Head



 

 

Thơ Tiền Chiến (Nhiều Tác Giả)

01-12-2013 | THƠ

THƠ TIỀN CHIẾN


Tống Biệt (Tản Đà)         Gửi Trương Tửu (Nguyễn Vỹ)     Màu Thời Gian (Đoàn Phú Tứ)

Anh Biết Em Đi... (Thái Can)  Mòn Mỏi (Thanh Tịnh)         Những Ngày Nghỉ Học (Tế Hanh)

Tình Quê (Hàn Mặc Tử)   Về Thăm Nhà Cảm Tác (Quách Tấn)  Chùa Hương (Nguyễn Nhược Pháp)

Nắng Mới (Lưu Trọng Lư)            Tràng Giang (Huy Cận)     Lời Kỹ Nữ (Xuân Diệu)

Trên Đường Về (Chế Lan Viên) Nhớ Rừng (Thế Lữ)            Bến My Lăng (Yến Lan)

Tỳ Bà (Bích Khê)              Nghỉ Hè (Xuân Tâm)                       Tống Biệt Hành (Thâm Tâm)

Tương Tư (Nguyễn Bính)  Tiếng Việt Miền Nam (Bàng Bá Lân)    Mưa (Anh Thơ)

Trăng Hè (Đoàn Văn Cừ)  Nét Nhìn Rạng Đông (Tuệ Mai)   Từ Giã Tuyên Quang (Nhượng Tống)

Dặm Về (Nguyễn Đình Tiên)



TỐNG BIỆT

 

TẢN ĐÀ

   Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939): hiệu Tản Đà, người xã Khê thượng, huyện
Bất bạt, tỉnh Sơn-tây, vốn theo Nho học và có đi thi hương; sau khi hỏng khoa
Nhâm-tí (1912), ông bắt đầu viết quốc-văn. Năm 1924, ông làm chủ-bút Hữu
thanh tạp-chí trong ít lâu, năm 1926, ông đứng chủ-trương tờ Annam tạp-chí
(đình bản hẳn năm 1933).
   Tác-phẩm: Vận-văn: Khối tình con, q, I. II và III, - Tiểu thuyết: Giấc mộng con,
Giấc mộng con thứ hai, Giấc mộng lớn, Thần tiên, Thề non nước, Trần ai tri
kỷ; - Luận-thuyết: Khối tình, Bản chính và bản phụ; - Giáo khoa: Lên sáu, Lên
tám, Đài gương, Quốc-sử huấn mông; - Phiên-dịch: Đại học, Kinh thi, q. thứ
nhất gồm có Chu nam, Thiệu nam, Bội dung và Vệ, Đàn bà Tàu. Liêu trai chí dị
(dịch được 40 truyện), v.v...
 (Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Dương Quảng Hàm)


   Tản Đà (1889-1939)

Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai,

Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi.

Nửa năm tiên cảnh,

Một bước trần ai.

Ước cũ duyên thừa có thế thôi.

Đá mòn, rêu nhạt,

Nước chảy, hoa trôi,

Cái hạc bay lên vút tận trời!

Trời đất từ nay xa cách mãi.

Cửa động,

Đầu non,

Đường lối cũ,

Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.


Tản Đà

(1889-1939)

KHẢO LUẬN:


Ông là một nhà nho mà lại có biệt tài về thơ ca. Vì đường công-danh trắc-trở, thân-thế long đong, nên thơ ông thường tả nỗi uất-ức buồn chán, nhưng nỗ uất ức ấy không đưa ông đến nỗi thất-vọng, lại khiến ông có những tư-tưởng phóng-khoáng tự-do, biết trọng sự thanh-cao trong cảnh bần-bách, biết tự hào về nỗi nghèo khổ của mình.


Người ta hơn tớ cái phong lưu,

Tớ cũng hơn ai cái sự nghèo.

(Sự nghèo trong Khối tình con, quyển thứ II)


Chính cái lòng tự-hào ấy khiến ông có những mộng-tưởng ngông-cuồng như cái ngông "Muốn làm thằng cuội" để được làm bạn với chị Hằng. Cái ngông muốn làm chim nhạn để được bay bổng trên từng không:


Kiếp sau ai chớ làm người,

Làm đôi chim nhạn tung trời mà bay.

Tuyệt mù bể nước non mây,

Bụi hồng tronq thẳm như ngày chưa xa.

(Hát nói trong Khối tình con I)


Ông thích rượu vì uống rượu là một cách để quên nỗi buồn và cũng là một nguồn thi-hứng:


Rưọu thơ mình lại với mình,

Khi vui quên cả cái hình phù-du.

Trăm năm thơ túi rượu vò,

Nghìn năm thi-ĩ tửu đồ là ai?

(Còn chơi)


Công-danh sụ-nghiệp mặc đời,

Bên thời be rượu, bên thời bài thơ.

(Tản Đà xuân sắc, 1935)


Nhiều khi ông cũng mỉa mai người đời một cách chua cay:

Thối om sọt phẩn! nhiều cô gánh;

Tanh ngắt hơi đồng! lắm cậu yêu.

Quần tía đùi non anh chiệc vỗ;

Rừng xanh cây quế chú mường leo.

(Sự đời trong Khối tình con II)


Nhưng ông lại có một cái lòng yêu thương man-mác, vẩn- vơ khiến ông "nhớ chị hàng cau", thương cô "chài đánh cá", rồi đến "vẻ bâng quơ", đến viết "thư đưa người tình nhân không quen biết"; làm cho ông khi trông thấy "mả cũ bên đường" (*) mà thương xót thay cho số phận những người đã gặp cảnh long-đong hoặc bước phong-trần.


Chính cái tình-cảm ấy khiến ông rất hiểu thấu tính-tình mộc-mạc giản-dị của người thường-dân; nên nhiều bài ca-dao của ông thật không khác gì những lời ngâm-nga than-thở tự thâm-tâm người dân Việt-nam thổ-lộ ra vậy.

Lời thơ ông lại có một cái giọng điệu nhẹ-nhàng du-dương; cách dùng chữ (thường dùng tiếng nôm) và đặt câu lại uyển- chuyển, êm-đềm, nên thơ ông khiến cho người đọc dễ cảm-động say mê, ông thực là một thi sĩ có tính cách Việt Nam thuần túy vậy.

(Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Dương Quảng Hàm, Nxb Xuân Thu)


(*) Những chữ in trong hai dấu ngoặc kép, đều là đề-mục những bài thơ ca trong Khối tình con.




GỬI TRƯƠNG TỬU

 

NGUYỄN VỸ

Viết trong lúc say


"Gửi Trương Tửu" mới thật là kiệt tác của Nguyễn Vỹ...
Nguyễn Vỹ đã làm bài thơ này trong một lúc vô cùng buồn giận vì cái nghiệp
văn chương. Những ai cùng một cảnh huống xem thơ tưởng có thể khóc lên
được. Trong lời văn còn có chút nghênh ngang từ đời xưa lưu lại...
 (Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh & Hoài Chân)


   Nguyễn Vỹ (1912-1971)

Nay ta thèm rượu nhớ mong ai!

Một mình rót uống chẳng buồn say!

Trước kia hai thằng hết một nậm,

Trò chuyện dông dài mặt đỏ sẫm.

Nay một mình ta, một be con:

Cạn rượu rồi thơ mới véo-von!


*


Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác,

Mà coi đồng tiền như cái rác!

Kiếm được xu nào đem tiêu hoang,

Rủ nhau chè chén nói huynh-hoang,

Xáo lộn văn-chương với chả cá,

. . . .

Rồi ngủ một đêm, mộng với mê,

Sáng dậy nhìn nhau cười hê-hê!!


*


Thời-thế bây giờ vẫn thấy khó,

Nhà văn An-nam khổ như chó!

Mỗi lần cầm bút nói văn chương,

Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương,

Và nhìn chúng mình hì-hục viết,

Suốt mấy năm giời kiết vẫn kiết,

Mà thương cho tôi, thương cho anh,

Đã rụng bao nhiêu mớ tóc xanh!

Bao giờ chúng mình thật ngất-ngưởng?

Tôi làm Trạng-nguyên, anh Tể tướng?

Và anh bên võ, tôi bên văn,

Múa bút tung gươm hả một phen?

. . . .

Chứ như bây giờ là trò chơi,

Làm báo làm bung chán mớ đời!

Anh đi che tàn một lũ ngốc,

Triết-lý con tiều, văn chương cóc! (1)

Còn tôi bưng thúng theo đàn bà,

Ra chợ bán văn, ngày tháng qua! (2)


*


Cho nên tôi buồn không biết mấy!

Đời còn nhố-nhăng ta chịu vậy!

Ngồi buồn lấy rượu uống say-sưa,

Bực chí thành say mấy cũng vừa!

Mẹ cha cái kiếp làm thi-sĩ!

Chơi nước cờ cao lại gặp bĩ!

Rồi đâm ra điên, đâm vẫn vơ,

Rút cục chỉ còn mộng với mơ!

Viết rồi hãy còn say

(Phụ Nữ)

Nguyễn Vỹ

(1912-1971)
nguồn: Thi Nhân Việt Nam
(Hoài Thanh & Hoài Chân)



(1&2) Hồi bấy giờ Trương Tửu viết giúp báo Ích Hữu của Lê Văn Trương; Nguyễn Vỹ giúp báo Phụ Nữ của bà Nguyễn Thị Thảo.



MÀU THỜI GIAN (1)

 

ĐOÀN PHÚ TỨ

Sinh ngày 10-9-1910 ở Hà Nội. Học ở Hà Nội. Có bằng Tú tài Tây.
Viết văn từ năm 1925, lúc còn học lớp nhất. Những bài văn đầu tiên là những
bài từ - khúc đăng báo Đông Pháp. Sau này thỉnh thoảng viết giúp Phong Hóa,
Ngày Nay. Năm 1937, chủ trương tờ Tinh Hoa. Chuyên viết kịch. Làm thơ rất ít.
 (Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh & Hoài Chân)


   Đoàn Phú Tứ (1910 - 1989)

Sớm nay tiếng chim thanh

Trong gió xanh

Dìu vương hương (2) ấm thoảng xuân tình


Ngàn xưa không lạnh nữa, Tần-phi (3)

Ta lặng dâng nàng

Trời mây phảng-phất nhuốm thời-gian (4)


Màu thời-gian không xanh

Màu thời-gian tím ngát (5)

Hương thời-gian không nồng

Hương thời-gian thanh thanh (6)


Tóc mây một món chiếc dao vàng (7)

Nghìn trùng e lệ phụng (8) quân-vương

Trăm năm tình cũ lìa không hận

Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng (9)


Duyên trăm năm dứt đoạn

Tình một thủa còn hương

Hương thời-gian thanh thanh

Màu thời gian tím ngát (10).

(Ngày nay)

Đoàn Phú Tứ

(1910 - 1989)
nguồn: Thi Nhân Việt Nam
(Hoài Thanh & Hoài Chân)

CHÚ:


(l) Không ai ngờ một cái đầu-đề có tính cách triết học như thế lại dùng để nói một câu chuyện tâm tình.

(2) Hãy để ý cái âm-điệu vương vấn của mấy chữ này.

(3) Thi-nhân mượn sự tích người xưa để giữ vẻ kín- đáo cho câu chuyện. Xưa có người cung phi, nàng Lý phu-nhân, lúc gần mất nhất định không cho vua Hán Võ đế xem mặt, sợ trông thấy nét mặt tiều tụy vua sẽ hết yêu. Cái tên Tần-phi thi-nhân đặt ra vì một lẽ riêng.

Ngàn xưa không lạnh nữa; Chuyện xưa đã hậu quên nay nhớ lại lòng lại thấy nôn-nao.

(4) Thi-nhân muốn nói dâng hồn mình cho người yêu. Song nói như thế sẽ sỗ sàng quá. Vả người thấy mình không có quyền nói thế, vì tình yêu ở đây chưa từng được san-sẻ. Nên phải mượn cái hình - ảnh "trời mây phảng phất nhuốm thời gian" để chỉ hồn minh. Chữ "nhuốm" có vẻ nhẹ-nhàng không nặng-nề như chữ "nhuộm". Chữ "dâng" hơi kiểu cách.

(5) Người Pháp thường bảo thời-gian màu xanh. Nhưng thi nhân nhớ lại thời xưa, hồi người đương yêu, cứ thấy màu thời~gian tím ngát vì người riêng thích một thứ hoa tím, và màu hoa lẫn với màu yêu.

