1. Head_
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Nguyễn Bắc Sơn, Chút Tình Mang Xuống Mộ Chí (Lê Mai Lĩnh)
      09-04-2012 | VĂN HỌC

      Nguyễn Bắc Sơn, Chút Tình Mang Xuống Mộ Chí

       LÊ MAI LĨNH (phóng bút)

      ... Từ đó chúng tôi quen nhau. Nhưng mãi tới hai năm sau, khi tuần báo Khởi Hành của Hội văn nghệ sĩ Quân Đội giới thiệu những bài thơ viết về chiến tranh "quá đã, quá xuất sắc, quá xuất thần" của Nguyễn Bắc Sơn, tình bạn và tình thơ giữa anh và tôi mới keo sơn gắn bó.

      1.



          Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn

      Điều không may cho Nguyễn Bắc Sơn, cũng là điều không may cho chúng tôi, những người bạn, những độc giả đang muốn viết về ông, là cho tới nay ông vẫn chưa về bên kia chín suối. Tại sao lại là điều không may cho ông, là tại vì Đời Là Một Bể Khổ, như Phật nói. Do vậy, chưa chết là chưa hết khổ. Mà, điều cũng là lạ, là đã rất nhiều lần ông muốn chết. Năm mới 15 tuổi, ông đã lên nghĩa địa, cắt gân tay, nằm chờ chết. Không may cho ông là có người vào thăm nghĩa địa, thấy ông nằm, máu me tùm lum tà la, người đó đã cứu ông, đã cản trở bước đi của ông "phiêu diêu miền cực lạc". Sau đó, ít nhất ông cũng có ba lần nhảy lầu tự tử, nhưng cũng chỉ sứt trán, rụng vài sợi lông, trầy da, tróc vẩy chút chút. Không chết, trong khi đời là bể khổ. Điều này Phật nói, chắc chắc là đúng, chứ không phải Lê Mai Lĩnh tôi nói. Thế là ông tiếp tục Ngụp, Lặn, Bơi, Nhảy, Đánh Đu trong bể khổ.


      Như thế ít ra là ông đã chơi cho tới "bốn lần" thách thức, đùa với ông Tử Thần, và thách đố, đánh đu với ông Định Mệnh. Thấy ông Nguyễn Bắc Sơn chịu chơi quá, ông Tử Thần, và ông Định Mệnh chào thua.

      Còn như cái việc ông NBS chưa "an giấc nghìn thu" là một điều không may cho chúng tôi. Là tại làm răng rứa? Xin thưa là tại vì: nếu như ông "thôi còn thở" khi viết về ông, chúng tôi hoàn toàn tự do, viết hưu, viết vượn, viết cọp, viết beo, viết thằn lằn, rắn rết, chúng tôi không sợ. Khi vui, chúng tôi cho ông lên tận chín tần mây. Khi buồn, chúng tôi đạp ông xuống bùn đen. Khi thương, chúng tôi gọi ông là thi hào, thi bá. Khi buồn, chúng tôi gọi ông là nhà thơ tép rêu, cò con.


      Thật tội nghiệp, khó khăn cho chúng tôi là ông còn thở. Nên viết khen ông, thì sợ rằng, ông cho chúng tôi là một: lũ nịnh bợ, thấy ông là Thi Bá nên tìm cách tâng bốc để được đến gần ông. Nếu viết chê ông, thì sợ rằng, ông sẽ đánh cho chúng tôi sặc máu đầu có làm đơn năn nỉ xin ông tha, ông cũng không tha. Tôi phải viết hoa hai chữ Võ Sĩ. Thưa ông NBS, tôi biết sợ ông quá đi chứ. Tôi sợ nhất ở ông là ngón đòn "Song Cước" và nhiều ngón đòn khác nữa... Tôi đã có những đêm trăng Phan Thiết, chứng kiến ông dạy võ cho những đệ tử choai choai của ông dưới những tàn lá cây dừa, trước sân nhà của một người bạn gần cổng chữ Y.

      Từ những đêm hôm ấy, tôi bắt đầu "kết-mô-đen" với ông.


      2.


