Head

 

 

Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ Quân Lực VNCH (Cao Tiêu)
22-04-2013 | THƠ

Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

 CAO TIÊU

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi nghe Dương Vào Minh tuyên bồ đầu hàng, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn II kiêm Quân khu II, tự sát tại nhà riêng. Cùng ngày, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ Binh, tự sát tại sân cờ bằng súng lục. Ngày 1 tháng 5, hôm sau, ba vị tướng lãnh khác chọn cái chết vinh. Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân đoàn IV kiêm Quân khu IV, tự sát bằng súng lục ngay tại sân cờ Bộ Tư Lệnh tại Cần Thơ. Cũng tại Quân khu IV, vị Tư lệnh phó là Thiếu tướng Lê Văn Hưng, lúc ấy đang ở tư dinh, làm y như vậy, bằng một phát súng lục khác. Một vị Tư lệnh sự đoàn khác cũng tuẫn tiết, là Tư lệnh Sư đoàn đoàn 7, Chuẩn tướng Trần Văn Hai.

30 Tháng Tư 1975 còn ghi thêm, qua những tin tức lượm lặt không đầy đủ tại Hải ngoại- cuộc tự sát của 22 sĩ quan cấp Tá Trung đoàn trưởng, Liên đoàn trưởng, Chiến đoàn hay Lữ đoàn trưởng, cộng với khoảng hơn 100 sĩ quan cấp Úy trong các chức vụ chỉ huy như Tiểu đoàn trưởng, Đại đội trưởng.

Nhân ngày tang lớn của Miền Nam, của Tự Do, Khởi Hành xin nghiêng mình trước những cái chết lẫm liệt của các Anh hùng Dân tộc kể trên, và đăng tải dưới đây Bài Văn Tế chung soạn bởi nhà thơ Cao Tiêu.


Than ôi!

Biển dâng nước: trống chuông gầm sóng

Trời xa quê, hươug khói ngời mây

Bước chính nhân đang dồn dập đâu đây

Hồn tử sĩ xin giáng đài chứng giám.


Người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Sống đã từng dũng cảm,

thác vẫn mãi anh linh

Tình đồng độì Hải Lục Không Quân gắn bó

Công thì gắng đua tranh, thủ thì lo tương trợ.


Khen thay đời chiến binh

sống chểt lẽ thuờng

Quí thay danh liệt sĩ khắc ghi thanh sử.


Nhớ linh xưa:

Ra trận xung phong dưới cờ phục vụ

Nào Pháo binh Thiết giáp,

Thủy quân lục chiến tấn công

Nào Biệt động Nhảy dù,

Phóng pháo Phòng không yểm trợ.

Đánh dư trăm trận, từ Cửu Long Đồng Tiến

đến Rừng Sát Miền Tây

 

Thu súng hàng kho, lúc Đức Lập Pleime

khi Vũng Rô Vạn Giả.

Vượt ruộng đồng sông rạch,

nào ngại gió suơng;

Băng rừng núi sình 1ầy, chẳng nề gian khổ.


Đất làm giường, mũ làm gối,

Nơi trú quân tấn thủ thất thuờng.

Súng là vợ, đạn là con,

Chốn đồn ải canh phòng tử thủ.


Này Bình long Anh dũng

Ta đã chiến thắng nêu cao.

Này Quảng trị Kiêu hùng

Địch phải rút thành bỏ chạy.


Ấy là nhờ binh sĩ chiến đấu can trường

Ấy là bởi toàn quân hy sinh hăng hái.


Muôn người như một:

Những tưởng Việt Nam Cộng Hòa chiến thắng,

thanh bình an lạc nhân dân

Nào ngờ Cộng sản Bắc Việt xâm lăng,

ly loạn đọa đầy xứ sở.


Ta không chiến bại mà thua đau

Địch chẳng binh hùng mà thắng đại

Nửa triệu quân đột ngột tan hàng

Bao đơn vị bàng hoàng rã ngũ.


Quyết không hàng giặc,

đồng đội nhiều ngườí tử chiến đến cùng

Thề chẳng làm tù,

Chỉ huy lắm vị hiên ngang tự xử.

Cảm thương cho anh hùng bất khuất,

phải giam lò "cái tạo" dã man

Xót xa cho chiến sĩ kiên cường,

lọt trúng bẫy bọn vô thần hung dữ.