(6) Hương thời gian là hương thứ hoa kia mà cũng là hương yêu, một thứ tình yêu qua đã lâu rồi, nên chỉ thấy thanh sạch, nhẹ nhàng.

(7) Nàng Dương quý-phi lúc mới vào cung, tính hay ghen, bị Đường Minh hoàng đưa giam một nơi. Nhưng nhà vua nhớ quá sai Cao lực sĩ ra thăm. Dương quý phi cắt tóc gửi vào dâng vua. Vua trông thấy tóc, thương quá, lại vời nàng vào cung.

Đoàn Phú Tứ hợp chuyện này và chuyện Lý phu- nhân làm một và tưởng tượng một người cung-phi lúc gần mất không chịu để vua xem mặt chỉ cắt tóc dâng, gọi là đáp lại muôn một mối tình trìu-mến của đấng qnân-vương.

Ở đây không có chuyện cắt tóc nhưng có chuyện khác cũng tương-tự như vậy.

(8) Chữ "phụng" rất kín đáo, chữ "dâng" sẽ quá xa với chữ "tặng" quá sưồng sã.

(9)Ý nói: thà phụ-lòng mong-mỏi của chàng, còn hơn gặp chàng trong lúc dung nhan tiều tụy để di hận về sau.

(10) Tím ngát tả đúng mối tình dìu dịu. Tím "ngắt" sẽ đau đớn quá.


BÌNH:


Nói về toàn thể nên chú ý đến điệu thơ. Bài thơ bắt đầu bằng những câu dài ngắn không đều: âm-điệu hoàn toàn mới. Kế đến bốn câu ngũ-ngôn cổ-phonq, một lối thơ cũ mà các thi-nhân gần đây cũng thường dùng. Bỗng chuyển sang thất-ngôn: điệu thơ hoàn toàn xưa. Lời thơ cũng xưa với những chữ "phụng quân vương" và những chữ lấy lại ở câu Kiều: "tóc mây một món dao vàng chia hai". Nhưng với hai câu thất ngôn dưới thi-nhân đã từ chuyện người xưa trở về chuyện mình. Những chữ "thiếp phụ chàng" đưa dần về hiện-tại. Rồi điệu thơ trở lại ngũ-ngôn với hương- màu trên kia.


Thành ra ý thơ, lời thơ, điệu thơ cùng với hồn thi nhân đi từ hiện tại về quá khứ, từ quá khứ gần đến quá khứ xa, rồi dần dần trở về hiện tại. Hiện tại chỉ mờ mờ nhạt nhạt, nhưng càng đi xa về quá khứ, câu thơ càng thiết-tha, càng rực-rỡ. Nhất là từ chỗ ngũ- ngôn chuyển sang thất ngôn câu thơ đẹp vô cùng. Tôi tưởng dầu không hiểu ý-nghĩa bài thơ người ta cũng không thể không nhận thấy cái vẻ huy hoàng, trang- trọng của câu thơ (*).

Trong thơ ta có lẽ không có bài nào khác tinh-tế và kín đáo như thế.

(Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh & Hoài Chân)


(*) Nhạc-sĩ Nguyễn Xuân Khoát có đưa phả bài thơ này vào đàn. Đoạn đầu bài nhạc đi rất mau, rồi chậm dần. Đến đoạn thất ngôn nhạc lên giọng majestuoso. Cuối cùng còn thêm một đoạn láy lại âm địệu mấy câu đầu.



ANH BIẾT EM ĐI...

 

THÁI CAN

  Sinh ngày 22-10-1910 Ở Văn Lâm, Phủ Đức Thọ (Hà Tĩnh).
Học: trường phủ, trường Vinh, trường Bảo Hộ, trường Thuốc Hà Nội.
Tốt-nghiệp y-khoa bác-sĩ năm 1940.
  Thơ Thái Can phần nhiều đã đăng ở Phong Hóa, Tiểu Thuyết Thứ Bảy,
Hà Nội báo, Văn Học tạp chí 1935. . Những bài thơ đầu (ký Th. C) đã in
trong quyển Những nét đan thanh, Ngân-sơn tùng-thư, Huế, xuất bản 1934.
 (Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh & Hoài Chân)

Anh biết em đi chẳng trở về

Dặm ngàn liễu khuất với sương che.

Em đừng quay lại nhìn anh nữa:

Anh biết em đi chẳng trở về.


Em nhớ làm chi tiếng ái ân.

Đàn xưa đã lỡ khúc dương cầm.

Dây loan chẳng đượm tình âu yếm,

Em nhớ làm chi tiếng ái ân.


Bên gốc thông già ta lỡ ghi

Tình ta âu yếm lúc xuân thì.

Em nên xóa dấu thề non nước

Bên gốc thông già ta lỡ ghi


Chẳng phải vì anh, chẳng tại em:

Hoa thu tàn tạ rụng bên thềm.

Ái tình sớm nở chiều phai rụng:

Chẳng phải vì anh chẳng tại em.


Bể cạn, sao mờ, núi cũng tan.

Tình kia sao giữ được muôn vàn …

Em đừng nên giận tình phai lạt:

Bể cạn, sao mờ, núi cũng tan.


Anh biết em đi chẳng trở về

Dặm ngàn liễu khuất với sương che.

Em đừng quay lại nhìn anh nữa:

Anh biết em đi chẳng trở về.


Thái Can

(1910- 1998)
nguồn: Thi Nhân Việt Nam
(Hoài Thanh & Hoài Chân)



MÒN MỎI (*)

 

THANH TỊNH

   Họ Trần. Sinh ngày 12-12-1913 ở làng Dưỡng Nỗ (Thừa Thiên). Học: trường
Đông Ba, trường Pellerin (Huế). Có bằng thành-chung.
   Đã viết giúp: Phong Hóa, Này Nay, Hanoi báo, Tiểu Thuyết Thứ Năm,
Tinh Hoa... Đã xuất bản: Hận chiến trường (1936).
 (Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh & Hoài Chân)


   Thanh Tịnh (1913-1988)

- Em ơi nhẹ cuốn bức rèm tơ

Tìm thử chân mây khói tỏa mờ

Có bóng tình quân muôn dặm ruổi

Ngựa hồng tuôn bụi cõi xa mơ.


- Xa nhìn bên cõi trời mây

Chị ơi, em thấy một cây liễu buồn.


- Bên rừng em hãy lặng nhìn theo,

Có phải chăng em ngựa xuống đèo?

Chị ngỡ như chàng lên tiếng gọi

Trên mình ngựa hí, lạc vang reo.


- Bên rừng ngọn gío rung cây,

Chị ơi, con nhạn lạc bầy kêu sương.


- Tên chị ai gieo giữa gió chiều,

Phải chăng em hỡi tiếng chàng kêu?

Trên giòng sông lặng em nhìn thử

Có phải chăng người của chị yêu?


- Sóng chiều đùa chiếc thuyền lan,

Chị ơi, con sáo gọi ngàn bên sông...

Ô kìa! Bên cõi trời Đông

Ngựa ai còn ruổi dặm hồng xa xa.


- Này lặng em ơi, lặng lặng nhìn

Phải chăng mình ngựa sắc hồng in.

Nhẹ nhàng em sẽ buông rèm xuống,

Chị sợ trong sương bóng ngựa chìm.


- Ngựa hồng đã đến bên hiên,

Chị ơi, trên ngựa chiếc yên... vắng người!


Thanh Tịnh

(1913-1988)
nguồn: Thi Nhân Việt Nam
(Hoài Thanh & Hoài Chân)


(*) Phỏng theo chuyện "Barbe bleue" của Perrault. Nhưng Thanh Tịnh đã tạo ra một không khí rất Á Đông.



NHỮNG NGÀY NGHỈ HỌC

 

TẾ HANH

  Họ Trần. Sinh ngày 15-5 năm Tân Dậu (1921) ở làng Đông-yên, phủ Bình-sơn
(Quảng Ngãi). Chánh quán: làng Giao-thủy, cách làng kia mà con sông. Đậu
sơ-học rồi ra Huế học trường Khải Định, ở đó quen Huy Cận.
  Bài thơ trích sau đây rút trong tập Nghẹn Ngào đã được giải khuyến-khích
của Tự-lực văn-đoàn năm 1939.
 (Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh & Hoài Chân)


   Tế Hanh (1921-2009)

Những ngày nghỉ học tôi hay tới,

Đón chuyến tầu đi đến những ga.

Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt,

Lòng buồn đau xót nỗi chia xa.


Tôi thấy tôi thương những chiếc tầu,

Ngàn đời không đủ sức đi mau,

Có chi vương víu trong hơi máy,

Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau.


Bánh nghiến lăn lăn quá nặng nề!

Khói phì như nghẹn nỗi đau tê.

Lâu lâu còi rúc nghe buồn bã,

Lòng của người đi réo kẻ về.


Kẻ về không nói, bước vương vương.

Thương nhớ lan xa mấy dặm đường.

Lẽo đẽo tôi về theo bước họ,

Tâm hồn ngơ ngẩn nhớ muôn phương.

(Nghẹn Ngào)


Tế Hanh

(1921-2009)
nguồn: Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên III
(Phạm Thế Ngũ)

KHẢO LUẬN:


Tế Hanh tuy thơ (tập Nghẹn ngào) được giải thưởng văn chương Tự lực cuối 1940, nhưng trước đó đã có bài đăng trên Ngày Nay. Tế Hanh chịu ảnh hưởng rõ rệt của Xuân Diệu nhất là Huy Cận, thiên về cảm giác chủ nghĩa, ghi nhận những rung động phức tạp của một tâm hồn đa cảm:


Chiều chiều đến tựa người bên cửa sổ

Đợi hồn nào trở lại bên sông,

Hay nghe ngóng ý gì trong tiếng gió.

(Nghẹn ngào)


Tế Hanh cũng lo sống vội, cố chứa chất những cảm giác:


Mắt mở to luôn chứa chứa nhiều

Những hình ẻo lả, sắc xiêu xiêu

Tai bên thinh thính lo thâu góp

Những điệu ly sầu, tiếng tịch liêu.

(Chứa chất)


Nhưng ông không hoang phi gởi hương cho gió tứ tung như Xuân Diệu mà là Người hà tiện, hướng vào trong nuôi lấy một tâm hồn "triệu phú" cô độc. Nhất Linh chấm thơ ông khen hai bài Quê hươngNhững ngày nghỉ học có thể gọi là hai bài thơ hay của thi ca Việt Nam và hai bài đó đủ xác định giá trị của nhà thơ Tế Hanh".

(Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên III, Nxb Đại Nam)




TÌNH QUÊ

 

HÀN MẶC TỬ

  Chính lên là Nguyễn Trọng Trí. Sinh ngày 22-9-1912 ở Lệ Mỹ (Đồng-Hới), mất
ngày 11-11-1940. Trú ngụ ở Qui Nhơn từ nhỏ. Nhà nghèo, cha mất sớm. Học
trường Qui Nhơn đến năm thứ ba. Làm sở Đạc điền một độ, bị đau rồi mất việc.
Vào Nam làm báo ít lâu lại trở về Qui Nhơn. Kế đó mắc bệnh hủi, đưa vào nhà
thương Qui Hòa rồi mất ở đó.
Làm thơ từ ngày mười sáu tuổi (lấy hiệu là Phong-trần rồi Lệ-thanh). Đến năm
1936, khi chủ-trương tờ phụ-trương văn chương báo Saigon mới đổi hiệu là
Hàn Mặc Tử.
   Đã đăng thơ: Phụ nữ tân văn, Saigon, Trong khuê-phòng, Đông-dương tuần
báo, Người mới. Đã xuất-bản: Gái quê (1936).


   Hàn Mặc Tử (1912-1940)

Trước sân anh thơ thẩn,

Đăm đăm trông nhạn về;

Mây chiều còn phiêu bạt

Lang thang trên đồi quê;

Gió chiều quên ngừng lại;

Giòng nước luôn trôi đi...

Ngàn lau không tiếng nói:

Lòng anh dường đê mê,

Cách nhau ngàn vạn dặm,

Nhớ chi đến trăng thề;

Dầu ai không mong đợi,

Dầu ai không lắng nghe

Tiếng buồn trong sương đục,

Tiếng hờn trong lũy tre,

Dưới trời thu man mác,

Bàng bạc khắp sơn khê,

Dầu ai trên bờ liễu,

Dầu ai dưới cành lê...

Với ngày xanh hờ hững,

Cố quên tình phu thê,

Trong khi nhìn mây nước,

Lòng xuân cũng não nề...