      Bấy giờ là tháng 9 năm 1968, sau khi tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi chọn về tiểu khu Bình Thuận ( Phan Thiết). Sau khi trình diện phòng Tổng Quản Trị/ Ban I, viên Đại úy Trưởng Phòng cho tôi thêm một tuần nghỉ phép, để sau đó đến nhận Sự Vụ Lệnh ra đơn vị là một đại đội Địa Phương Quân đóng gần cổng chữ Y, đường lên Quân Y viện Đoàn Mạnh Hoạch, cũng là đường lên sân bay.

      Trong một tuần nghỉ phép này, không biết do ai giới thiệu, tôi quen anh Nguyễn Văn Hải, tên khai sinh của thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn. Trong lần đầu gặp anh cùng với một số anh em văn nghệ địa phương trong một cuộc rượu, anh em yêu cầu tôi đọc thơ. Lần đó tôi đọc thơ và tôi đã khóc giữa cuộc rượu. Tôi không biết và nhớ là tôi đã khóc. Mãi tới lần sau đó, anh em nói cho tôi biết.

      Từ đó chúng tôi quen nhau. Nhưng mãi tới hai năm sau, khi tuần báo Khởi Hành của Hội văn nghệ sĩ Quân Đội giới thiệu những bài thơ viết về chiến tranh "quá đã, quá xuất sắc, quá xuất thần" của Nguyễn Bắc Sơn, tình bạn và tình thơ giữa anh và tôi mới keo sơn gắn bó.

      Tôi cũng được biết, người cha của anh cũng tham gia Kháng Chiến và tập kết như người cha của tôi. Và hẳn nhiên, người mẹ của anh cũng như người mẹ của tôi phải buôn bán tảo tần, đầu sông cuối chợ, mưa mai nắng trưa, nuôi con cho chồng "đi làm cách mạng". Còn như các ông càng làm cách mạng chừng nào thì loài người càng thêm sặc máu, nói như thơ NBS, thì đó là chuyện về sau. Nhưng trước nhất, vào cái thời điểm Thực Dân Pháp xâm lăng, "Đúng là các ông đã đi làm cách mạng"


      Chúng tôi thành lập một nhóm văn nghệ tỉnh lẽ, gồm các anh: Tạ Chí Đại Trường, bấy giờ là trung úy phục vụ tại quân Y viện Đoàn Mạnh Hoạch, nhà thơ Từ Thế Mộng, nhà thơ Nguyễn Như mây, nhà văn Phạm Văn Nhàn, nhà thơ Nguyễn Dương Quang, nhà thơ Nguyễn Quốc Hùng, nhà thơ Mai Việt, nhà báo Nguyễn Ngọc Hương, nhà thơ Phạm Cao Hoàng, nhạc sĩ Phan Anh Dũng, nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn và tôi... Sương Biên Thùy, một bút hiệu rất chi Cải lương, Hồ quảng.

      Chúng tôi chủ trương và phát hành tờ Nguyệt san Quê Hương, ra được 2 số. Đó là tờ tạp chí văn học, nghệ thuật đầu tiên trong lịch sử văn chương chữ nghĩa của tỉnh Bình Thuận.

      Tôi còn nhớ trong số 2, chủ đề viết về người nữ sinh Phan Thiết, có một bài phỏng vấn nhiều người, nhiều giới, xem họ nghĩ gì về người nữ sinh Phan Thiết. Bài phỏng vấn này do Nguyễn Bắc Sơn phụ trách.

      Trong bài phỏng vấn đó, có một cô nữ sinh Phan Bôi Châu trả lời rất vui, rất ngộ nghĩnh. Cô nói: "Cha mẹ chúng tôi sinh chúng tôi ra đâu phải để cho các ông nhìn."


      Tôi biết, trước đoạn đường gần trường Phan Bội Châu có một quán cà phê vỉa hè. Thường thường, mỗi ngày, mỗi buổi sáng, trước khi tới nhiệm sở, anh em chúng tôi, đa số là sĩ quan, ghé vào quán uống một ly cà phê đầu ngày, nhưng chủ đích thật ra là ngồi để chiêm ngưỡng nhan sắc của các cô.

      Có lẽ cô này phàn nàn, khiếu nại, ta thán, nguyền rủa chúng tôi về trường hợp các cô "bị nhìn" như thế.

