Vũ đi tuần phía Đông, mất ở Cối Kê, nhân chôn ở đây, tức là Vũ huyệt.

3. Ngô, Sở: tên hai nước chư hầu về đời Xuân Thu, đều ở trên triền sông Dương Tử giang: nước Ngô ở phía Đông, nước Sở ở phía Tây.

4. Vân Mộng: tên một cái chằm ở phía Nam huyện An Lục, tỉnh Hồ Bắc.

5. Tử Trường: tên hiệu của Tư Mã Thiên, một sử gia có tiếng ở đời Hán, từng đi du lịch nhiều nơi. Các tên sông, tên đất nói ở đoạn trên là những nơi Tử Trường từng đến chơi cả.

6. Đại Than: tên xã thuộc tổng Vạn Ty, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

7. Đông Triều: tên huyện thuộc tỉnh Hải Dương.

8. Sóng kềnh: sóng lớn như cá kềnh.

9. Rặng ác (ác: con quạ): rặng núi trùng trùng điệp điệp trông xa như đàn quạ bay nối đuôi nhau.

10. Sở cầu: điều mình muốn tìm, muốn biết.

11. Vua Ngô phá quân Lưu: vua Ngô là Ngô Quyền; quân Lưu là quân của Hoằng Thao (con Lưu Cung), vua nước Nam Hán) sang đánh nước ta năm 938.

12. Quân Tào Tháo bị vỡ ở sông Xích Bích: Tào Tháo là vua nước Ngụy về đời Tam quốc, đánh nhau với Lưu Bị, vua nước Thục. Tháo bị tướng nước Ngô là Chu Du đánh thua ở Xích Bích, tên một trái núi ở trên bờ sông Dương Tử giang, ở phía Đông Bắc huyện Gia Ngư, tỉnh Hồ Bắc.

13. Giặc Kiên bị tan ở bến Hợp Phì: Phù Kiên là vua nước Tiền Tần đem quân đánh nhà Tấn, bị bọn Tạ Huyền đánh thua to ở Phì Thủy, một con sông phát nguyên tự huyện Hợp Phì (nay thuộc đạo An Khánh, tỉnh An Huy).

14. Tái tạo: gây dựng lần nữa; ý nói đánh giặc ngoài để khôi phục giang san.

15. Mạnh Tân: tên bến phía Nam huyện Mạnh, tỉnh Hà Nam, nay gọi là bến Hà Dương. Xưa Vũ Vương nhà Chu khi đánh vua Trụ, họp chư hầu ở đấy.

16. Họ Lã: tức Lã Thượng, hiệu là Thái công Vọng làm vương sư giúp Vũ Vương đánh vua Trụ.

17. Duy Thủy: tên một con sông ở tỉnh Sơn Đông.

18. Họ Hàn: tức Hàn Tín, một bậc danh tướng đã có công giúp vua Hán Cao tổ đánh Hạng Vũ. Ông đánh được tướng nước Sở là Long Thả ở Duy Thủy.

19. Đại Vương: tước của Trần Quốc Tuấn. Vua nhà Trần phong cho ông là "Hưng Đạo Đại Vương".

20. Coi thế giặc nhàn: năm 1287, quân nhà Nguyên, lần trước bị thua, lại kéo sang lần thứ nhì để đánh báo thù, vua Trần Nhân Tôn hỏi Trần Quốc Tuấn dùng kế gì để chống lại quân giặc; ông thưa: "Thế giặc năm nay nhàn", ý nói dễ đánh. Xem câu trả lời ấy, đủ biết ông đã dự định mưu lược để đánh thắng quân giặc, nên không lấy làm lo.

21. Vua Trần hai vị: tức là vua Trần Thái Tôn (1225-1258) và vua Trần Nhân Tôn (1278-1293).

22. Tẩy trần giáp binh: rửa sạch bụi áo giáp và binh khí: ý nói thắng trận.


Trương Hán Siêu

Tạp chí Khởi Hành số 157, Tháng 11.2009


(a) Nam Phong tạp chí, quyển thứ XIV, trang 470-472.

(*) Nguồn: Thivien.net

(**) Tạp chí Tri Tân xuất bản số 1 tại Hà Nội ngày 3 tháng 6.1941, chủ trì bởi giáo sư Nguyễn Tường Phượng. Báo ra ngày thứ ba mỗi tuần.

(***) Xin xem Viên Linh: "Dương Quảng Hàm, mùa Đông 1946," viết về cái chết còn bí ẩn của giáo sư Dương Quảng Hàm, Khởi Hành số 110, tháng 12.2005..