(Gái Quê)

Hàn Mặc Tử

(1912-1940)
nguồn: Thi Nhân Việt Nam
(Hoài Thanh & Hoài Chân)



VỀ THĂM NHÀ CẢM TÁC

 

QUÁCH TẤN

   Sinh ngày 23-11 năm Kỷ-dậu (24 Janvier 1910) ở làng Trường-định, huyện
Bình-khê (Bình-định). Ông thân là người Tây học, bà thân là người Hán học.
Bắt đầu học chữ Hán, năm 11 tuổi mới học chữ quốc-ngữ. Học trường Qui
nhơn. Có bằng thành-chung.
   Đã xuất bản: Một tấm lòng (1939), Mùa cổ điển (1941).


   Quách Tấn (1910 - 1992)


Quê người dong ruổi bấy nhiêu lâu,

Vườn cũ về thăm cảnh dãi dầu!

Trống trải ba gian nhà nhện choán,

Ngửa nghiêng bốn mặt giậu bìm leo!

Cội tùng bóng ngả sương rơi lệ!

Ngõ trúc mây che cuốc giục sầu! (*)

Lẳng lặng bên thềm ôn chuyện cũ...

Giật mình ngỡ đến chốn nào đâu?



Quách Tấn

(1910 - 1992)
nguồn: Thi Nhân Việt Nam
(Hoài Thanh & Hoài Chân)


(*) Cội tùng: Một cảnh trong vườn. Câu này có mượn ý câu ca dao:

Một mai bóng ngả cội tùng

Mũ rơm ai đội áo mùng ai mang.

Ngõ trúc: Một cảnh trong vườn. Câu này có mượn ỷ câu:

Nghe con sắp được nghỉ hè

Thẩn thơ ngõ trúc rào tre trông chừng.

trong bài ca "Nhớ Con" của bà thân chúng tôi. (Lời chú của Quách Tấn)



CHÙA HƯƠNG

 

NGUYỄN NHƯỢC PHÁP

   Nguyễn Nhược Pháp (1914-1938)
Nhà thơ, con nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh, em Nguyễn Giang, sinh ngày 12-12-
1914. Quê làng Phượng Vũ, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay thuộc TP.
Hà Nội). Ông đỗ tú tài Pháp, theo học Ban Luật trường Cao đẳng Pháp chính
Hà Nội. Ông làm thơ và viết bài cho các báo: Hà Nội báo, Đông Dương tạp chí
(bộ mới), Tinh hoa, Ngày nay và báo An Nam Nouveau (tiếng Pháp). Các bài
phóng sự, truyện ngắn, kịch của ông có giá trị nghệ thuật và văn chương.
Ngày 19-11-1938 ông mất, mới 24 tuổi.
   Các tác phẩm chính: - Ngày xưa (tập thơ, in năm 1935) - Người học vẽ (kịch
vui 1936)
   Ngày nay, những bài thơ Chùa Hương, Đi cống, Sơn Tinh Thủy Tinh ai cũng
cảm nhận thi tài duyên dáng và đều thương tiếc ông sớm mất.
   Trong bộ Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh bình phẩm rất xác đáng: "Thơ in ra
rất ít mà được người ta yêu mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược
Pháp"(Văn Thi Sĩ Tiền Chiến, Nguyễn Vỹ)

(Thiên ký sự của một cô bé ngày xưa)



   Nguyễn Nhược Pháp (1914-1938)

Hôm nay đi Chùa Hương,

Hoa cỏ mờ hơi sương.

Cùng thầy me em dậy,

Em vấn đầu soi gương.


Khăn nhỏ, đuôi gà cao,

Em đeo giải yếm đào;

Quần lĩnh, áo the mới,

Tay cầm nón quai thao.


Me cười: "Thầy nó trông!

Chân đi đôi dép cong,

Con tôi xinh xinh quá!

Bao giờ cô lấy chồng?"


- Em tuy mới mười lăm

Mà đã lắm người thăm,

Nhờ mối mai đưa tiếng,

Khen tươi như trăng rằm.


Nhưng em chưa lấy ai,

Vì thầy bảo người mai

Rằng em còn bé lắm!

(Ý đợi người tài trai).


Em đi cùng với me.

Me em ngồi cáng tre,

Thầy theo sau cưỡi ngựa,

Thắt lưng dài đỏ hoe.


Thầy me ra đi đò,

Thuyền mấp mênh bên bờ.

Em nhìn sông nước chẩy,

Đưa cánh buồm lô nhô.


Mơ xa lại nghĩ gần,

Đời mấy kẻ tri âm?

Thuyền nan vừa lẹ bước,

Em thấy một văn nhân.


Người đâu thanh lạ thường!

Tướng mạo trông phi thường.

Lưng cao dài, trán rộng.

Hỏi ai nhìn không thương?


Chàng ngồi bên me em,

Me hỏi chuyện làm quen:

"Thưa thầy đi chùa ạ?

Thuyền đông, trời ôi, chen!"


Chàng thưa: "Vâng, thuyền đông!"

Rồi ngắm trời mênh mông,

Xa xa mờ núi biếc,

Phơn phớt áng mây hồng.


Dòng sông nước đục lờ.

Ngâm nga chàng đọc thơ.

Thầy khen: "Hay! Hay quá!"

Em nghe rồi ngẩn ngơ.


Thuyền đi, Bến Đục qua.

Mỗi lúc gặp người ra,

Thẹn thùng em không nói:

"Nam vô A-Di-Đà!"


Réo rắt suối đưa quanh.

Ven bờ, ngọn núi xanh,

Nhịp cầu xa nho nhỏ.

Cảnh đẹp gần như tranh.


Sau núi Oản, Gà, Xôi,

Bao nhiêu là khỉ ngồi.

Tới núi con Voi phục,

Có đủ cả đầu đuôi.


Chùa lấp sau rừng cây.

(Thuyền ta đi một ngày)

Lên cửa chùa em thấy

Hơn một trăm ăn mày.


Em đi, chàng theo sau.

Em không dám đi mau,

Ngại chàng chê hấp tấp,

Số gian nan không giàu.


Thầy me đến điện thờ,

Trầm hương khói tỏa mờ.

Hương như là sao lạc,

Lớp sóng người lô nhô.


Chen vào thật lắm công.

Thầy me em lễ xong,

Quay về nhà ngang bảo:

"Mai mới vào chùa trong."


Chàng hai má đỏ hồng

Kêu với thằng tiểu đồng

Mang túi thơ bầu rượu:

"Mai ta vào chùa trong!"


Đêm hôm ấy em mừng!

Mùi trầm hương bay lừng.

Em nằm nghe tiếng mõ,

Rồi chim kêu trong rừng.


Em mơ, em yêu đời!

Mơ nhiều... Viết thế thôi,

Kẻo ai mà xem thấy,

Nhìn em đến nực cười!


Em chưa tỉnh giấc nồng,

Mây núi đã pha hồng.

Thầy me em sắp sửa

Vàng hương vào chùa trong.


Đường mây đá cheo veo,

Hoa đỏ, tím, vàng leo.

Vì thương me quá mệt,

Săn sóc chàng đi theo.


Me bảo: "Đường còn lâu,

Cứ vừa đi ta cầu

Quan-Thế-âm-bồ-tát

Là tha hồ đi mau!"


Em ư? Em không cầu,

Đường vẫn thấy đi mau.

Chàng cũng cho như thế.

(Ra ta hợp tâm đầu).


Khi qua chùa Giải-oan,

Trông thấy bức tường ngang,

Chàng đưa tay, lẹ bút

Thảo bài thơ liên hoàn.


Tấm tắc thầy khen: "Hay!

Chữ đẹp như rồng bay."

(Bài thơ này em nhớ,

Nên chả chép vào đây).


Ô! Chùa trong đây rồi!

Động thẳm bóng xanh ngời.

Gấm thêu trần thạch nhũ,

Ngọc nhuốm hương trầm rơi.


Me vui mừng hả hê:

"Tặc! Con đường mà ghê!"

Thầy kêu: "Mau lên nhé!

Chiều hôm nay ta về."


Em nghe bỗng rụng rời!

Nhìn ai luống nghẹn lời!

Giờ vui đời có vậy,

Thoảng ngày vui qua rồi!


Làn gió thổi hây hây,

Em nghe tà áo bay,

Em tìm hơi chàng thở!

Chàng ôi, chàng có hay?


Đường đây kia lên trời,

Ta bước tựa vai cười.

Yêu nhau, yêu nhau mãi!

Đi, ta đi, chàng ôi!


Ngun ngút khói hương vàng,

Say trong giấc mơ màng,

Em cầu xin Trời, Phật

Sao cho em lấy chàng.


Thiên ký sự đến đây là hết. Tôi tin rồi hai người lấy nhau, vì không lấy được nhau thì cô bé còn viết nhiều. Lấy nhau rồi là hết chuyện.)

(Ngày Xưa)


Nguyễn Nhược Pháp

(1914-1938)

LAI LỊCH BÀI THƠ:


Bài thơ Chùa Hương là bài khá nhất trong tập thơ Ngày Xua, có một lai lịch kì thú không ngờ. Chuyến đi chùa Hương ấy, Nhược Pháp đi với tôi và hai cô gái nữa, đều là nữ sinh cả. Hai cô có mang theo hai máy chụp hình, còn Nhược Pháp và tôi đều đi tay không.


Trèo lên đến Rừng Mơ bỗng chúng tôi gặp một bà cụ vừa bước lên đèo, đường đá gồ ghề lởm chởm, vừa niệm: "Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát...". Cô gái quê có lẽ là con của cụ, cũng đang niệm câu ấy nhưng nửa chừng trông thấy chúng tôi là hai chàng trai nhìn cô trân trân thì cô bẽn lẽn làm thinh không niệm Phật nữa. Cô đang đọc: "Nam Mô cứu khổ cứu nạn..." rồi cô im. Đôi má đỏ bừng, cô cúi mặt xuống. Hai đứa tôi hỏi cô: Tại sao trông thấy chúng tôi, cô không niệm Phật nữa? Cô gái quê có vẻ đẹp ngây thơ bỗng tỏ vẻ bối rối muốn khóc.


Không ngờ hai cô bạn nữ sinh lén chụp được tấm hình hai đứa tôi đang hỏi chuyện cô gái quê, rồi có lẽ không bằng lòng chúng tôi nên hai cô lén đi trước, và đi lúc nào chúng tôi không hay biết, cũng chẳng nói năng gì với chúng tôi cả, bỏ chúng tôi ở lại với cô gái quê. Chúng tôi mê nói chuyện với cô này, một lúc sực nhớ lại hai cô bạn chúng tôi vội vàng đi theo nhưng không kịp. Hai cô đã lên đến Chùa Ngoài, rồi lên đến Chùa Tiên Sơn, lẫn trong đám đông người, biến mất dạng.


Đêm ấy ngủ trong Chùa Hương, sáng hôm sau ra về, chúng tôi mới gặp lại hai cô bạn đồng hành. Tôi phải xin lỗi mãi, nhưng Nhược Pháp cứ tủm tỉm cười không nói.

Về Hà Nội, hai hôm sau, Nhược Pháp đem đến tôi bài thơ Chùa Hương, mà trong bản chép ra đầu tiên Nhược Pháp đề là "Cô gái chùa Hương". Nhược Pháp lấy cuộc gặp gỡ lí thú của chúng tôi với cô gái quê để làm đề tài và tưởng tượng thêm ra, thành bài thơ đẹp, giọng thơ ngây, y như cô gái chùa Hương hôm ấy...


Trong tuần ấy, anh góp nhóp các bài thơ của anh, thành một quyển. Anh đưa tôi và hỏi:

- Có nên xuất bản không?

- Nên

- Nhưng tiền đâu? Nhược Pháp cười móm mém.

- Xin ông Cụ.

- Thôi, tôi mà đưa ông Cụ xem cái của nợ này, thì chắc chắn là ông Cụ sẽ vứt nó vào sọt rác.

- Đưa bà Cụ vậy.

- Ừ, phải đấy!

Một tháng sau, quyển thơ Ngày Xưa ra đời. Sách in xong mà Nguyễn Nhược Pháp vẫn rụt rè, chưa dám đưa cụ Nguyễn Văn Vĩnh xem vội, chỉ sợ Cụ vứt vào sọt rác.

