1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Tự Điển:

      Việt-Anh-Pháp
      Hán Nôm

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      NAM PHONG - TRI TÂN
      THANH NGHỊ - NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21 - BÁCH KHOA
       

      Sách Xưa

       

      QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ:
      - Lớp Sơ Đẳng - Lớp Đồng Ấu
      - Lớp Dự Bị
       

       

    2. Hai Chữ Nước Nhà (Á Nam Trần Tuấn Khải)
      14-06-2014 | THƠ

      Hai Chữ Nước Nhà

       Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI

      (Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)


          Á Nam Trần Tuấn Khải
          (1895-1983)

      Chốn Ải Bắc mây sầu ảm đạm,

      Cõi trời Nam gió thảm đìu hiu.

      Bốn bề hổ thét chim kêu,

      Ðoái nom phong cảnh như khêu bất bình.


      Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước,

      Chút thân tàn lần bước dặm khơi;

      Trông con tầm tã châu rơi,

      Con ơi! Con nhớ lấy lời cha khuyên:


      Giống Hồng Lạc hoàng thiên đã định,

      Mấy ngàn năm suy thịnh đổi thay.

      Trời Nam riêng một cõi này,

      Anh hùng, hiệp nữ xưa nay kém gì!


      Than vận nước gặp khi biến đổi,

      Ðể quân Minh thừa hội xâm lăng,

      Bốn phương khói lửa bừng bừng,

      Xiết bao thảm họa xương rừng máu sông!


      Nơi đô thị thành tung quách vỡ,

      Chốn dân gian bỏ vợ lìa con,

      Làm cho xiêu tán hao mòn,

      Lạ gì khác giống dễ còn thương đâu!


      Thảm vong quốc kể sao xiết kể!

      Trông cơ đồ nhường xé tâm can.

      Ngậm ngùi đất khóc trời than,

      Thương tâm nòi giống lầm than nỗi này!


      Khói Nùng Lĩnh như xây khối uất,

      Sóng Long Giang nhường vật cơn sầu!

      Con ơi! Càng nói càng đau …

      Lấy ai tế độ đàn sau đó mà?


      Cha xót phận tuổi già sức yếu,

      Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,

      Thân lươn bao quản vũng lầy,

      Giang sơn gánh vác sau này cậy con.


      Con nên nhớ tổ tông khi trước,

      Ðã từng phen vì nước gian lao,

      Bắc Nam bờ cõi phân mao

      Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây.


      Kìa Trưng nữ ra tay buồm lái,

      Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,

      Giết giặc nước, trả thù chồng,

      Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.


      Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến,

      Vì giống nòi huyết chiến bao phen,

      Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên,

      Gươm reo chính khí nước rền dư uy.


      Coi lịch sử gương kia còn tỏ,

      Mở dư đồ đất nọ chưa tan.

      Giang san này vẫn giang san,

      Mà nay xẻ nghé tan đàn vì ai?


      Con nay cũng một người trong nước,

      Phải nhắc cân Gia, Quốc đôi đường,

      Làm trai hồ thỉ bốn phương,

      Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng.


      Thời thế có anh hùng là thế,

      Chữ vinh hoa sá kể làm chi!

      Mấy trang hào kiệt xưa kia,

      Hy sinh thân thế cũng vì nước non.


      Con đương độ đầu son tuổi trẻ,

      Bước cạnh tranh há dễ nhường ai?

      Phải nên thương lấy giống nòi,

      Đừng tham phú quí mà nguôi tấc lòng.


      Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,

      Thân tự do chiên chúc * mà vinh.

      Con ơi! Nhớ đức sinh thành,

      Sao cho khỏi để ô danh với đời.


      Chớ lần lửa theo loài nô lệ,

      Bán tổ tiên kiếm kế sinh nhai,

      Đem thân đày đọa tôi đòi,

      Nhục nhằn bêu riếu muôn đời hay chi?


      Sống như thế, sống đê, sống mạt,

      Sống làm chi thêm chật non sông!

      Thà rằng chết quách cho xong,

      Cái thân cẩu trệ ai mong có mình!


      Huống con cũng học hành khôn biết,

      Làm giống người phải xét nông sâu.

      Tuồng chi gục mặt cúi đầu,

      Cam tâm làm kiếp ngựa trâu cho đành!


      Nỗi tâm sự đinh ninh nhường ấy,

      Cha khuyên con có bấy nhiêu lời,

      Con ơi! Con phải là người,

      Thì con theo lấy những lời cha khuyên.


      Cha nay đã muôn nghìn bi thảm,

      Nói bao nhiêu tâm khảm càng đau!

      Chân mây mặt cỏ rầu rầu,

      Càng trông cố quốc mạch sầu càng thương!