Hôm nay


Chúng tôi nhân ngày Quốc Hận

Đốt nén tâm hương dâng hồn tử sĩ

Sống từng chiến đấu gian nan

Thác được tôn thờ tưởng lệ

Dù hồn đang oai linh hiển hiện

chiến trường xưa

Hoặc còn ẩn khuất nơi núi non hùng vĩ

Hay phải thác tại trại giam nước độc

rừng thiêng

Hoặc đi tìm Tự Do mà thuyền chìm đáy bể


Xin phù trợ cho đồng bào

chân cứng đá mềm

Xin dẫn dắt các đồng đội vững tâm bền chí

Để Đất Nước được thực sự dân chủ tự do

Để toàn dân thoát khỏi ách độc tài đảng trị.


Thượng hưởng.

Cao Tiêu

Khởi Hành số 18, Tháng Tư, 1998



 

 

Tho

 

 

  Thơ:

 

Thơ trích từ tạp chí THẾ ĐỨNG số 2 - Xuân Canh Tuất (1970) (Nhiều tác giả)

Khát Vọng (Trần Yên Hòa)

Chất Thơ Do Cảm Nhận Vài Kiến Thức Về Tư Tưởng Của Kant Và Hegel (Trần Văn Nam)

Các Bài Thơ Nôm Đầu Tiên Trong Văn Học Chữ Nôm (Tuệ Chương)

Đi Tìm Đường Bay Ưu Việt Của Thi Ca (Thái Tú Hạp)

Tứ Thơ Và Chiến Tranh: Chiến-Sự Dù Nhỏ, Cũng Đã Lưu-Dấu Trong Thơ (Trần Văn Nam)

Những Dời Đổi Địa Hình và Mối Hoài Cảm Thi Ca (Trần Văn Nam)

Đất Nước Của Ma Quỷ (Bùi Chí Vinh)

Thời Đại Tôi Đang Sống (Nguyễn Thị Thanh Yến)

Bài thơ độc vận “ơ” làm trong men rượu say (Trần Thoại Nguyên)

Đất nước mình ngộ quá phải không anh (Trần Thị Lam)

Những đôi mắt ngủ quên (Trương Đình Phượng)

Con đường mới | Mở cửa (Trương Đình Phượng)

Mưa lạnh trên đèo (Xuân Thao)

Ân Tình Mẹ (Trần Kiêm Đoàn)

Mùa Xuân Và Linh Hồn Mới (Trần Mộng Tú)

 

  Thơ Dịch:

 (Vietnamese Poetry translated into English)

 

Đàm Trung Pháp & Viên Linh dịch và chú giải:

 

Vịnh Hai bà Trưng (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)

Ăn Cỗ Đầu Người (Nguyễn Biểu)

Đoạt Sáo Chương Dương Độ (Trần Quang Khải)

Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

Thề Non Nước (Tản Đà)

Thi Nhiệt (Lý Đông A)

Vịnh Tranh Gà Lợn (Vũ Hoàng Chương)

Gọi Hồn (Viên Linh)

 

Huỳnh Sanh Thông dịch:

 

Thăng Long (Nguyễn Du)

Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du)

Hồ Hoàn Kiếm (Vô Danh)

Thăng Long Thành Hoài Cổ

 (Bà Huyện Thanh Quan)

Chiều Hôm Nhớ Nhà (Bà Huyện Thanh Quan)

Lên Đèo Hải Vân (Huỳnh Mẫn Đạt)

Vịnh Bức Dư Đồ Rách (Tản Đà)

Màu Tím Hoa Sim (Hữu Loan)

Nhà tôi (Yên Thao)

Sóng (Xuân Quỳnh)

Hai Sắc Hoa Tigôn (T.T.Kh.)