      Vào năm 1971, tôi không nhớ tháng nào, tôi nạp đơn ứng cử dân biểu. Hình như điều này không làm cho NBS vui, nên trong thời gian đó tôi chạy ngược chạy xuôi, lầm lũi ngày đêm đi kiếm, đi xin phiếu, đi mót, đi ăn mày phiếu, Nguyễn Bắc Sơn đã không giúp tôi dù chỉ một tiếng nói. Tôn trọng tài năng của bạn, tôn trọng tự do của bạn, lẽ nào tôi ghét NBS về chuyện này.

      Tôi là ứng cử viên đối lập, nên sau khi tôi thất cử, Đại tá Ngô Tấn Nghĩa (Tỉnh Trưởng Bình Thuận) đổi tôi lên Đà Lạt.


      Đêm 1/4/75 Đà Lạt di tản. Đêm hôm sau, tôi định ngủ tại nhà Nguyễn Bắc Sơn chờ sáng mai tìm đường bênh. Đêm đó, lính tan hàng, vô kỷ luật, đã nhiều lần chĩa súng vào nhà NBS đòi mở cửa. Vợ chồng con cái NBS nằm trên lầu, tôi nằm núp dưới bàn dưới lầu. Nhiều lần tình trạng như thế xảy ra, và tôi phải quyết định từ giã gia đình NBS từ đêm đó, trên chiếc Honda, tôi chạy về hướng Bình Tuy.

      Sau ngày 30/4/1975, người cha của thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn trở về, không biết gia đình của NBS đã nói như thế nào mối liên hệ tình cảm giữa vợ chồng tôi và vợ chồng NBS. Ông cụ, bấy giờ là Đại tá Quân đội Nhân dân, đã đến thăm và tặng quà cho vợ chồng tôi trong trại tù. Ông cụ cũng có hứa sẽ làm đơn "bảo lãnh" cho vợ tôi về sớm

      Một thời gian ngắn sau, ông cụ qua đời trong một tai nạn xe hơi.

      Sau này về Phan Thiết, tôi được dư luận cho biết: là cụ chết do sự tranh chấp địa vị và quyền lợi giữa những người miền Nam tập kết và những người Hà Nội vào tiếp thu. Lại có dư luận khác, cái chết của cụ là do sự tranh chấp, thanh toán nhau giữa cánh theo Trung Quốc và cánh theo Liên Sô.

      Những đoạn trích sau đây nằm trong một bài thơ Nguyễn Bắc Sơn làm sau khi cụ mất 5 năm, bài Chuyện Hai Bố Con Tôi. Bài thơ quá hay. Hình như bài thơ nào của NBS cũng quá hay.


      ...

      Bố tôi qua đời đúng năm năm

      Tôi viết bài thơ này Để tâm sự cùng một người khuất núi


      Thuở sinh tiền

      Ông rất thương tôi

      Và tôi rất thương ông

      Nhưng hai chúng tôi

      Đúng là hai người đàn ông có bề ngoài lãnh đạm.


      Bố tôi ước mơ làm cho loài người sung sướng

      Và thế là ông từ tuổi thanh xuân

      Cùng bạn bè đi làm cách mạng

      Ông càng làm cách mạng chừng nào

      Thì loài người càng thêm sặc máu

      Tôi ước mơ cõi đời tốt dẹp

      Và thế là tôi làm thơ ca tụng loài người

      Tôi càng ca tụng chừng nào

      Thì loài người càng xấu xa chừng nấy

      ...

      ...

      Nếu mỗi chúng ta có làm điều gì tốt đẹp

      Chẳng qua là để phát huy một tấm lòng son

      Còn trái đất cứ ngày đêm sáng tôi

      Thịnh đã rồi suy

      Suy rồi lại thịnh


      Bố ơi bố đã ra về

      Con ở lại làm thơ và chữa bịnh

      Chúng ra đến nơi này để phát huy một tấm lòng son

      Thành hay bại chỉ là chuyện vặt


      Rất nhiều bài thơ của thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn, từ trong tập Chiến Tranh Việt Nam Và Tôi, ra đời cách đây đã hơn 30 năm, đến những bài thơ làm mới nhất sau này, đều có cái size, cái kích thước, cái tầm cỡ rất chi là Nguyễn Bắc Sơn. Không thể lầm lẫn với người khác. Cái size, kích thước, tầm cỡ của một thi hào.