(Nguyễn Vỹ, Văn Thi Sĩ Tiền Chiến, Nxb Văn Học, 2007)



NẮNG MỚI

 

LƯU TRỌNG LƯ

  Sinh năm 1912 ở Cao-lao hạ, huyện Bố-trạch (Quảng-bình). Học trường Quốc
học Huế đến năm thứ ba, ra Hà nội học tư rồi bỏ đi làm báo, làm sách cho đến
nay. Chủ trương Ngân sơn tùng thư, Huế (l933-1934).
   Đã viết giúp: Phụ nữ tân văn, Phụ nữ thời đàm, Tiến hóa, Hàn nội báo, Tân
thiếu niên, Tao đàn...Đã xuất-bản: Tiếng thu (l939).
 (Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh & Hoài Chân)


   Lưu Trọng Lư (1912-1991)

Mỗi lần nắng mới hắt bên song,

Xao xác gà trưa gáy não nùng,

Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,

Chập chờn sống lại những ngày không.


Tôi nhớ me tôi, thuở thiếu thời

Lúc người còn sống tôi lên mười;

Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,

Áo đỏ người đưa trước dậu phơi.


Hình dáng me tôi chửa xóa mờ

Hãy còn mường tượng lúc vào ra:

Nét cười đen nhánh sau tay áo

Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.

(Tiếng Thu)

Lưu Trọng Lư

(1912-1991)
nguồn: Thi Nhân Việt Nam
(Hoài Thanh & Hoài Chân)

MỘT CÁCH HIỂU BÀI THƠ:


... Về phương diện cấu trúc ngữ nghĩa, “nắng mới” khác với những cụm từ thông thường chúng ta hay dùng: nắng sớm, nắng trưa, nắng chiều, nắng vàng, nắng hanh, nắng nhạt, nắng gắt, nắng ấm v.v... Trong tất cả những cụm từ này, từ phía sau bao giờ cũng có chức năng hạn định ý nghĩa của từ “nắng” phía trước: hạn định màu sắc, cường độ, tính chất và nhất là hạn định về thời gian. Đó không phải là cái nắng chung chung, muôn thuở. Đã đành. Đó cũng khó có thể là cái nắng của một ngày, một khoảng thời gian quá dài cho bao nhiêu thay đổi trong dáng hình của nắng.


Trường hợp “nắng mới” rõ ràng là khác. Dù hiểu theo nghĩa nào, là nắng đầu xuân, đầu hè hoặc nắng của một ngày ráo tạnh rớt vào giữa chuỗi ngày mưa gió, “nắng mới” tuy vẫn là cái nắng trong một thời điểm cụ thể song nó lại được đặt trong mối tương quan với một khoảng thời gian dài, đối lập với những ngày tháng trước đó.

Hơn nữa, bản thân khái niệm “nắng mới” còn gợi ra tính chất chu kỳ: cứ mỗi dịp chuyển mùa hay chuyển thời tiết là một lần nắng mới. Đều đặn. Nhịp nhàng.

Hai đặc điểm này làm cho cụm từ “nắng mới” có một hàm nghĩa đặc biệt: nó bao gồm cả ý niệm về không gian lẫn ý niệm về thời gian.


Bài thơ “Nắng mới”, do đó, theo tôi, không phải là một bài thơ mô tả nỗi niềm nhớ mẹ. Nó chỉ nhằm thể hiện mối quan hệ giữa tâm sự thương nhớ của con người với không gian và thời gian họ sống. Điều này giải thích lý do tại sao ngay cả khi mẹ chúng ta còn sống, chúng ta vẫn thích và thường ngâm nga bài “Nắng mới”. Chỉ cần trong lòng dậy lên niềm nhớ nhung xa xôi nào đó...

Nguyễn Hưng Quốc (THƠ, V.V... và V.V..., Nxb Văn Nghệ, 1996)




TRÀNG GIANG

 

HUY CẬN

Cù Huy Cận sinh ngày 31 mai 1919. Quê quán làng Ân-phú, huyện Hương sơn
(Hà tĩnh). Học: lớp năm ở trường tổng, lớp tư đến khi đậu tú tài Tây ở Huế.
Hồi 1936, có viết giúp Tràng an, Sóng hương (ký Hán quỳ). Từ 1938, đăng thơ
ở Ngày nay. Đã xuất bản: Lửa Thiêng (Đời nay, Hà nội, 1940)

Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài

H.C.

Tặng Trần Khánh Giư



   Huy Cận (1919–2005)

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng.


Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.


Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang.

Không cầu gợi chút niềm thân mật.

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.


Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa,

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

(Lửa Thiêng)

Huy Cận

(1919–2005)
nguồn: Thi Nhân Việt Nam
(Hoài Thanh & Hoài Chân)

KHẢO LUẬN:


Người ta thường cho rằng văn học lãng mạn, nhất là thơ trữ mình, có nhiệm vụ đạo đạt một số cảm hứng dựa vào những tình cảm phổ biến, cái đáy chung của con tim nhân loại. Như vậy nhà thơ Huy Cận đào sâu cái buồn mênh mang ấy quả đã góp phần bổ túc một đề tài muôn thuở, làm phong phú thơ mới ở một giai đoạn chuyên về tạo tình. Song ta cũng có thể nói, quá năm 1938, ở xã hội Việt Nam, cái vui vẻ trẻ trung người ta, kể cả thanh niên, uống đã tới chỗ cặn đắng. Cái buồn của Huy Cận đây phải chăng cũng là một phản ứng thời đại. Người ta nghĩ đến những lời rền rĩ bâng khuâng của Á Nam và Tản Đà. Chiếc linh hồn nhỏ là tác giả Lửa thiêng, phải chăng như một cánh chim đầu đàn tiên cảm cơn bão tố sắp tới.


Nhưng cũng ở sự tiếp xúc với thiên nhiên với ngoại cảnh, có điểm mà trong nhiều bài thơ, Huy Cận đã tiếp tục Xuân Diệu một cách rõ rệt hơn, đó là cái khuynh hướng cảm thụ của thi phàn. Huy Cận cũng như Xuân Diệu sử dụng một giác quan mẫn nhuệ lạ thường, rất nhạy với những âm hưởng, những giây tơ trong cảnh vật và cuộc đời. Ông rung động trước cảnh mai sương buông thưa, cảnh chiều thịnh trị, cảnh mùa xuân tươi mát. Ông nói đến "lá thơm như thể da người" và mùi của tơ duyên, mùi của luống đất mới xới. Ông thu được cả âm thanh thao thức trong mạch đời, thấy được ý mùa rợn trong thân mới, nhựa mạch trào lên lá cây. Ở chỗ này có thể nói Huy Cận tiến xa hơn Xuân Diệu. Thơ ông thiên hẳn về "duy cảm chủ nghĩa". Thí dụ tả buổi Chiều xuân, Huy Cận không tả bằng màu sắc mà tả bằng cảm giác đã lắng nghe kỹ lưỡng trong tâm hồn ông và trong thân hình tạo vật...


Về hình thức Huy Cận cũng kế tlếp Xuân Diệu ở nhiều điểm. Nói về thể cách òng cũng không ưa lối phá thể lộn xộn mà đi vào những điệu đều: ngũ ngôn, lục bát, 7 chữ, 8 chữ. Điệu 7 chữ phân đoạn 4 câu 3 hoặc 2 vần và điệu lục bát có thể coi là sở trường của Huy Cận. Về ngôn ngữ thì ông đã lợi dụng được phần nào sự canh cải mở đường của Xuân Diệu. Đến Huy Cận, những ẩn dụ đột ngột, những ngữ điệu Tây, những lối nói như ốn vách nghiêm trang, Chiều tẻ cúi đầu, Chiều chan không ấm người nằm một, Đêm mưa làm nhớ không gian, cách tập hợp cảm giác lẫn lộn như Cả không gian hồn hậu rất thơm tho, Gió hương đưa mùi dìu dịu phất phơ, không còn làm cho người ta thấy chướng lắm nữa.


Ngoài ra ông còn làm việc để loại bỏ sự quá độ, trở về phục hưng một ít chữ xưa, nhất là trau giồi kỹ thuật, săn sóc âm vận và từ ngữ hơn. Ở Xuân Diệu, đôi khi người ta tháy một sự bừa bãí lòng thòng, những hàng dông dài non nớt pha loãng. Huy Cận khó tính hơn, muốn thu bỏ, đúc chuốt, nói lên một tiếng thơ tinh thuần hơn. Sự cố gắng ước thúc có khi đưa đến một cách dùng chữ hoặc đặt chữ quá gò ép, như Nhà em ba ngõ lắm (để đối với Thôn anh một phương thôi), Tiền nhà ít gởi biết chi mua, Ai biết đường kia dặm mấy lần, Với gió xa xôi lạnh lẽo ngàn... Song những tì vết đó không làm cho chúng ta quên sự thành công của tác giả. Cái nghệ thuật hàm súc và tinh vi của ông đưa ông về thẩm thức Á đông, đưa ông đến cả chỗ học cổ và hoài cổ nữa, và cho chúng ta những bài thơ rất hay.

Những bài lục bát như Thuyền đi, Thu rừng, thất ngôn như Tràng giang, Vạn lý tình, phảng phất phong vị truyện Kiều và thơ Đường, đều là những kiệt tác trong thơ Huy Cận.

(Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên III, Nxb Đại Nam)



LỜI KỸ NỮ

 

XUÂN DIỆU

Họ Ngô. Sinh ngày 2 février 1917. Người làng Trảo nha, huyện Can-lộc (Hà
tĩnh). Học ở Qui nhơn, Huế, Hà-nội. Có bằng tú-tài Tây.
Có chân trong Tự-lực văn-đoàn. Đã viết giúp: Phong hóa, Ngày nay, Tinh
hoa. Đã xuất bản: Thơ thơ (Đời nay, Hà nội, 1938.)


   Xuân Diệu (1917–1985)

Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa;

Vội vàng chi, trăng sáng quá, khách ơi.

Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời;

Khách không ở, lòng em cô độc quá.


Khách ngồi lại cùng em! Đây gối lả,

Tay em đây, mời khách ngả đầu say;

Đây rượu nồng. Và hồn của em đây,

Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử.


Chớ đạp hồn em!

Trăng từ viễn xứ

Đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn.

Gió theo trăng từ biển thổi qua non;

Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn.


Lòng kỹ nữ cũng sầu như biển lớn,

Chớ để riêng em phải gặp lòng em;

Tay ái ân du khách hãy làm rèm,

Tóc xanh tốt em xin nguyền dệt võng.


Đẩy hộ hồn em triền miên trên sóng,

Trôi phiêu lưu không vọng bến hay gành;

Vì mình em không được quấn chân anh,

Tóc không phải những dây tình vướng víu.


Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo;

Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da.

Người giai nhân: bến đợi dưới cây già,

Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt.


Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt.

Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi.

Người viễn du lòng bận nhớ xa khơi,

Gỡ tay vướng để theo lời gió nước.


Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt.

Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sông trôi.

Du khách đi.

Du khách đã đi rồi.

(Ngày Nay)


Xuân Diệu

(1917–1985)
nguồn: Thi Nhân Việt Nam
(Hoài Thanh & Hoài Chân)

KHẢO LUẬN:


Thế Lữ và tờ Phong Hóa có thể tự hào đã có công phát kiến và gày nuôi một thi tài đích đáng. Thơ Xuân Diệu lúc đầu đăng trên tờ báo của nhóm Tự Lực, cái điệu lạ ông đem đến gây bỡ ngỡ cho người đọc, khiến lắm kẻ chê bai, nhưng ít lâu sau, ông tự tỏ rõ giá trị, được giới trẻ theo rõi, rồi hoan nghênh, rồi tôn thờ. Và điều không ngờ là vài năm sau nữa, hoàn thành pho Việt Nam văn học sử đầu tiên, nhà biên khảo Dương Quảng Hàm đã dành cho tác giả Thơ Thơ một chỗ ngồi vinh dự, đưa người thanh niên ngoài 20 ấy vào văn học sử hiện đại, bên cạnh những Phạm Quỳnh, Tản Đà, Nhất Linh, Thế Lữ.


Xuân Diệu cùng giống Thế Lữ và Lưu Trọng Lư và đứng trong giai đoạn ở chỗ dành một số lớn sáng tác của ông để ca tụng ái tình và sắc đẹp. Nhưng cái giọng yêu đương mà ông đem vào thơ khác xa đám đàn anh. Đó là cái tình chàng trai 18 chưa rời ghế nhà trường, đầy bỡ ngỡ háo hức, đi thí nghiệm tình yêu trong những trường hợp ngồ ngộ. Tác giả kể lại chuyện mình, lòng mình, nhưng cũng nóí hộ chung cho lứa tuổi. Đây hình ảnh cậu học trò ấy - có lẽ trên con đường tới trường hàng ngày đi về - lững thững đi sau một thiếu nữ:


Em bước điềm nhiên không vướng chân,

Anh đi lững thững chẳng theo gần.