 

 

Tho

 

   
 

  Thơ

 (Vietnamese Poetry translated into English)

 

Đàm Trung Pháp & Viên Linh dịch và chú giải:

 

Vịnh Hai bà Trưng (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)

Ăn Cỗ Đầu Người (Nguyễn Biểu)

Đoạt Sáo Chương Dương Độ (Trần Quang Khải)

Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

Thề Non Nước (Tản Đà)

Thi Nhiệt (Lý Đông A)

Vịnh Tranh Gà Lợn (Vũ Hoàng Chương)

 

Huỳnh Sanh Thông dịch:

 

Thăng Long (Nguyễn Du)

Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du)

Hồ Hoàn Kiếm (Vô Danh)

Thăng Long Thành Hoài Cổ

 (Bà Huyện Thanh Quan)

Chiều Hôm Nhớ Nhà (Bà Huyện Thanh Quan)

Lên Đèo Hải Vân (Huỳnh Mẫn Đạt)

Vịnh Bức Dư Đồ Rách (Tản Đà)

Màu Tím Hoa Sim (Hữu Loan)

Nhà tôi (Yên Thao)

Sóng (Xuân Quỳnh)

Hai Sắc Hoa Tigôn (T.T.Kh.)

 

Lê Đình Nhất-Lang & Nguyễn Tiến Văn dịch:

 

Cùng khổ (Bùi Chát)

Hoa sữa (Bùi Chát)

Bài thơ một vần (Bùi Chát)

Đèn đỏ (Bùi Chát)

Ai? (Bùi Chát)

Những người đáng trọng & những kẻ đáng khinh

 (Lý Đợi)

 

Các tác giả khác dịch:

 

Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi (Nguyễn Đình Toàn)

 (Do Dinh Tuan dịch)

Bữa Tiệc Hòa Bình (Nguyễn Thị Thanh Bình)

 (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

Từ Một Cuốn Rún (Nguyễn Thị Thanh Bình)

 (Đinh Từ Bích Thúy dịch)

Vì Người Ta Cần Ánh Mặt Trời (Nguyễn Đắc Kiên)

 (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

 

  Thơ Cổ:

 

Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

Nguyễn Trãi Huyễn-Thực và Sắc-Không

 (GS. Trần Ngọc Ninh)

Quá Phong Khê, Một Bài Thơ Kỳ Tuyệt (Vô Ngã)

Bài Phú Sông Bạch Đằng (Nguyễn Hữu Tiến dịch)

Thơ Phạm Ngũ Lão (Thi Nham dịch)

Thơ Đặng Dung, Thuật Hoài (Trần Trọng Kim dịch)

Thơ Nguyễn Trãi (Giản Chi dịch)

Ngày Xuân Đọc "Đào Hoa Thi" của Nguyễn Trãi

(Trần Uyên Thi)

Thơ Lý Bạch (Đàm Trung Pháp)

Xuân Xưa, Thơ Trước, Hồn Ngàn Mùa (Viên Linh)

Giới thiệu - Bài Thơ "Trừ Tịch" của Đặng Đức Siêu

 (Trần Từ Mai)

 

  Thơ Tuyển:

 

Hai Chữ Nước Nhà (Trần Tuấn Khải)

Đói (Bàng Bá Lân)

Lời Mẹ Dặn (Phùng Quán)

Nước Tôi (Nguyễn Văn Cổn)

Thơ Tình Ngày Valentine (Nhiều tác giả)

Kỷ Niệm Chiến Thắng Đống Đa (Hoàng Phong Linh)

Thơ và Câu Đối Mừng Xuân (Nhiều tác giả)

Quốc Nam, Quốc Việt (Hồ Bạch Thảo)

Bài Thơ Vô Đề Viết Trong Trại Tù Tập Trung (Tú Kếu)

Thơ Tưởng Niệm Các Anh Hùng Tử Sĩ ở Hoàng Sa (Nhiều tác giả)

Thơ Tiền Chiến (Nhiều tác giả)

Bình Giảng: Đời Đáng Chán và Tống Biệt của Tản Đà (Thạch Trung Giả)

Tây Tiến (Quang Dũng)

Đêm Liên Hoan (Hoàng Cầm)

Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Cao Tiêu)

Biên Cương Hành (Phạm Ngọc Lư)

Thơ Xuân (Nhiều tác giả)

Đồng Lầy (Nguyễn Chí Thiện)

Ta Về (Tô Thùy Yên)

Trường Sa Hành (Tô Thùy Yên)

Kịch thơ: Hận Nam Quan (Hoàng Cầm)

 

  Tục ngữ (Proverbs)

 

Tre già măng mọc

Đục nước béo cò

Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng

Gà một mẹ đá nhau

 

  Danh Ngôn

  Đố vui (Puzzles)

 
 

 

© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@hotmail.com)