      Do vậy, khi đọc thơ NBS, quí độc giả có nổi da gà, nhịp tim đập mạnh, hơi thở dồn dập, muốn cười to khóc thét, muốn la toáng lên là do chất thơ của NBS đang ngấm vào người quí vị. Nhưng điều này cam đoan không có hại cho sức khỏe. Hoàn toàn an toàn trên xa lộ. Xa lộ thơ.


      Ngày 30.11.1983 tôi ra khỏi trại tù Z30A, Gia Rai/Long Khánh, trại phát cho tôi 50 đồng và hai bộ quần áo. Như các bạn tù khác, ra tới chợ Gia Rai tôi bán hai bộ áo quần tù, được bao nhiêu tiền tôi không còn nhớ. Tôi đã ăn một tô phở và uống hai ly nước mía.


      Tất cả bao nhiêu và còn lại bao nhiêu, tôi không còn nhớ. Nhưng có một điều mà tôi đã nghe nói trước khi còn ở trong trại là tôi không bao giờ quên. Đó là, khi những người đi học tập cải tạo về tài xế xe đò cho đi không lấy tiền, cũng có lúc hành khách cùng chuyến xe, họ tranh nhau trả tiền cho người tù.

      Tôi ăn phở, tôi uống hai ly nước mía là quá ít. Khi đã có Quới Nhơn giúp đỡ như thế, tại sao mình không ăn nhiều hơn, không uống nhiều hơn cho cái bao tử được...

      Tôi đưa tất cả số tiền còn lại cho người tài xế để mua vé về Phan Rang. Người tài xế nói là với số tiền đó tôi chỉ đi tới Phan Thiết. Và tôi đã đi Phan Thiết.

      Từ bến xe Phan Thiết, tôi đi bộ về nhà NBS. Cả nhà vui mừng khi thấy tôi trở về. Bà mẹ của Sơn cầm tay tôi và khóc. Khi đó, nhìn lên bàn thờ tôi đã thấy chân dung của người cha của NBS.

      Sau một đêm ngủ đỗ, sáng hôm sau mẹ của NBS cho tôi 100 đồng và NBS chở tôi lên bến xe bằng chiếc Honda Dame.


      Ngày 20.4.2005 vừa qua. Khi gọi điện thoại về cho chị NBS xem chị đã nhận được tiền tôi gởi về tặng vợ chồng chị hay chưa. Chị cho biết ngay hôm sau ngày tôi gởi điện báo tin trước là tôi đã gởi tiền. Trong câu chuyện thăm hỏi, chị cho tôi biết, cái xe Honda Dame đó, vào thập niên 80, anh NBS đã cho ai rồi, trong nhà không biết. Công việc của NBS bây giờ là mỗi ngày, theo Thi sĩ Từ Thế Mộng cho biết qua điện thoại, là mỗi sáng, NBS ra đường rong chơi. Trước khi đi, vợ hay con cho vài chục ngàn dằn trong túi. Nhưng khi ra đường, thấy ai nghèo khó, hành khất là anh cho tất, tặng tất. Hôm sau cũng thế, ngày mai cũng vậy.

      Vậy nhân đây tôi xin đề nghị, là những ai ở Hải Ngoại có lòng Từ Bi, Bác Ái muốn giúp đỡ người nghèo tại việt Nam, xin liên lạc với bạn tôi, Thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn, nhà số 5, đường Chu Văn An, Phan Thiết.

      ... Cam đoan tiền đến đúng tay người nhận.


      3.


      Nhưng có thật ban tôi. thi sĩ Nguyên Bắc Sơn làm thơ hay không?


      Để trả lời câu hỏi này, tôi xin mạo muội để thưa rằng: Nguyễn Bắc Sơn không làm thơ.

      Nguyễn Bắc Sơn chỉ là một gã thư ký riêng "rất đặc biệt" của nàng thơ "đẹp, múp và mướt, trường túc, núi, đồi nhấp nhô. Quá đã".

      Nguyễn Bắc Sơn chỉ là tên tà lọt làm cái công việc chỉ ghi chép cho ông Thần Thơ hay ông Thánh Thơ.