Vô tâm nhưng giữa bài thơ dịu,

Anh với em như một cặp vần.

(Thơ duyên)


Thật ra đọc Xuân Diệu nhiều khi ta có cảm tưởng như nghe một đứa trẻ tập nói chưa hề biết những khuôn thức người lớn, tự nhiên tìm đổ những cảm giác của nó ra bằng phương tiện kiếm được. Ngôn ngữ ấy lúc đầu có phần ngượng nghịu, bối rối nữa; nhưng dần dần mềm dẻo hoạt bát và chinh phục người ta bằng vị thanh tân của nó. Có khi cùng trong một bài, nếu có câu: Tôi đã đầy thân giữa xứ phiền, thi cũng có những câu:


Làm sao cắt nghĩa được tình yêu.

Có nghĩa gì đâu một buổi chiều,

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,

Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu.


Thật là một ngôn ngữ thơ, trong veo không gợn, hồn nhiên mà ý vị biết bao.

Nhất là về sau thi sĩ càng chịu làm việc, cần mẫn ở âm vận và chinh phục người ta bằng nhạc chất phong phú. Thơ Xuân Diệu sau dần cũng tiến tới êm tai, chuốt giọng, không phải cái êm chuốt du dương nhàm rẻ của tay thợ vựng, mà là một nhạc điệu cũng đặc sắc mới mẻ. Ở phương diện náy những bài như Nhị hồ, Nguyệt cầm, Đây mùa thu tới, Trăng, đã vưọt xa kỹ thuật cũ mà lại có thể làm thỏa mãn cả những thẩm khuynh cổ điển khó tính nhất. Sau 1940, người ta không còn mè nheo Xuân Diệu về tật ngô nghê, người ta ngâm nga và bắt chước. Thi sĩ quả đã với tác dụng mầu nhiệm của thiên tài, vừa giáo hóa mình vừa cảm hóa người, lôi công chúng vào chia sẻ và thưởng ngoạn ngôn ngữ mình, biến nó thành mẫu mực của thẩm thức.

(Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên III, Nxb Đại Nam)



TRÊN ĐƯỜNG VỀ

 

CHẾ LAN VIÊN

Sinh năm 1920. Quê ở Bình-định. Học trường Qui nhơn. Có bằng thành chung.
Đã đăng thơ: Tin văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Phụ nữ, Trong khuê phòng, Người
mới. Đã xuất bản: Điêu tàn (1937).


   Chế Lan Viên (1920-1989)

Một ngày biếc, thị thành ta rời bỏ

Quay về xem non nước giống dân Hời:

. . . .

. . . .

Đây, những Tháp gầy mòn vì mong đợi,

Những đền xưa đổ nát dưới Thời gian,

Những sông vắng lê mình trong bóng tối,

Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than.


Đây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn,

Muôn Ma Hời sờ soạng dắt nhau đi;

Những rừng thẳm bóng chiều lan hỗn độn,

Lừng hương đưa, rộn rã tiếng tử quy!


Đây, chiến địa nơi đôi bên giao trận,

Muôn cô hồn tử sĩ hét gầm vang.

Máu Chàm cuộn tháng ngày niềm oán hận,

Xương Chàm luôn rào rạt nỗi căm hờn.


Đây, những cảnh thái bình trong Chiêm quốc,

Những cô thôn vàng nhuộm nắng chiều tươi;

Những Chiêm nữ nhẹ nhàng quay lại ấp,

Áo hồng nâu phủ phất xõa lời vui.


Đây, điện các huy hoàng trong ánh nắng,

Những đền đài tuyệt mỹ dưới trời xanh.

Đây, chiến thuyền nằm mơ trên sông lặng;

Bầy voi thiêng trầm mặc dạo bên thành.


Đây, trong ánh ngọc lưu ly mờ ảo

Vua quan Chiêm say đắm thịt da ngà,

Những Chiêm nữ, mơ màng trong tiếng sáo,

Cùng nhịp nhàng, uyển chuyển uốn mình hoa.


Những cảnh ấy trên Đường Về ta đã gặp,

Tháng ngày qua ám ảnh mãi không thôi.

Và từ đấy lòng ta luôn tràn ngập

Nỗi buồn thương nhớ tiếc giống dân Hời.

(Điêu Tàn)


Chế Lan viên

(1920-1989)
nguồn: Thi Nhân Việt Nam
(Hoài Thanh & Hoài Chân)



NHỚ RỪNG

 

THẾ LỮ

 Chính tên lả Ngụyễn Thứ Lễ. Sinh tháng 10 năm Đinh mùi (1907). Nơi sinh Thế
Lữ lấy làm lạ thấy người nhà nói là Thái-hà ấp Hà nội, còn thi-sĩ thì cứ tưởng là
Lạng-sơn, nơi đã ở từ khi còn bé đến năm 11 tuổi. 11 tuổi, xuống Hải-phòng học
đến năm thứ ba ban thành chung thì bỏ để theo sở thích riêng. Sau đó lên Hà
nội học trường Mỹ-thuật, nhưng lại thôi ngay. Bắt đầu viết từ hồi này. Được ít
lâu bị đau lại về Hải-phòng tĩnh dưỡng. Những ý thơ và đôi bài thơ đầu tiên, như
bài "Lựa tiếng đàn" nẩy ra trong lúc này.
  Có chân trong Tự-lực văn-đoàn và trong tòa-soạn các báo Phong-hóa, Ngày
nay, Tinh hoa. Đã xuất bản: Mấy vần thơ (1935). Mấy vần thơ, tập mới (Đời nay,
Hà-nội, 1941).

Lời con Hổ ở vườn Bách thú

(Tặng Nguyễn Tường Tam)



   Thế Lữ (1907–1989)

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,

Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.

Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,

Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm,

Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,

Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.

Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,

Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.


Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,

Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa.

Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,

Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,

Với khi thét khúc trường ca dữ dội,

Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,

Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,

Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.

Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc,

Là khiến cho mọi vật đều im hơi.

Ta biết ta chúa tể cả muôn loài

Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.


Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,

Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?

Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng.

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,

Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?

- Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?


Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu,

Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,

Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:

Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;

Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng

Len dưới nách những mô gò thấp kém;

Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm,

Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu

Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.


Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!

Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị.

Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa,

Nơi ta không còn được thấy bao giờ!

Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,

Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn

Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,

- Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!

(Mấy vần thơ, tập mới)


Thế Lữ

(1907–1989)
nguồn: Thi Nhân Việt Nam
(Hoài Thanh & Hoài Chân)

KHẢO LUẬN:


Về hình thức Thế Lữ là người đầu tiên xông xáo đi tìm điệu mới cho thơ và dần dần đưa thơ mới vào mấy thể trở thành phổ thông sau ông. Kiểm điểm tập Mấy vần thơ của ông (tập mới l941), ta thấy một bài năm chữ trường thiên vần chéo (Mộng ảnh), một bài hoàn toàn phá thể (Tiếng trúc tuyệt vời), còn đa số là thơ 7 chữ trường thiên phân đoạn 4 câu vần chéo. (Khúc ca hoài xuân, Khúc hát bên sông), hoặc 4 câu 3 vần lối cũ (Lời than thở của nàng Mỹ Thuật, Tiếng gọi bén sông, Ngày xưa còn nhỏ, Vẻ đẹp thoáng qua, Hái hoa, Bên sông đưa khách), và thơ 8 chữ trường thiên vần liền đôi một, đắp đổi bằng trắc (Nhớ rừng, Lựa tiếng đàn, Con người vơ vẩn, Cây đàn muôn điệu, Bâng khuâng, Nhan sắc, Hoa thủy tiên, Giục hồn thơ). Ngoài ra còn có 4 bài lục bát (Mấy vần thơ, Bông hoa rừng, Lời tuyệt vọng, Ma túy) và một bài song thất lục bát (Hồ xuân và thiếu nữ), nhưng không hề có một bài đường luật bát cú nào.


Làm thơ Thế Lữ đã luôn luôm theo một qui tắc, một quy tắc mà buổi đầu các nhà thơ mới đều cho là chí lý, là tìm cho mỗi cảm hứng, mỗi đề tài một cái điệu riêng, cái điệu đây phần chính cốt ở số chữ câu thơ đã đành mà còn ở cách ngắt trong câu, ở vần thơ, giọng đọc, âm chữ, tất cả sao cho diễn tả được đúng, được hay cái ý đặc biệt của đề tài. Như dùng câu lục bát ẻo lả để tả tiếng sáo thiên thai:

Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi

Bên rừng thổi sáo một hai kim đồng


Dùng câu thơ 8 chữ rộng rãi chững chạc để tả con hổ:

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,

Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa.

Nhớ cảnh sơn lâm bóng cả cây già,

Với khi thét khúc trường ca dữ dội,

Ta bước chân lên dõng dạc đường hoàng.

Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng.


Dùng câu thơ hỗn tạp bất nhất để tả tiếng trúc uyển chuyền gợi những ấn tượng biến đổi:

Tiếng địch thổi đâu đây,

Cớ sao mà réo rắt?

Lơ lửng cao đưa tận lưng trời xanh ngát.

Mây bay... gió quyến... mây bay...

Tiếng vi vút như khuyên van như dìu dặt,

Như hắt hiu cùng hơi gió heo may.


Thế Lữ là một thi công cần mẫn không những ở việc tìm điệu như trên mà còn ở cách dùng chữ, đặt câu, lựa vần. Thơ mới Thế Lữ không buông thả dễ dàng như thơ Lưu Trọng Lư chẳng hạn, mà thường săn sóc uốn nắn, đôi khi mang dấu vết gọt dũa, khổ luyện. Những bài Nhớ rừng, Vẻ đẹp thoáng qua, Giục hồn thơ, Tiếng sáo thiên thai thường được ca tụng, đều là những tuyệt tác về phương diện này...

(Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên III, Nxb Đại Nam)



BẾN MY LĂNG

 

YẾN LAN

Chính tên là Lâm Thanh Lang. Sinh năm 1918 ở làng An Ngãi, phủ An Nhơn
(Bình Định). Chỉ học quanh mấy trường trong tỉnh.
Đã đăng thơ: Phụ Nữ, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Nghệ Thuật.


   Yến Lan (1916-1998)

Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách,

Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu.

Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách,

Ông lái buồn để gió lén mơn râu.


Ông không muốn run người ra tiếng địch,

Chở mãi hồn lên tắm bến trăng cao.

Vì đìu hiu, đìu hiu, trời tĩnh mịch,

Trời võ vàng, trời thiếu những vì sao.


Trôi quanh thuyền, những lá vàng quá lạnh

Tơ vương trời, nhưng chỉ giải trăng trăng.

Chiều ngui ngút dài trôi về nẻo quạnh,

Để đêm buồn vây phủ bến My Lăng.


Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã,

Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly.

Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả,

Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi.


Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách,

Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng.

Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách,

Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng.


Bến My Lăng còn lạnh, bến My Lăng,

Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng.

(Bến My Lăng)


Yến Lan

(1916-1998)
nguồn: Thi Nhân Việt Nam
(Hoài Thanh & Hoài Chân)



TỲ BÀ

 

BÍCH KHÊ

   Chính tên là Lê Quang Lương. Quê quán: Thu Xà, Quãng Ngãi.
Đã đăng thơ: Tiếng Dân, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Người Mới... (ký Lê Mộng Thu
hoặc Bích Khê).
   Đã xuất bản: Tinh huyết (1939). Tôi đã gặp trong Tinh huyết những câu thơ
hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam:
     Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
     Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.


   Bích Khê (1916-1946)

Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm

Trăng đan qua cành muôn tay êm

Mây nhung pha màu thu trên trời

Sương lam phơi màu thu muôn nơi


Vàng sao nằm im trên hoa gầy

Tương tư người xưa thôi qua đây

Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề

Hoa vừa đưa hương gây đê mê


Cây đàn yêu đương làm bằng thơ

Cây đàn yêu đương run trong mơ

Hồn về trên môi kêu: em ơi

Thuyền hồn không đi lên chơi vơi


Tôi qua tìm nàng vay du dương

Tôi mang lên lầu lên cung Thương

Tôi không bao giờ thôi yêu nàng

Tình tang tôi nghe như tình lang


Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi

Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi

Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi

Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi


Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu

Sao tôi không màng kêu: em yêu

Trăng nay không nàng như trăng thiu

Đêm nay không nàng như đêm hiu


Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân

Buồn sang cây tùng thăm đông quân

Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.


