1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Tự Điển:

      Việt-Anh-Pháp
      Hán Nôm

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      NAM PHONG - TRI TÂN
      THANH NGHỊ - NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21 - BÁCH KHOA
       

      Sách Xưa

       

      QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ:
      - Lớp Sơ Đẳng - Lớp Đồng Ấu
      - Lớp Dự Bị
       

       

    2. Đói (Bàng Bá Lân)
      12-06-2014 | THƠ

      Đói

       BÀNG BÁ LÂN

      Vũ vũ thùy gia tử
      Y phá, lạp bất hoàn,
      Thúc tòng nam phương lai
      Hướng ngã tiền đầu than...
             Cao Bá Quát
           (Đạo phùng nga phu)


         Thi sĩ Bàng Bá Lân (1913-1988)

      Năm Ất Dậu tháng ba, còn nhớ mãi

      Giống Lạc Hồng cực trải lắm đau thương!

      Những thây ma thất thểu đầy đường,

      Rồi ngã gục không đứng lên vì... đói!

      Đói tự Bắc Giang đói về Hà Nội

      Đói ở Thái Bình đói tới Gia Lâm.

      Khắp đường xa những xác đói rên nằm

      Trong nắng lửa, trong bụi lầm co quắp

      Giữa đống giẻ chỉ còn đôi hố mắt

      Đọng chút hồn sắp tắt của thây ma;

      Những cánh tay gầy quờ quạng khua khoa

      Như muốn bắt những gì vô ảnh

      Dưới mớ tóc rối bù và kết bánh,

      Một làn da đen xạm bạc xương đầu.

      Răng nhe ra như những chiếc đầu lâu,

      Má hóp lại, răng hằn sâu gớm ghiếc

      Già, trẻ, gái, trai, không còn phân biệt

      Họ giống nhau như là những thây ma,

      Như những bộ xương còn dính chút da,

      Chưa chết đã bốc xa mùi tử khí!

      Mùi nhạt nhẽo, nặng nề, kỳ dị.

      Một mùi tanh lộn mửa thoảng mà kinh

      (Mùi tanh hôi ám ảnh mãi bên mình

      Khiến cá tháng ăn không còn ngon bữa!)

      Những thây đó cứ xỉu dần, tắt thở,

      Nằm còng queo, mắt vẫn mở trừng trừng.

      Tròng con ngươi còn đọng lệ rưng rưng,

      Miệng méo xệch như khóc còn dang dở.

      Có thây chết ba hôm còn nằm đó,

      Ruồi tám phương bâu lại khóc vo vo...

      Rồi ven đuờng đôi nhát cuốc hững hờ

      Đắp điếm vội những nấm mồ nông dối!

      Đói tự Bắc Giang đói về Hà Nội,

      Đói ở Thái Bình đói tới Gia Lâm.

      Rải ven đường những nấm mộ âm thầm

      Được đánh dấu bằng ruồi xanh cỏ tốt.

      Có nấm mộ quá nông, trơ hài cốt,

      Mùi hôi tanh nồng nặc khắp không gian.

      Sau vài trận mưa nước xối chan chan,

      Ôi, thịt rữa xương tàn phơi rải rác!


      *


      Tại Hà Nội cũng như bao tỉnh khác,

      Những thây ma ngày lết đến càng đông,

      Đem ruồi theo cùng hơi hớm tanh nồng,

      Rồi ngã gục khắc đầu đường cuối ngõ.

      Thường sớm sớm cửa mỗi nhà hé ngỏ

      Rụt rè xem có xác chết nào chăng!

      Từng chiếc xe bò bánh rít khô khan

      Mỗi sáng dạo khắp nẻo đường nhặt xác.

      Xác chồng chất lù lù như đống rác,

      Đó đây thò khô đét một bàn chân

      Hay cánh tay gầy tím ngắt teo răn,

      Giơ chới với như níu làn không khí

      Như cầu cứu, như vẫy người chú ý...

      Có hơi thở tàn thoi thóp chưa thôi,

      Có tiếng cựa mình, tiếng nấc... Những tròng ngươi

      Nhìn đẫm lệ người chôn người chửa chết!