      Lời cha dặn khắc xương để dạ,

      Mấy gian lao con chớ sai nguyền,

      Tuốt gươm thề với vương thiên,

      Phải đem tâm huyết mà đền cao sâu.


      Gan tráng sĩ vững sau như trước,

      Chí nam nhi lấy nước làm nhà,

      Tấm thân xẻ với san hà,

      Tượng đồng bia đá họa là cam công.


      Nữa mai mốt giết xong thù nghịch,

      Mũi Long tuyền lau sạch máu tanh,

      Làm cho đất rộng trời kinh,

      Bấy giờ quốc hiển gia vinh có ngày!


      Nghĩa vụ đó, con hay chăng tá?

      Tính toán sao vẹn cả đôi đường.

      Cha dù đất khách gởi xương,

      Trông về cố quốc khỏi thương hồn già.


      Con ơi! Hai chữ Nước Nhà.


      (Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, Nguyễn Tấn Long, Nxb Văn Học, 2000)


      (*) Chiên chúc nghĩa là rau cháo (coi Tuyển tập thơ văn Á Nam, trang 20)



      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Hai Chữ Nước Nhà Trần Tuấn Khải Thơ

    3. Tho

       

       

        Thơ và Bài viết về Thơ:

       

      Xuân Hoài (Trần Yên Hòa)

      Bài tình, ngày tình nhân (Trần Yên Hòa)

      Thơ lục bát còn, tiếng Việt còn (Lê Hữu)

      Tản mạn về bài thơ kỷ vật cho em (Linh Phương)

      Tết Xuân này em có về qua ngõ nhà anh? (Xuân Thao)

       

        Thơ Dịch:

       (Vietnamese Poetry translated into English)

       

      Đàm Trung Pháp & Viên Linh dịch và chú giải:

       

      Vịnh Hai bà Trưng (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)

      Ăn Cỗ Đầu Người (Nguyễn Biểu)

      Đoạt Sáo Chương Dương Độ (Trần Quang Khải)

      Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

      ......

      Huỳnh Sanh Thông dịch:

       

      Thăng Long (Nguyễn Du)

      Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du)

      Hồ Hoàn Kiếm (Vô Danh)

      Thăng Long Thành Hoài Cổ

       (Bà Huyện Thanh Quan)

      ......

      Lê Đình Nhất-Lang & Nguyễn Tiến Văn dịch:

       

      Cùng khổ (Bùi Chát)

      Hoa sữa (Bùi Chát)

      Bài thơ một vần (Bùi Chát)

      ......

      Các tác giả khác dịch:

       

      Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi (Nguyễn Đình Toàn) (Do Dinh Tuan dịch)

      Bữa Tiệc Hòa Bình (Nguyễn Thị Thanh Bình) (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

      Từ Một Cuốn Rún (Nguyễn Thị Thanh Bình) (Đinh Từ Bích Thúy dịch)

      ......

        Thơ Cổ:

       

      Những Vần Thơ Xuân Của Vua Trần Nhân Tông (Tạ Quốc Tuấn)

      Về một bài thơ dạy học vào mùa xuân của Trần Quý Cáp (Ngô Thời Đôn)

      Cảnh Đẹp Thành Thăng Long Thời Tây Sơn Qua Thi Ca Đoàn Nguyễn Tuấn (Phạm Trọng Chánh)

      Chinh Phụ Ngâm diễn nôm, một dịch phẩm thần kỳ (Đàm Trung Pháp)

      Các Bài Thơ Nôm Đầu Tiên Trong Văn Học Chữ Nôm (Tuệ Chương)

      Ngày Xuân Đọc "Đào Hoa Thi" của Nguyễn Trãi (Trần Uyên Thi)

      Thơ Lý Bạch (Đàm Trung Pháp)

       

        Thơ Tuyển:

       

      Văn Tế tại lễ khai giảng huấn luyện – tu nghiệp sư phạm (Trần Huy Bích)

      Ngọn lửa Prométhé (Nguyễn Phan Thịnh)

      Văn tế tử sĩ Gạc ma (Kha Tiệm Ly)

      Thủy Tang (Viên Linh)

      Khói Trắng (Kiên Giang)

        Trang Thơ các Tác Giả:

       

      Chu Trầm Nguyên Minh,  Mai Trung Tĩnh,  Ngọc Dũng,  Nguyễn Bá Trác,  Nguyễn Bắc Sơn,  Nguyễn Du,  Nguyễn Nho Nhượn,  Nguyễn Thị Thanh Bình,  Nhiều tác giả,  Phạm Cao Hoàng,  

       

        Tục ngữ (Proverbs)

       

      Tre già măng mọc

      Đục nước béo cò

      Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng

      Gà một mẹ đá nhau

       

        Danh Ngôn

        Đố vui (Puzzles)

       
       
  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)