Bích Khê

(1916-1946)



NGHỈ HÈ

 

XUÂN TÂM

  Chính tên là Phan Hạp. Sinh ngày 1-1-1916 ở làng Bảo-an, phủ Điện-bàn
(Quảng-nam). Học: trường Chaigneau, trường Quốc-học (Huế). Có bằng
Thành-chung.
  Đã đăng thơ: Tân Văn, Sông Hương. Đã xuất-bản: Lời tim non (1941).


   Xuân Tâm (1916-2012)

Sung sướng quá, giờ cuối cùng đã hết,

Đoàn trai non hớn hở rủ nhau về.

Chín mười ngày nhảy nhót ở miền quê,

Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ!


Một nét mặt, trăm tiếng cười rộn rã,

Lời trên môi chen chúc nối nghìn câu.

Chờ đêm nay; sáng sớm bước lên tàu,

Ăn chẳng được, lòng nôn nao khó ngủ.


Trong khoảnh khắc sách, bài là giấy cũ,

Nhớ làm chi. Thầy mẹ đợi, em trông.

Trên đường làng huyết phượng nở thành bông.

Và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt.


Kiểm soát kỹ, có khi còn thiếu sót;

Rương chật rồi, khó nhốt cả niềm vui.

Tay bắt tay, hôn không chút bùi ngùi,

Các bạn hỡi, trời mai đầy ánh sáng.

(Lời tim non)


Xuân Tâm

(1916-2012)
nguồn: Thi Nhân Việt Nam
(Hoài Thanh & Hoài Chân)



TỐNG BIỆT HÀNH

 

 THÂM TÂM

  Thâm Tâm chết trong khi đang làm báo kháng chiến, trong một căn nhà sàn
ở Việt Bắc, vì bệnh sốt rét. Đưa tiễn chỉ có một cậu liên lạc viên.
  Anh sinh 12.5.1917, mất 18.8.1950. (VL)


   Thâm Tâm (1917-1950)

Đưa người ta không đưa sang sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?


Đưa người, ta chỉ đưa người ấy

Một giã gia đình, một dửng dưng...

- Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ

Chí lớn không về bàn tay không,

 

Thì không bao giờ nói trở lại!

Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.


Ta biết ngươi buồn chiều hôm trước:

Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,

Một chị, hai chị cũng như sen

Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.


Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay:

Trời chưa mùa thu, tươi lắm thay,

Em nhỏ thơ ngây đôi mắt biếc

Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay...


Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

Chị thà coi như là hạt bụi,

Em thà coi như hơi rượu say

1940


Bài này Thâm Tâm làm trong một tiệc rượu để tặng một người bạn đi kháng chiến trước ông, tên là Phạm Quang Hòa. Theo ông Hòa, bài đó có 4 câu cuối mà không hiểu sao tất cả các bản in từ trước tới nay đều bỏ sót." (Thâm Tâm và T.T.KH trang 67-68) Bốn câu ấy như dưới đây, có đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy, năm 1940, mà khi in ở trong Thi Nhân Việt Nam năm 1941, không thấy hai ông Hoài Thanh, Hoài Chân chép vào:


Mây thu đầu núi gió lên trăng

Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm

Ly khách ven trời nghe muốn khóc

Tiếng đời xô động, tiếng hờn câm.


Nay xin chép vào cho đủ và cho đúng. VL.


Thâm Tâm

Khởi Hành 191, Tháng 9.2012


TƯƠNG TƯ

 

NGUYỄN BÍNH

  Sinh năm 1919 ở làng Thiện vịnh, huyện Vụ bản (Nam Định). Không hề học ở
nhà trường, chỉ học ở nhà với cha và cậu. Làm thơ từ năm 13 tuổi. Đã làm gần
một nghìn bài. Được giải khuyến-khích về thơ của Tự lực văn đoàn năm 1937.
  Đã đăng thơ: Ngày nay, Tiểu thuyết thứ năm, Nam-cường.
 Đã xuất bản: Lỡ bước sang ngang, Tâm hồn tôi (Lê-cường, Hà nội, 1940),
Hương cố nhân (Á châu, Hà nội 1941).
 (Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh & Hoài Chân)


   Nguyễn Bính (1918-1966)

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Một người chín nhớ mười mong một người.

Gió mưa là bệnh của trời,

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Hai thôn chung lại một làng,

Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?

Ngày qua ngày lại qua ngày,

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.

Bảo rằng cách trở đò giang,

Không sang là chẳng đường sang đã đành.

Nhưng đây cách một đầu đình,

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi...


Tương tư thức mấy đêm rồi,

Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!

Bao giờ bến mới gặp đò?

Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?


Nhà em có một giàn trầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào?

(Lỡ Bước Sang Ngang)


Nguyễn Bính

(1918-1966)
nguồn: Thi Nhân Việt Nam
(Hoài Thanh & Hoài Chân)

BÌNH:


Bài thơ này tả lại mối tình của tác giả hay của một người nào đó tại một vùng quê nào đó ở Việt Nam? Có thể. Như một cảm hứng. Nhưng đó chỉ là bề mặt. Rất cạn. Và điều chắc chắn là qua bài thơ, chúng ta không thể tìm thấy một bằng chứng nào cho một mối tình như thế.


Hai câu đầu chân chất mà lại sâu sắc. Câu trên mở ra chiều rộng của không gian. Câu dưới mở ra chiều dài của thời gian. Tương tư, nghĩ cho cùng, là một ám ảnh day dứt về không gian và về thời gian. Nhớ nhau, người ta đo từng khoảng cách. Nhớ nhau, người ta đếm từng khoảnh khắc.

Không phải ngẫu nhiên mà, trong cõi thiên hà thơ tương tư của nhân loại, từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây, đâu đâu cũng chập chùng những sông những núi, đâu đâu cũng có tiếng đồng hồ gõ nhịp và những bước mùa đi.

Ở câu đầu, để nhấn mạnh và cũng để cụ thể hoá ám ảnh về khoảng cách trong tâm trạng tương tư, Nguyễn Bính đồng nhất con người và địa phương họ cư ngụ. Anh là thôn Đoài. Em là thôn Đông. Cách xa vời vợi.

. . . .

Nguyễn Bính không ồn ào, không la thét, không quằn quại. Nguyễn Bính bao giờ cũng rất hiền lành với những nỗi bâng khuâng dìu dịu, chơi vơi.

Tương tư, dưới ngòi bút Nguyễn Bính, cũng chỉ là một nỗi niềm chơi vơi. Muôn đời chơi vơi. Như sương nương theo trăng ngừng lưng trời.

Bài Tương tư, do đó, không phải là một chuyện tình, một mối tình của Nguyễn Bính hay của bất cứ ai khác. Nó chỉ là một nỗi niềm chơi vơi. Một làn sương bay lãng đãng trong tâm tưởng.

Nguyễn Hưng Quốc (THƠ, V.V... và V.V..., Nxb Văn Nghệ, 1996)




TIẾNG VIỆT MIỀN NAM

 

 BÀNG BÁ LÂN

Thi sĩ Bàng Bá Lân vốn họ Nguyễn - Xuân, sinh tháng 11 Nhâm Tý (1913) tại
Phủ Lạng Thương, song chính quán huyện Bình Lục, Hà Nam, nổi tiếng từ thời
Tiền Chiến là một nhà thơ nồng nàn tình yêu đồng ruộng, mà thi phẩm đầu tay
Tiếng Thông Reo, xuất bản từ 1934 tại Hà Nội. Thơ ông mộc mạc, chất
phác như tâm tình chân thật của ông với cuộc sống, bởi ông làm thơ từ cảnh từ
tình trong cuộc sống của chính mình. Nếu nói về toàn thể, sự nghiệp thơ ông
không đồ sộ, song nếu có thi sĩ chỉ cần một bài mà lưu danh hậu thế, thì ông
chỉ cần bài "Đói". Bàng Bá Lân -và chỉ có ông-, làm bài thơ cảm xúc nhất, dài
nhất, kỹ nhất, về nạn đói năm Ất Dậu 1945. Để nhớ thi sĩ, mất vào 21.10.1988,
xin chọn bài sau đây, như một điển hình cho Bàng Bá Lân, và một tiêu biểu
trong Thơ Miền Nam. VL.


   Bàng Bá Lân (1913-1988)

Ôi! Tiếng Việt miền Nam

Nghe sao mà âu yếm!

Giọng ngân dài lưu luyến

Cho lòng ta thương vương.


Ôi! Thương ai em thương thiệt là thương

Em, cô gái Đồng Nai lòng cởi mở

Từ quen em, nắng vàng thêm rực rỡ

Dừa thêm xanh và vú sữa thêm ngon

Lời em thơm như măng cụt no tròn

Giọng em ngọt như xoài vừa chín tới

Những chữ ngân dài như gió thổi

Còn chữ C, G nghe đọc lỗi mà yêu

Giọng TR trong trẻo đúng bao nhiêu

Và anh nữa, ôi tiếng anh nũng nịu.

- Mong "ăn" mãi! Nhớ "ăn" hoài!

"Ăn" có hiểu!

Em thương "ăn" quá xá là thương!"

Lời em ngon như có mật có đường

Ta sung sướng gần em nghe giọng nói.


- Hãy nói nữa! Nói nhiều đi em hỡi!

Qua không cần hiểu ý, chỉ cần nghe

Giọng nói du dương say đắm đê mê

Như nhạc sóng của Đồng Nai,

sông Cửu.

Nhưng em bỗng ngừng im.

Em nũng nịu

- Nói đi "ăn",

nghe giọng Bắc em thương!


Cầm tay em say ngắm cặp môi hường

Lòng tràn ngập niềm mến thương đằm thắm.

Ôi Nam Bắc dù xa nhau vạn dặm

Vẫn cùng chung tiếng mẹ, tiếng quê cha

Gặp nhau đây trong ánh nắng chan hòa

Hai giọng nói cùng đồng ca hợp tấu


Hai huyết quản vẫn cùng chung dòng máu

Hai tâm hồn hòa hợp cảm thông nhau

Tiếng Việt miền Nam, giọng nói nhiệm mầu

Có phép lạ khiến tình ta lưu luyến.


Em!

Cô gái miền Nam ta thương mến

Muốn gần em, gần mãi để nghe em!

(Bàng Bá Lân, Vào Thu)


Bàng Bá Lân

Khởi Hành 192, Tháng 10.2012



MƯA

 

ANH THƠ

   Chính tên là Vương Kiều ân - Vương họ cha, Kiều họ mẹ. Sinh tháng janvier
1919 tại Ninh giang. Học từ năm lên bảy, năm 12 tuổi mới lên lớp ba (Hải dương,
Thái-bình, Bắc-giang). Bỏ học sau một buổi bị cô giáo phạt quỳ.
 Đã đăng thơ: Hanoi báo (ký Hồng-anh), Tiểu-thuyết thứ năm, Ngày nay, Phụ
nữ. Được giải thưởng khuyến-khích về thơ của Tự-lực văn-đoàn năm 1939.
Đã xuất bản: Bức tranh quê (Đời nay, Hà-nội, 1941), Xưa (hợp-tác với Bàng
Bá Lân, 194l).
     (Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh & Hoài Chân)


   Anh Thơ (1921-2005)

Tre lả lướt nghiêng đầu cho nước gội

Cau thẳng mình dang lá đón mưa rơi,

Đồng chìm xuống bông lúa vàng rũ rợi,

Ao rềnh lên bè rau muống xanh tươi.

Trên nhà vắng gió lùa hơi ướt át,

Cu bé ngồi nhào đất nặn tò te.

Dưới bếp lạnh, lũ gà vào bới rác

Mặc đàn ruồi, đàn nhặng lượn vo ve.

Ngoài đường lội một vài người về chợ

Trĩu gánh hàng như trĩu quang mưa.

Yên ổn nhất trong gian chuồng êm cỏ

Lũ lợn nằm mát mẻ ngủ quên trưa.


Anh Thơ

(1921-2005)
nguồn: Thi Nhân Việt Nam
(Hoài Thanh & Hoài Chân)

KHẢO LUẬN:


Những năm 1940-1945 chứng kiến cùng với sự bột phát của văn học, một sự nẩy mọc rộn ràng của thơ. Nhiều nẻo mới được vạch ra đưa tới những chân trời đầy triển vọng. Tuy nhiên bởi thời gian ngắn ngủi, nên ở đây cũng như ở tiểu thuyết không một thi tài mới quan trọng nào kịp thành hình, chỉ thấy rõ những khuynh hướng hơn là những thi nghiệp.