      Bốn ngoạí ô mở ra từng dãy huyệt

      Được lấp đầy bằng xác chết... thường xuyên.

      Ruồi như mây bay rợp cả một miền...

      Chết! Chết! Chết! Hai triệu người đã chết!


      *


      Họ là những người quê non nước Việt,

      Sống cần lao bên ruộng lúa, đồng khoai.

      Lúa xanh rờn nhờ họ đổ mồ hôi,

      Nước Việt sống vì mồ hôi họ đổ.

      Năm ấy, thuở Nhật Tây cùng đô hộ,

      Chúng thi nhau cướp lúa của dân ta.

      Hết lúa rồi, hết sạch cả khoai ngô,

      Hết củ chuối, hết nhẵn khô cả sắn!

      Ngày giáp hạt, không còn chi gậm nhấm,

      Đói cháy lòng, đành nhá cả mo cau,

      Nhai cả bèo và nuốt cả khô dầu!

      Đói! Đói! Đói! Người nhao lên vì đói!

      Đói tự Bắc Giang đói về Hà Nội

      Đói ở Thái Bình đói tới Gia Lâm.

      Tạm biệt quê hương, lê gót âm thầm

      Thân rải rắc mọi nẻo đường đất nước.

      Từng gia đình dắt díu nhau lê bước

      Đi lang thang mong sống tạm qua ngày.

      Đợi lúa lên hương, bông trĩu đầu cây,

      Hơn tháng nữa sẽ hồi cư, sẽ sống!

      Nhưng đau đớn, hỡi ơi là ảo mộng!

      Họ ra đi hy vọng có ngày về!

      Nhưng chẳng bao giờ về nữa, hỡi người yêu

      Dần lả gục khắp đầu đường xó chợ!


      *


      Cùng lúc ấy, cũng nên dường rộn rã,

      Từng đoàn xe chuyên chở thóc vàng tươi.

      Thóc của dân đen, thóc của những người

      Đang chết đói vì thực dân cướp thóc!

      Thóc chúng cướp phần vung xài huy hoắc,

      Phần chúng đem để mục nát trong kho!

      Ôi, đau thương chưa từng thấy bao giờ...

      Trong lịch sử chưa bao giờ từng có!

      Hai triệu người, vì thục dân, lìa bỏ

      Nước thân yêu, oan uổng chết đau thương,

      Trong lúc đầy đồng bát ngát, ở quê hương

      Lúa mơn mởn đang ra đòng trổ trái.

      Lúa trĩu hạt vàng tươi say gấp bội.

      Ngạt ngào thơm báo hiệu ấm no vui.

      Nhưng người đi không về nữa, than ôi!

      Lúa chín gục, chẳng còn ai gặt hái!


      *


      Ta nhớ mãi cái thời kỳ đen tối!

      Quên làm sao tội lỗi kẻ xâm lăng!

      Quên làm sao mối thù hận khôn cùng!

      Quên sao dược hai triệu người chết đói!

      Năm Ất Dậu tháng ba, còn nhớ mãi

      Giống Lạc Hồng cực trải lắm đau thương!

      Những thây ma thất thểu đầy đường,

      Rồi ngã gục không đứng lên vì... đói!


      Đói tự Bắc Giang đói về Hà Nội

      Đói ở Thái Bình đói tới Gia Lâm.


      (Tháng năm 1957)

      (Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, Nguyễn Tấn Long, Nxb Văn Học, 2000)




      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Đói Bàng Bá Lân Thơ

    3. Tho

       

       

        Thơ:

       

       

        Thơ Dịch:

       (Vietnamese Poetry translated into English)

       

      Đàm Trung Pháp & Viên Linh dịch và chú giải:

       

      Vịnh Hai bà Trưng (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)

      Ăn Cỗ Đầu Người (Nguyễn Biểu)

      Đoạt Sáo Chương Dương Độ (Trần Quang Khải)

      Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

      Thề Non Nước (Tản Đà)

      Thi Nhiệt (Lý Đông A)

      Vịnh Tranh Gà Lợn (Vũ Hoàng Chương)

      Gọi Hồn (Viên Linh)

       