      Hay nói một cách khác, thơ của Nguyễn Bắc Sơn viết là "thơ Thần, thơ Thánh, thì một người tự nhận mình là một tên DU ĐÃNG như NBS, không thể làm được những bài thơ thần sầu quỉ khốc như thế:


      ... Trên trái đất có rừng già, núi non cùng sông biển

      Trong Nguyễn Bắc Sơn có một kẻ làm thơ

      Kẻ làm thơ đôi khi biến thành du đãng

      Hoặc làm thơ theo khí hậu từng mùa

      ...

      (chân dung Nguyễn Bắc Sơn, trong Chiến Tranh Việt Nam Và Tôi)


      Hẳn quí độc giả còn nhớ như tôi, là trong Quốc văn Giáo Khoa Thư (nếu tôi không lầm) có bài nói về Chăn Trâu, có câu:

      "Ai bảo chăn trâu là khổ. Chăn trâu sướng lắm chứ?"


      Tôi nói lại theo cái ngu của tôi:

      "Ai bảo làm thơ là sướng, làm thơ khổ quá đi chứ?"

      Làm thơ khổ quá đi chứ?


      Tôi nhớ cách đây 50 năm, khi tôi mới tập tễnh làm thơ để thực hiện "giấc mơ làm thi sĩ" mẹ tôi còn sống, nhưng tôi thử xem như mẹ tôi đã chết, để làm bài thơ "khóc mẹ". Tôi bắt đầu bài thơ Khóc Mẹ với câu:

      "Than ôi mẹ đã đi rồi"

      Thì đúng rồi, Mẹ đã đi rồi, nhưng mà là: mẹ tôi đi chợ.

      "Đi rồi" trong ý nghĩ của tôi là chết. Nhưng mẹ tôi đang ngồi nấu ăn kia, mẹ tôi đã chết đâu. Nên câu thơ "Than ôi mẹ đã đi rồi" vừa là câu đầu cũng là câu cuối.

      Nhưng đến năm 1988, mẹ tôi chết thật, thì từ đó tới nay tôi chưa làm được bài thơ nào để Khóc Mẹ.

      Đấy, quí vị thấy chưa Làm Thơ Khổ Quá Đi Chứ.


      Một ví dụ khác để quí vị thấy làm thơ khổ quá đi chứ.

      Năm nay tôi 70 tuổi, hai người đàn bà tôi đang yêu là cô Condoleezza Rice và bà Hillary Clinton. Thế mà tôi yêu từ năm tôi 68 tuổi nay là 70 tuổi, tức là đã hai năm yêu thầm yêu trộm, yêu như điên như cuồng, tôi vẫn chưa làm được một bài thơ tỏ tình cùng lúc với hai nàng.

      Đấy, quí vị thấy chưa: làm thơ khổ quá đi chứ.

      Nhưng lần này thì tôi biết tại mần răng tôi làm thơ khó. Đó là, trong thâm ý của tôi là để tiện việc sổ sách. Tôi chỉ làm một bài thơ như để tỏ tình với cả hai nàng. Vì rằng, làm thơ khổ quá đi chứ, nên tôi ngu gì để làm hai bài cho hai nàng.

      Cùng một lúc cho nhọc thân và mất thời gian. Thời gian là dollar kia mà. Nhưng cái dễ là giá như hai nàng là một cặp song sinh. Nhưng cái khó là hai nàng, người đầu sông kẻ cuối chợ. Nói rõ ra là, tính cách của hai nàng hoàn toàn khác nhau. Một nàng, thì nước da hồng quân, mà theo Cổ Nhân phán, xin lưu ý với quí vị là Cổ Nhân phán chứ không phải là tôi. Theo Cổ nhân "nước da hồng quân cởi quần không kịp". Tôi không biết Cổ Nhân muốn nói gì.

      ...

      ...

      Vậy thì, một tên tự nhận mình là du đãng như Nguyễn Bắc Sơn, thì mần răng có thể cho ra đời những bài thơ như Thần như Thánh như thế. Tôi nghi ngờ tài năng của NBS lắm. Tôi đã để ra nửa đời nghiên cứu, tra hỏi, thẩm định, cân nhắc, tìm tòi, đắn đo, suy tính.