Một khuynh hướng mới thứ nhất là thơ tả chân quê hương mà đại biểu là Anh Thơ và Đoàn Văn Cừ. Lối này về trước đã có một hai người, thảng hoặc đi vào như Bàng Bá Lân, Nguyễn Bính, nhưng chỉ từ khi năm 1940 Tự Lực văn đoàn tặng giải Bức tranh quê của cô Anh Thơ mới trở nên thịnh hành. Ta hãy mượn lời giám khảo Nhất Linh để giới thiệu tập ấy: "Bức tranh quê có 30 bài thơ, bài nào cũng 12 câu, tả những cảnh ở thôn quê từ đầu năm đến Tết, hết mùa nọ sang mùa kia. Điều mới mẻ là tác giả đứng về mặt khách quan, suốt tập không bao giờ nói đến mình, không dùng một chữ "tôi" nào. Tác giả đứng ngoài cảnh vật, cố nhận xét rồi ghi lên giấv, hình như không có chút cảm động nào. Những điều nhận xét của cô đúng, đúng đến nỗi làm cho ta phải ngạc nhiên và chịu phục". Nhất Linh dẫn những câu làm cho ông phục như như tả cảnh mưa:


Tre lả lướt nghiêng đầu cho nước gội,

Cau thẳng mình dong lá đón mưa rơi.

Đồng chìm xuống bông lúa vàng rũ rợi.

Ao dềnh lên bè rau muống non tươi.


Tả cảnh chợ mùa hè:

Chó lè lưỡi ngồi thừ nhìn cũi đóng,

Lợn trói nằm hồng hộc thở căng dây.


Tả cảnh sang thu:

Hoa mướp rụng từng đóa vàng rải rác,

Lũ chuồn chuồn nhớ nắng ngẩn ngơ bay.


Tả cảnh bến đò ngày phiên chợ:

Thuyền ghé bến người người chen chúc xuống,

Tiếng chó kêu lợn hét nổi vang lừng.

Với tiếng người ồn lên trong luống cuống,

Đặt gánh gồng bồ bịch đổ lung tung.


Một đặc sắc thứ hai của Bức tranh quê, theo Nhất Linh, là "sự liên lạc rất mật thiết của hoa cỏ với bốn mùa, của công việc làm ăn và những nỗi lo lắng cỏn con của dân đồng ruộng với thời tiết. Mùa xuân các cô gái cào cỏ ruộng lúa sắp ra hoa, mùa thu hoa mướp rụng, ong cất cánh bay đi tìm nhị mướp, tiếng trống cúng ra hè, sự lo lắng nước không vơi, người đi phá bờ lấy nước tràn qua, anh tuần nghe tiếng trống hộ đê..., cô đều chú ý và ghi lấy".


... Người ta cho rằng ngay cái quan niệm tả chân bằng thơ đã là một quan niệm mâu thuẫn. Thơ không phải để chụp lại ngoại cảnh phồn tạp, dung tục và khách quan. Thơ là tinh túy, là chắt lọc, là để nói ít mà cho mơ nghĩ nhiều. Nhất là thơ phải có cảm, cảnh phải có tình. Nhất Linh chấm Bức tranh quê cũng phàn nàn về chỗ đó: "Thơ cô rõ ràng minh bạch quá, thiếu chút sương mù bao phủ để dấu diếm một huyền bí, thiếu cái tiếng vang ở cảnh núi nó làm cho ta nghĩ đến sự rộng rãi của không gian. Thơ Anh Thơ tả thứ gì chỉ nói được thứ đó thôi, không gợi cho người đọc những rung động mung lung".

(Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên III, Nxb Đại Nam)



TRĂNG HÈ

 

ĐOÀN VĂN CỪ

Đoàn Văn Cừ (1913-2004), quê gốc xã Nam Lợi, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam
Định. Tốt nghiệp Đại học ngành Văn-Sử-Địa. Tác phẩm đã xuất bản: Thôn ca I
(thơ, 1944); Thôn ca II (1960); Thơ lửa (thơ, in chung, 1947); Việt Nam huy
hoàng (thơ, 1948) (Nguồn: Internet)


   Đoàn Văn Cừ (1913-2004)

Tiếng võng trong nhà kẽo kẹt đưa,

Đầu thềm con chó ngủ lơ mơ.

Bóng cây lơi lả bên hàng dậu,

Đêm vắng, người im, cảnh lặng tờ.


Ông lão nằm chơi ở giữa sân,

Tàu cau lấp loáng ánh trăng ngân.

Thằng cu đứng vịn bên thành chõng,

Ngắm bóng con mèo quyện dưới chân.


Bên giếng, dăm cô gái xứ quê

Từng đàn vui vẻ rủ nhau về,

Trên vai nặng trĩu đôi thùng nước,

Kĩu kịt đi vào lối cổng tre.


Trong xóm giờ lâu quá nửa đêm,

Tiếng chày giã gạo đã ngừng im.

Trăng tà hạ xuống ngang đầu núi,

Đom đóm bay qua dải nước đen.


Tiếng ốc trên chòi rúc thiết tha,

Gió lay cót két rặng tre già.

Sao trời từng chiếc rơi thành lệ,

Sương khói bên đồng ủ bóng mơ.

(Ngày nay)


Đoàn Văn Cừ

(1913-2004)
nguồn: Thi Nhân Việt Nam
(Hoài Thanh & Hoài Chân)

BÌNH:


Những hìnn ảnh cuộc đời Việt-nam xưa còn lưu lại trong thời nay chẳng bao lâu sẽ mất hết. Nếu ta không gấp gấp ghi chép lấy thì rồi chẳng còn biết tìm kiếm vào đâu. Gần đây đã có một ít nhà viết tiểu-thuyết ưa thuật chuyện đồng quê, nơi nương náu cuối cùng của dĩ-vãng. Nhưng đời sống ở đồng quê có một nhịp-nhàng riêng, thể văn tiểu-thuyết không diễn tả được. Phải có thơ. Trong các nhà thơ đồng quê, không ai có ngòi bút dồi-dào mà rực rỡ như Đoàn văn Cừ.


Những bức tranh trong thơ Đoàn văn Cừ không phải chỉ đơn sơ vài nét như các bức tranh xưa của Á đông. Bức tranh nào cũng đầy rẫy sự sống và rộn-rịp nhũng hình sắc tươi vui. Mỗi bức tranh là một thế-giới linh hoạt. Người xem tranh hoa mắt vì những nét những màu hình như rối rít cả lại; nhưng nhìn kỹ thì màu nào nét nào cũng ngộ-nghĩnh vui vui

Đây trong chợ Tết, bên cạnh thầy khóa đương gò lưng viết:

Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm,

Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ.


Kia, giữa đám hội nhà quê:

Chiếc ô đen lẳng lặng tiến ra cầu,

Tìm đến chiếc san màu bay trước gió


Đoàn Văn Cừ đã biết nhận xét rất tinh lại sẵn hồn thơ phong phú, hai điều thường ít đi với nhau. Phải có hồn thơ mới thấy được dưới ánh bình-minh:

Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa.


Thỉnh thoảng giữa những câu tả chân chặt chẽ, chen vào một câu bất ngờ, vụt ngời lên như một luồng sáng giữa bức tranh:

Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ,

Nước thời-gian gội tóc trắng phau phau.


Và bao giờ cuối bài thơ cũng có một vài câu khêu gợi. Cuối bài "Chợ Tết":

Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê,

Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ.


Cuối bài "Đám cưới mùa xuân":

Chỉ còn nghe văng vẳng tiếng chim xuân

Ca inh-ỏi trên cành xanh tắm nắng.


Nhũng câu ấy đều khép lại một thế-giới và mở ra một thế-giới: khép một thế giới thực, mở một thế giới mộng. Cảnh trước mắt vừa tan thì tình trong lòng cũng vừa nhóm. Mắt ta không thấy gì nữa nhưng lòng ta bỗng bâng-khuâng.


Đoàn Văn Cừ trước sau đăng báo chỉ có sáu bảy bài thơ. Bài nào cũng hay. Cũng có bài đăng Ngày Nay số thường, nhưng nghĩ đến Đoàn Văn Cừ là tôi lại nghĩ đến Tết. Cái tên Đoàn Văn Cừ trong trí tôi đã lẫn với màu bánh chưng, mùi thuốc pháo, vị mứt gừng. Cứ mỗi lúc xuân về người lại gởi trên báo một chuỗi cười ngũ sắc. Tiếng cười ta còn nghe văng vẳng thì người đã biến đâu rồi và ta đành chờ mùa xuân khác...

Octobre 1941

Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh và Hoài Chân



NÉT NHÌN RẠNG ĐÔNG

 

 TUỆ MAI

  Thi sĩ Tuệ Mai Trần Thị Gia Minh sinh năm 1923 tại Hà Nội, mất năm 1983 tại
Sài gòn (chưa rõ hẳn, vì có chỗ in sinh 1928, mất 1982), nguyên quán làng
Quang Xán, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, có thơ đăng báo từ năm 1941. Các
thi phẩm đã xuất bản: Thơ Tuệ Mai 1962 (tựa Nguyễn Sỹ Tế), Không bờ bến
1964, Như nước trong nguồn 1969, Trên nhánh sông mưa 1970, Về phía trời
xanh 1973. Tuệ Mai tham gia sinh hoạt, nói chuyện văn nghệ, diễn thuyết tại
nhiều nơi như Tao Đàn Bạch Nga của Nguyễn Vỹ, Trung tâm Văn Bút của Vũ
Hoàng Chương, Thanh Lãng, cùng với Hỷ Khương, Xuân Đài.
   Theo tiểu sử in trong Thi Ca Việt Nam Hiện Đại (1880-1965) "Tuệ Mai bàn về
thơ thật rắn rỏi, nhiệt thành. Trong giới Phụ nữ Việt Nam hiện nay, chi được
nhiều người yêu thơ mến mộ." Từng được Giải Văn chương Toàn quốc về Thơ
năm 1966, song các "nhà phê bình thơ" đã không viết gì về thơ bà. Không rõ vì
lý do gì, các cuốn sách biên khảo về thơ sau đây không viết về bà: "Thơ Việt
hiện đại 1900-1960" của Uyên Thao, "Những nhà thơ hôm nay" của Ng. Đ.
Tuyến, "Thi nhân Việt Nam hiện đại" của Phạm Thanh, và Văn học Miền Nam,
Thơ, của Võ Phiến. Mong bạn đọc Khởi Hành bổ sung tài liệu cho, xin cảm ơn.
    VL (phamcongkh@yahoo.com).


   Tuệ Mai (1923-1983)
   (Nguồn: Khởi Hành)

Này tôi, tôi với đêm dài

Như ngày tháng đã, như mai mốt còn

Xe khuya chào vội phố buồn

Bánh quay ra riết nghe mòn dấu sương,


Cây nghiêm bóng lặng mặt đường

Lá ngong ngóng gió, cành thương lá sầu.


Này tôi, tôi với đêm thâu

Nghe thương ngơ ngác, nghe cao dỗi hờn

Vòng tay còn lại trống trơn

Mùa xuân còn chuyện dã tràng, thế thôi.


Còn tôi, tôi với đêm dài

Ngủ trên trang sách, ngủ ngoài sân mưa

Ôm vùng đất hẹn trăm hoa

Mộng xây biết mấy cho vừa trước sau.


Và tôi, tôi với đêm sâu

Chợt đau vai yếu, chợt đau sử buồn

Quãng dài tanh tưởi máu xương

Quê hương thí điểm

- quê hương nát nhầu.


Còn gì đâu! Có gì đâu!

Muôn con mắt lạc trông nhau rã rời

Nhưng tôi, tôi với đêm dài

Thức trong dòng họ

- thức ngoài trăm dân.


Điêu linh hằn sử bao lần

- Cũng qua

- Cũng vượt

- Cũng dần vươn lên.

Nên tôi, tôi với đêm hiền

Vòng tay mở rộng

Nét Nhìn Rạng Đông.


(In lại từ "Thi Ca Việt Nam Hiện Đại - 1880- 1965", Trần Tuấn Kiệt, Khai Trí, Sài gòn, 1967, tr-667-768.)