 

Lê Đình Nhất-Lang & Nguyễn Tiến Văn dịch:

 

Cùng khổ (Bùi Chát)

Hoa sữa (Bùi Chát)

Bài thơ một vần (Bùi Chát)

Đèn đỏ (Bùi Chát)

Ai? (Bùi Chát)

Những người đáng trọng & những kẻ đáng khinh

 (Lý Đợi)

 

Các tác giả khác dịch:

 

Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi (Nguyễn Đình Toàn)

 (Do Dinh Tuan dịch)

Bữa Tiệc Hòa Bình (Nguyễn Thị Thanh Bình)

 (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

Từ Một Cuốn Rún (Nguyễn Thị Thanh Bình)

 (Đinh Từ Bích Thúy dịch)

Vì Người Ta Cần Ánh Mặt Trời (Nguyễn Đắc Kiên)

 (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

 

  Thơ Cổ:

 

Cảnh Đẹp Thành Thăng Long Thời Tây Sơn Qua Thi Ca Đoàn Nguyễn Tuấn (Phạm Trọng Chánh)

Chinh Phụ Ngâm diễn nôm, một dịch phẩm thần kỳ (Đàm Trung Pháp)

Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào? (Trần Từ Mai)

Đọc lại một số thi phẩm của Phan Châu Trinh (Phan Thành Khương)

Nhất Chi Mai - Chất Người Muôn Thuở (Phan Trang Hy)

Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

Nguyễn Trãi Huyễn-Thực và Sắc-Không (Trần Ngọc Ninh)

Quá Phong Khê, Một Bài Thơ Kỳ Tuyệt (Phạm Khắc Hàm)

Giới thiệu Bài Thơ "Trừ Tịch" của Đặng Đức Siêu (Trần Từ Mai)

Xuân Xưa Thơ Trước, Hồn Ngàn Mùa (Nhiều tác giả)

Bạch Đằng Giang Phú (Trương Hán Siêu)

Thuật Hoài (Phạm Ngũ Lão)

Thuật Hoài (Đặng Dung)

Lâm Cảng Dạ Bạc (Nguyễn Trãi)

Ngày Xuân Đọc "Đào Hoa Thi" của Nguyễn Trãi (Trần Uyên Thi)

Thơ Lý Bạch (Đàm Trung Pháp)

 

  Thơ Tuyển:

 

Thủy Tang (Viên Linh)

Khói Trắng (Kiên Giang)

Tình yêu mẹ - Tình yêu con (Nguyễn Thu Hằng)

Lòng Mẹ (Nguyễn Bính)

Hẹn Anh Một Ngày Tái Ngộ (Ngô Minh Hằng)

Những tháng tư buồn (Nguyễn Thị Hằng)

Nỗi buồn tháng 4 (Huy Uyên)

Khởi Hành (Trần Thúc Vũ)

Quà Tặng Trong Chiến Tranh (Trần Mộng Tú)

Mã Viện (tác giả: Vô Danh) (Nguyễn Văn Ngọc)

Mẹ và sự lặng im (Trần Mộng Tú)

Thơ Về Mẹ (Nhiều tác giả)

Hai Chữ Nước Nhà (Trần Tuấn Khải)

Đói (Bàng Bá Lân)

Lời Mẹ Dặn (Phùng Quán)

Nước Tôi (Nguyễn Văn Cổn)

Thơ Tưởng Niệm Ngày 30 Tháng Tư (Nhiều tác giả)

Thơ Tình Ngày Valentine (Nhiều tác giả)

Kỷ Niệm Chiến Thắng Đống Đa (Hoàng Phong Linh)

Thơ và Câu Đối Mừng Xuân (Nhiều tác giả)

Quốc Nam, Quốc Việt (Hồ Bạch Thảo)

Bài Thơ Vô Đề Viết Trong Trại Tù Tập Trung (Tú Kếu)

Thơ Tưởng Niệm Các Anh Hùng Tử Sĩ ở Hoàng Sa (Nhiều tác giả)

Bình Giảng: Đời Đáng Chán và Tống Biệt của Tản Đà (Thạch Trung Giả)

Thơ Tiền Chiến (Nhiều tác giả)

Tây Tiến (Quang Dũng)

Đêm Liên Hoan (Hoàng Cầm)

Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Cao Tiêu)

Biên Cương Hành (Phạm Ngọc Lư)

Thơ Xuân (Nhiều tác giả)

Đồng Lầy (Nguyễn Chí Thiện)

Ta Về (Tô Thùy Yên)

Trường Sa Hành (Tô Thùy Yên)

Kịch thơ: Hận Nam Quan (Hoàng Cầm)

 

  Tục ngữ (Proverbs)

 

Tre già măng mọc

Đục nước béo cò

Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng

Gà một mẹ đá nhau

 

  Danh Ngôn

  Đố vui (Puzzles)

 
 

 

© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)