      Nay, tôi đi tới kết luận, là trong đầu của Nguyễn Bắc Sơn, có một nàng thơ xinh đẹp, múp mướt, trường túc... cũng có thể là trong đầu NBS có một ông Thần Thơ hay Thánh Thơ nằm vùng, đóng chốt, mai phục, trong đó. Có khi NBS nói: "Làm Thơ Theo Khí Hậu Từng Mùa" có nghĩa là NBS chờ cho tới khi Nàng Thơ, Thần Thơ, Thánh Thơ đọc và tên tà lọt Nguyễn Bắc Sơn cứ thế chỉ ghi ghi chép chép. Một người tự nhận mình là Du Đãng, là NBS, không thể làm được những bài thơ dễ dàng, hay ho, mê ly rùng rợn, vô tiền khoáng hậu như thế, nếu không có Nàng Thơ (....) Thần Thơ, Thánh Thơ thường trực, đóng chốt, mai phục, nằm vùng trong đầu Nguyễn Bắc Sơn để đọc, để gà, để làm được những bài thơ người chết cũng đội mồ dậy đòi xem, đòi đọc cho bằng được Từ đó, tôi cũng suy ra rằng, những lúc Nguyễn Bắc Sơn "lên cơn nổi khùng, quậy, phá, điên, nhảy lầu" đó cũng là lúc ông Thần Thơ và ông Thánh Thơ đang gây chiến tranh, mà chiến trường là cái đầu của NBS, để tranh đoạt chiến lợi phẩm là Nàng thơ...


      Nếu những ai đó, kia, này, nọ... cũng có những nghi ngờ như tôi, hãy cùng tôi góp tiền lại, áng chừng 1.000.000.000 đô la, bắt cóc NBS, có hay không Nàng Thơ, Thần Thơ, Thánh Thơ mai phục, nằm vùng, đóng chốt...


      4.


      Sau đây là những câu thơ của Thần Thơ, của Thánh Thơ được chép chép ghi ghi bởi Thi sĩ du đãng Nguyễn Bắc Sơn.


      ...

      Bên cạnh nhà tôi

      Sống một kẻ láng giềng

      Y thường phóng uế trước nhà

      Khi con gà nòi của y đi lạc

      Y nhìn vào nhà tôi

      Và chửi thề như máy

      Tôi đinh đến mùa hè này

      Tôi sẽ đá Y một đá

           Viết Tặng Những Nhà Cách Mạng Giả Hình Trong Thời Đại Tôi - CTVNVT)


      ...

      Khi em chết đi

      Em sẽ thành sấm sét

      Thành bụi vàng

      Thành gió thành mây

      Trong vũ trụ hoài hoài sinh diệt


      Con sinh ra đời

      Chắc gì đã là điều đáng vui

      Bạn ta gục chết

      Chắc gì đã là điều đáng tiếc.

          Con Trai Ta Ra Đời, Người Bạn Ta Nằm Xuống. CTVNVT)


      ...

      Có khi nghĩ trời sinh một mình ta là đủ

      Vì đám đông quậy bẩn nước hồ đời

      Nhưng lại nghĩ trời sinh thêm bè bạn

      Đễ quàng vai ấm áp cuộc rong chơi


      Dù mỗi ngày ta xé đi năm mười tờ lịch

      Thì thời gian đâu có chịu trôi nhanh

      Dẫu đen bạc là nơi cố xứ

      Bỏ đi biền biệt cũng không đành

      (Mai Sau Dù Có Bao Giờ - CTVNVT)


      ...

      Ta vốn ghét đàn bà như cứt

      Nhưng vì sao ta lại yêu em

      Ôi mắt em nhìn như là bẫy chuột

      Ta quàng xiên nên đã yêu em

      (Trên Đường Tới Nhà Xuân Hồng- CTVNVT)


      ...

      Kẻ thù ta ơi những đứa xâm mình

      Ăn muối đá mà hăng say chiến đâu

      Ta vốn hiền khô ta là lính cậu

      Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo

      Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo

      Xem cuộc chiến như tai trời ách nước

      Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước

      Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi

      Chiến tranh này cũng chỉ l~một trò chơi

      Suy nghĩ làm gì lao tâm khổ trí

      Lũ chúng ta sống một đời vô vị

      Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau

      Mượn trời đât làm nơi đốt hỏa châu

      Những cột khói giả làm rồng thiêng uốn khúc

      Mang bom đạn chơi trò chơi pháo tết

      Và máu xương làm phân bón rừng hoang

      (Chiến tranh Việt Nam Và Tôi)


      Sau đây là hai bài thơ của Thần của Thánh, được ghi ghi chép chép bởi tên tà lọt, thi sĩ du đãng Nguyễn bắc Sơn.