      Huỳnh Sanh Thông dịch:

       

      Thăng Long (Nguyễn Du)

      Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du)

      Hồ Hoàn Kiếm (Vô Danh)

      Thăng Long Thành Hoài Cổ

       (Bà Huyện Thanh Quan)

      Chiều Hôm Nhớ Nhà (Bà Huyện Thanh Quan)

      Lên Đèo Hải Vân (Huỳnh Mẫn Đạt)

      Vịnh Bức Dư Đồ Rách (Tản Đà)

      Màu Tím Hoa Sim (Hữu Loan)

      Nhà tôi (Yên Thao)

      Sóng (Xuân Quỳnh)

      Hai Sắc Hoa Tigôn (T.T.Kh.)

       

      Lê Đình Nhất-Lang & Nguyễn Tiến Văn dịch:

       

      Cùng khổ (Bùi Chát)

      Hoa sữa (Bùi Chát)

      Bài thơ một vần (Bùi Chát)

      Đèn đỏ (Bùi Chát)

      Ai? (Bùi Chát)

      Những người đáng trọng & những kẻ đáng khinh

       (Lý Đợi)

       

      Các tác giả khác dịch:

       

      Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi (Nguyễn Đình Toàn)

       (Do Dinh Tuan dịch)

      Bữa Tiệc Hòa Bình (Nguyễn Thị Thanh Bình)

       (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

      Từ Một Cuốn Rún (Nguyễn Thị Thanh Bình)

       (Đinh Từ Bích Thúy dịch)

      Vì Người Ta Cần Ánh Mặt Trời (Nguyễn Đắc Kiên)

       (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

       

        Thơ Cổ:

       

      Những Vần Thơ Xuân Của Vua Trần Nhân Tông (Tạ Quốc Tuấn)

      Về một bài thơ dạy học vào mùa xuân của Trần Quý Cáp (Ngô Thời Đôn)

      Cảnh Đẹp Thành Thăng Long Thời Tây Sơn Qua Thi Ca Đoàn Nguyễn Tuấn (Phạm Trọng Chánh)

      Chinh Phụ Ngâm diễn nôm, một dịch phẩm thần kỳ (Đàm Trung Pháp)

      Các Bài Thơ Nôm Đầu Tiên Trong Văn Học Chữ Nôm (Tuệ Chương)

      Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào? (Trần Từ Mai)

      Đọc lại một số thi phẩm của Phan Châu Trinh (Phan Thành Khương)

      Nhất Chi Mai - Chất Người Muôn Thuở (Phan Trang Hy)

      Ba bài thơ mùa thu của Trần Nhân Tông (Nguyễn Lương Vỵ)

      Ba bài thơ mùa thu của Nguyễn Trãi (Nguyễn Lương Vỵ)

      Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

      Nguyễn Trãi Huyễn-Thực và Sắc-Không (Trần Ngọc Ninh)

      Quá Phong Khê, Một Bài Thơ Kỳ Tuyệt (Phạm Khắc Hàm)

      Giới thiệu Bài Thơ "Trừ Tịch" của Đặng Đức Siêu (Trần Từ Mai)

      Xuân Xưa Thơ Trước, Hồn Ngàn Mùa (Nhiều tác giả)

      Bạch Đằng Giang Phú (Trương Hán Siêu)

      Thuật Hoài (Phạm Ngũ Lão)

      Thuật Hoài (Đặng Dung)

      Lâm Cảng Dạ Bạc (Nguyễn Trãi)

      Ngày Xuân Đọc "Đào Hoa Thi" của Nguyễn Trãi (Trần Uyên Thi)

      Thơ Lý Bạch (Đàm Trung Pháp)

       

        Thơ Tuyển:

       

      Đêm Liên Hoan (Hoàng Cầm)

      Đồng Lầy (Nguyễn Chí Thiện)

      Kịch thơ: Hận Nam Quan (Hoàng Cầm)

       

        Tục ngữ (Proverbs)

       

      Tre già măng mọc

      Đục nước béo cò

      Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng

      Gà một mẹ đá nhau

       

        Danh Ngôn

        Đố vui (Puzzles)

       
       
  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)