Tuệ Mai

Khởi Hành 193, Tháng 11.2012



TỪ GIÃ TUYÊN QUANG

 

 NHƯỢNG TỐNG

  Nhà thơ, dịch giả, nhà cách mạng Nhượng Tống tên khai sinh là Hoàng Phạm
Trân, nên cũng lấy bút hiệu khác là Hoàng Kiếm Thu, người xã Phú Khê, Hà
Nam được cha là Tú tài Hán học dạy văn nghĩa từ nhỏ, riêng ông tự học mà trở
thành uyên bác, không đỗ đạt gì, và trở thành nhà báo tên tuổi, viết cho Nam
thành báo, Thực Nghiệp dân báo, Hà Nội Tân Văn, đồng sáng lập Nam Đồng
Thư Xã chuyên đăng truyện đề cao lòng ái quốc của thiếu niên. Cùng các bạn
trong có Nguyễn Thái Học thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927.
  Vào Trung gặp cụ Phan Bội Châu. Hai năm sau bị Pháp bắt, lên án tù 10 năm
cấm cố đày ra Côn Đảo. Tám năm sau được thả nhưng lãnh thêm án 5 năm
biệt xứ. Bị ám sát chết tại Hà Nội năm 1949, chưa rõ thủ phạm là Việt Minh hay
thanh toán nội bộ. Văn thơ ông hàm xúc, đậm đà mà thanh thoát, nghề dịch
thuật của ông được các nhà phê bình cho là tài tình, trác tuyệt.
  Nhượng Tống để lại các tác phẩm: - Lan và Hữu (tiểu thuyết, 1940) - Mái
Tây, 1942 - Ly Tao, 1943 - Sử Ký Tư Mã Thiên, 1944 - Nam Hoa Kinh,
1944 - Hoàng Diệu (chèo cổ) - Nguyễn Thái Học... Khởi Hành từng hai lần
có bài về nhà thơ này.
  * Có sách viết ông sinh năm 1906, có sách viết 1897, chúng tôi chưa thể tìm
hiểu được hết; quí thức giả nào hay, vui lòng mách bảo, đặng sửa cho đúng khi
loạt bài này được in thành sách. Trân trọng cảm ơn.
  VL (namkh.nguyen@gmail.com)


   Nhượng Tống (19..-1949)*
(Từ điển Văn Học)

Dứt tiếng ly ca ném chén vàng

Bồi hồi từ giã đất Tuyên Quang

Biết tìm đầu thấy người trong mộng

Khéo não nùng thay, cảnh dọc đường.


Cây cỏ ba đông trời cố quốc

Nước non muôn dặm bóng tà dương

Xanh xanh sông nọ bao nhiêu khúc

Một khúc xa nhau một dặm trường.


Người một phương trời khách một phương

Đôi lòng ai giắt sợi tơ vương

Không quen thuộc đã thành dan díu

Có biệt ly đành phải nhớ thương.


Ơn nặng chưa đền cho đất nước

Tình riêng tạm gởi với văn chương

Thăm nhau muốn hỏi đường trong mộng

Núi Tản sông Lô mấy dặm đường?


Người bến sông Lô kẻ chợ Bờ

Tìm nhau chẳng thấy ruột vò tơ

Chiếc thân đất khách ta buồn lắm

Giấc mộng đêm trường khách tỉnh chưa?


Sự trước đã lầm ra thế ấy

Đường xa sớm liệu tự bây giờ

Mông mênh bốn bể ai tri kỷ?

Canh tối đèn tàn, tiếng gió mưa!


In lại từ "Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại", Phạm Thanh, Khai Trí, Sài gòn, 1959.)


Nhượng Tống

Khởi Hành 194, Tháng 12.2012



DẶM VỀ *

 

 NGUYỄN ĐÌNH TIÊN

Mai chị về, em gửi gì không?

Mai chị về nhớ má em hồng

Đường đi không gió, lòng sao lạnh?

Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong.


Quê chị về xa tít dặm xa

Rừng thu chiều xao xác canh gà

Sương buông khắp lối đường muôn ngả

Ngựa lạc cành hoang qua lướt qua.


Ngựa chị dừng bên thác trong veo

Lòng chị buồn khi nắng qua đèo

Nơi đây, lá rạt vương chân ngựa

Hươu chạy theo đàn, theo ngó theo.


Rừng đêm nhoà bóng nhớ hoang mang

Ngựa chị vừa qua thác sao vàng

Sao trôi đáy nước, rơi chân ngựa

Buồn dựng đôi mi, ngàn lại ngàn.

Thu 1945


Nguyễn Đình Tiên

(1924-1995)
nguồn: Nguyễn Trọng Tạo blog

*) Bài thơ này, gần nửa thế kỷ lưu truyền với tên "Mai Chị Về" tác giả là Quang Dũng, mặc dầu Quang Dũng không bao giờ nhận là của mình. Đến 27.9.1989, tòa soạn báo Văn Nghệ nhận được thư ông Nguyễn Đình Tiên nhận là tác giả bài thơ, trong thơ có kể sơ lược xuất xứ:

... Tháng 9.1945, có ba chị em một chị trí thức dòng dõi đại điền chủ Nam Bộ tránh giặc Pháp, dạt ra miền Trung và đến Thanh Hoá... Cũng 21 tuổi nhưng chị ra đời trước tôi khoảng nửa năm, lại là con gái hiểu biết sớm hơn về cuộc sống, nên tôi gọi chị là “chị” rất mực kính trọng. Một lý do nữa vì hoàn cảnh gia đình, tôi học chậm, đang học trung học, còn chị đã đỗ tú tài triết học năm 19 tuổi. Giữa tôi và chị rất thân nhau như bạn bè, nhưng vẫn có cái hố ngăn cách về tình cảm do sự mặc cảm của tôi dựng lên.

Đến tháng 10.1945, chị bỗng im lặng rồi thông báo một tuần nữa ba chị em sẽ ra Hà nội liên lạc với anh em sinh viên Nam Bộ tìm đường về Nam với gia đình. Lúc đó, tôi còn quá trẻ, nghe tin như sét đánh ngang tai.

Đêm đó, tôi chong đèn suốt đêm và viết bài thơ Dặm về... (trích thơ Nguyễn Đình Tiên)




 

 

Tho

 

 

  Thơ:

 

Tứ Thơ Và Chiến Tranh: Chiến-Sự Dù Nhỏ, Cũng Đã Lưu-Dấu Trong Thơ (Trần Văn Nam)

Những Dời Đổi Địa Hình và Mối Hoài Cảm Thi Ca (Trần Văn Nam)

Đất Nước Của Ma Quỷ (Bùi Chí Vinh)

Thời Đại Tôi Đang Sống (Nguyễn Thị Thanh Yến)

Bài thơ độc vận “ơ” làm trong men rượu say (Trần Thoại Nguyên)

Đất nước mình ngộ quá phải không anh (Trần Thị Lam)

Những đôi mắt ngủ quên (Trương Đình Phượng)

Con đường mới | Mở cửa (Trương Đình Phượng)

Mưa lạnh trên đèo (Xuân Thao)

Ân Tình Mẹ (Trần Kiêm Đoàn)

Mùa Xuân Và Linh Hồn Mới (Trần Mộng Tú)

 

  Thơ Dịch:

 (Vietnamese Poetry translated into English)

 

Đàm Trung Pháp & Viên Linh dịch và chú giải:

 

Vịnh Hai bà Trưng (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)

Ăn Cỗ Đầu Người (Nguyễn Biểu)

Đoạt Sáo Chương Dương Độ (Trần Quang Khải)

Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

Thề Non Nước (Tản Đà)

Thi Nhiệt (Lý Đông A)

Vịnh Tranh Gà Lợn (Vũ Hoàng Chương)

 

Huỳnh Sanh Thông dịch:

 

Thăng Long (Nguyễn Du)

Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du)

Hồ Hoàn Kiếm (Vô Danh)

Thăng Long Thành Hoài Cổ

 (Bà Huyện Thanh Quan)

Chiều Hôm Nhớ Nhà (Bà Huyện Thanh Quan)

Lên Đèo Hải Vân (Huỳnh Mẫn Đạt)

Vịnh Bức Dư Đồ Rách (Tản Đà)

Màu Tím Hoa Sim (Hữu Loan)

Nhà tôi (Yên Thao)

Sóng (Xuân Quỳnh)

Hai Sắc Hoa Tigôn (T.T.Kh.)

 

Lê Đình Nhất-Lang & Nguyễn Tiến Văn dịch:

 

Cùng khổ (Bùi Chát)

Hoa sữa (Bùi Chát)

Bài thơ một vần (Bùi Chát)

Đèn đỏ (Bùi Chát)

Ai? (Bùi Chát)

Những người đáng trọng & những kẻ đáng khinh

 (Lý Đợi)

 

Các tác giả khác dịch:

 

Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi (Nguyễn Đình Toàn)

 (Do Dinh Tuan dịch)

Bữa Tiệc Hòa Bình (Nguyễn Thị Thanh Bình)

 (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

Từ Một Cuốn Rún (Nguyễn Thị Thanh Bình)

 (Đinh Từ Bích Thúy dịch)

Vì Người Ta Cần Ánh Mặt Trời (Nguyễn Đắc Kiên)

 (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

 

  Thơ Cổ:

 

Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào? (Trần Từ Mai)

Đọc lại một số thi phẩm của Phan Châu Trinh (Phan Thành Khương)

Nhất Chi Mai - Chất Người Muôn Thuở (Phan Trang Hy)

Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

Nguyễn Trãi Huyễn-Thực và Sắc-Không (Trần Ngọc Ninh)

Quá Phong Khê, Một Bài Thơ Kỳ Tuyệt (Phạm Khắc Hàm)

Giới thiệu Bài Thơ "Trừ Tịch" của Đặng Đức Siêu (Trần Từ Mai)

Xuân Xưa Thơ Trước, Hồn Ngàn Mùa (Viên Linh)

Bạch Đằng Giang Phú (Trương Hán Siêu)

Thuật Hoài (Phạm Ngũ Lão)

Thuật Hoài (Đặng Dung)

Lâm Cảng Dạ Bạc (Nguyễn Trãi)

Ngày Xuân Đọc "Đào Hoa Thi" của Nguyễn Trãi (Trần Uyên Thi)

Thơ Lý Bạch (Đàm Trung Pháp)

 

  Thơ Tuyển:

 

Tình yêu mẹ - Tình yêu con (Nguyễn Thu Hằng)

Lòng Mẹ (Nguyễn Bính)

Hẹn Anh Một Ngày Tái Ngộ (Ngô Minh Hằng)

Những tháng tư buồn (Nguyễn Thị Hằng)

Nỗi buồn tháng 4 (Huy Uyên)

Khởi Hành (Trần Thúc Vũ)

Quà Tặng Trong Chiến Tranh (Trần Mộng Tú)

Mã Viện (tác giả: Vô Danh) (Nguyễn Văn Ngọc)

Mẹ và sự lặng im (Trần Mộng Tú)

Thơ Về Mẹ (Nhiều tác giả)

Hai Chữ Nước Nhà (Trần Tuấn Khải)

Đói (Bàng Bá Lân)

Lời Mẹ Dặn (Phùng Quán)

Nước Tôi (Nguyễn Văn Cổn)

Thơ Tưởng Niệm Ngày 30 Tháng Tư (Nhiều tác giả)

Thơ Tình Ngày Valentine (Nhiều tác giả)

Kỷ Niệm Chiến Thắng Đống Đa (Hoàng Phong Linh)

Thơ và Câu Đối Mừng Xuân (Nhiều tác giả)

Quốc Nam, Quốc Việt (Hồ Bạch Thảo)

Bài Thơ Vô Đề Viết Trong Trại Tù Tập Trung (Tú Kếu)

Thơ Tưởng Niệm Các Anh Hùng Tử Sĩ ở Hoàng Sa (Nhiều tác giả)

Thơ Tiền Chiến (Nhiều tác giả)

Bình Giảng: Đời Đáng Chán và Tống Biệt của Tản Đà (Thạch Trung Giả)

Tây Tiến (Quang Dũng)

Đêm Liên Hoan (Hoàng Cầm)

Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Cao Tiêu)

Biên Cương Hành (Phạm Ngọc Lư)

Thơ Xuân (Nhiều tác giả)

Đồng Lầy (Nguyễn Chí Thiện)

Ta Về (Tô Thùy Yên)

Trường Sa Hành (Tô Thùy Yên)

Kịch thơ: Hận Nam Quan (Hoàng Cầm)

 

  Tục ngữ (Proverbs)

 

Tre già măng mọc

Đục nước béo cò

Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng

Gà một mẹ đá nhau

 

  Danh Ngôn

  Đố vui (Puzzles)

 
 

 

© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@hotmail.com)