      Bài Thơ Tình Viết Khi Nổi Sùng


      Thời mạt thế người ta yêu nhau bằng cái búa

      Và tặng nhau hàng chục nhát dao găm

      Anh, kẻ chập chờn giữa càn khôn lảo đảo

      Tặng cho em nguyên một đóa trăng rằm


      Thôi, thời đại chúng ta, thời của những thằng lăn dưa đá cá

      Tâm hồn em ô nhiễm cũng là thuờng

      Trời đất đã cho anh nụ cười bất sá

      Sá gì cái chuyện tơ vương


      Gặp Mùa Gió, Lòng Mình Cũng Gió

      (Chép tặng Lê Văn Chính)

      Rồi một hôm gió bấc có ai ngờ

      Ai lãng đãng ngờ chi con gió bấc

      Cây bạch đàn trước cửa nhà em đang còn hay đã mất

      Sao anh hình dung như có vết thương

      Đang loang ra trong vũng máu vô thường

      Truyền tín hiệu đến ngậm ngùi vô tận

      Anh có nghe chuyện đời em lận đận

      Những chuyên đi buôn, những chuyến xe đò

      Tiếng nói sau lưng lời chua chát nhỏ to

      Giòng lệ em khô nhưng vẫn là giòng lệ mặn

      Đã qua chưa ôi cái đời đăng đẵng

      Đứng bên kia sông cũng ngó thấy điêu tàn

      Băng giá chuyển mình băng giá mau tan

      Tiếc câu thơ anh không thể làm cho đời em ấm cúng

      Tiếc loài người bày ra xích xiềng huyễn vọng

      Đến nỗi quên mình là hạt giống vô biên

      Câu chuyện tình như ngọn gió miền miền

      Thổi ấm Kinh Thi thổi lạnh hồn Kinh Dịch.


      5. và 6.


      Trong chiến tranh Việt Nam vừa qua, hậu quả của nó đưa tới nhiều mất mát, nhiều tai ương, khổ đau cho nhân dân. Những mất mát, khổ đau đó, đã có nhiều người nói tới, viết ra, khắc ghi trong lòng. p>Nhưng có một điều, chưa ai nói tới, là cũng từ cuộc chiến tranh đó, lịch sử đất nước ta, xét về lãnh vực văn học, đã sản sinh ra được hai nhà Thiên Tài. Đó là, về âm nhạc có Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn, về Văn Chương có Thi Sĩ Nguyễn Bắc Sơn.

      Trịnh Công Sơn có những bản nhạc phản chiến, Nguyễn Bắc Sơn cũng có những bài thơ phản chiến.


      Hẳn nhiên bên cạnh đó cũng có những khác biệt, như Trịnh Công Sơn phản chiến khi ông đứng ngoài cuộc chiến. Nguyễn Bắc Sơn phản chiến khi ông là MỘT NGƯỜI LÍNH TRONG CUỘC CHIẾN.

      Một khác biệt nữa, sau 1975 Trịnh Công Sơn đã đầu hàng CS, trong khi Nguyễn Bắc Sơn vẫn cho mình sự ngang tàng của MỘT NGHỆ SĨ, KẺ SĨ.

      Dù có những khác biệt đó, nhưng chúng ta phải công tâm và rộng lượng để xác nhận rằng: CẢ HAI ÔNG ĐỀU LÀ THIÊN TÀI CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM.

      (Lê Mai Lĩnh tôi xin trở lại vấn đề này trong một bài viết khác)

      ...


      Lời sau chót gởi người bạn xưa. Phan Thiết


      Thưa ông, Biết ông là một võ sĩ, tôi đã tuyên bố, là : tôi sợ ông rồi. Nhưng điều tôi muốn thưa với ông, rằng thì là, đừng vì bài viết này mà ông cao hứng đùa thêm nữa với Tử Thần và Định Mệnh.

      Đêm qua, tôi đã gặp Tử Thần và Định Mệnh, hai ông ấy có nhắn với tôi rằng: mày hãy nói cho thằng bạn mày, tên thi sĩ du đãng Nguyễn Bắc Sơn, là đừng đùa dai với bọn ông. Những lần trước, ông tha. Nhưng lần này mà đùa nữa, bọn ông bắt.

      Tôi được Thi Sĩ Từ Thế Mộng cho biết, thứ tiêu khiển từ lâu nay của ông, là muốn làm một vị Bồ Tát, đem tiền bố thí cho chúng sanh. Ông yên tâm, tôi sẽ có tiền mang Về cho ông chơi trò chơi Từ Bi, Bát Ái. Để ông chơi một mình không vui. Tôi sẽ chơi với ông, cùng với Nguyễn Như Mây, Nguyễn Ngọc Hương, Từ Thế Mộng. Chúng mình sẽ lập một cái bang mệnh danh là Ngũ Hổ Bình Tài. Chúng mình sẽ mua năm chiếc xe đạp cho Ngũ Hổ. Mỗi sáng, sau chầu cà phê chào bình minh đầu ngày, chúng mình sẽ lên đường vào tận hang cùng ngõ hẹp, tặng tiền cho người nghèo. Mà là tặng tiền Mỹ. Đô la xanh. ok.

      Tôi đang gom tiền. Khi nào đủ một tỉ đô la. Sáng hôm sau đã có mặt tôi tại Phan thiết.

      Sau chót, xin ông hãy xem bài viết này như một món quà tặng ông, chị Hồng và các cháu, cũng như tặng bạn bè của chúng ta ngày xưa ở Phan Thiết.

      ...

      Mỹ Quốc 5/5/05

      (bạn ông).


      Lê Mai Lĩnh

      (Nguồn: Thư Quán Bản Thảo, Tập 20 tháng 7-2005
      Chủ đề nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn



      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Nguyễn Bắc Sơn, Chút Tình Mang Xuống Mộ Chí Lê Mai Lĩnh Phóng bút

    3. Link (Nguyen Bac Son)

       

      Bài viết về Nguyễn Bắc Sơn

       

      Vĩnh biệt Nguyễn Bắc Sơn - TQBT 20: chủ đề Nguyễn Bắc Sơn (Trần Hoài Thư)

      Tiễn biệt Nguyễn Bắc Sơn (Nguyễn Lương Vỵ)

      Nguyễn Bắc Sơn (Võ Phiến)

      Nguyễn Bắc Sơn Và Tiếng Thơ Bi Hài

        (Nguyễn Lệ Uyên)

      Nguyễn Bắc Sơn, Chút Tình Mang Xuống Mộ Chí (Lê Mai Lĩnh)

      Nguyễn Bắc Sơn, Nhà Thơ Đông Phương

       (Từ Thế Mộng)

      Nguyễn Bắc Sơn (Đặng Tiến)

      Tôi ngại quê nhà nhưng lại hoài hương

        (Trần Hoài Thư)

      Thi phẩm Chiến tranh Việt Nam và tôi của Nguyễn Bắc Sơn (Trần Hoài Thư)

      Nguyễn Bắc Sơn và ... (Nguyễn Lâm Cúc)

      Thy Đạo (Đỗ Hồng Ngọc)

      Thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn từ Khu rừng Lau đến Khu rừng Phong Du (Nguyễn Văn Hiếu)

       

      Tác phẩm

       

      Tự Bạch

      Trang Thơ Nguyễn Bắc Sơn

      Chiến tranh Việt Nam và Tôi (Thư Quán Bản Thảo)

      Chiến tranh Việt Nam và Tôi (talawas)

       

       

      Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Về Houston (Trần Hoài Thư)

      - Hoàng Ngọc Biên và "Tiểu Thuyết Mới”

      (Nguyễn Vy Khanh)

      - Ta về Một Bóng Trên Đường Lớn... (Thảo Dân)

      - Sài Gòn, Ngày Trở Lại (Nguyễn Vy Khanh)

      - Thu Thuyền, Trần Trung Ðạo, Đức Phổ, Phan Xuân Sinh, Lâm Chương (Trần Doãn Nho)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Tạp Văn (Nguyễn Kim Phượng)

      - Văn học miền Nam ở hải ngoại (Viên Linh)

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975: Nhận Định, Biên Khảo, Thư Tịch (Nguyễn Vy Khanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Vĩnh Phúc,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Tiêu,  Cao Đông Khánh,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Chu Tử,  Diễm Phượng,  Diên Nghị,  Doãn Dân,  Du Tử Lê,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)