1. Head_

    Bùi Kỷ

    (5.1.1888 - 19.5.1960)

    Thu Hồ

    (14.10.1919 - 19.5.2000)
    Ad-25-TSu-2301360532 Ad-25-TSu-2301360532

     

     

    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Lê Hân, Nhà Thơ (Nguyễn Vy Khanh) Ad-21 Ad-21 (Google - QC3) (Học Xá)

      11-3-2024 | VĂN HỌC

      Lê Hân, Nhà Thơ

        NGUYỄN VY KHANH
      Share File.php Share File
          

       


            Nhà thơ Lê Hân

      Nhà thơ Lê Hân, tên thật cũng là bút hiệu, sinh ngày 02-02-1947 tại Hội An, Quảng Nam. Du học tại Hoa Kỳ năm 1967, từng sống và làm việc tại Montréal, Toronto, Mississauga (Canada), San Jose (Hoa Kỳ). Hiện định cư và hưu trí tại Quận Cam, CA. Khởi viết trên báo Tuổi Xanh (Sài Gòn) thập niên 1960. Ngưng một thời gian dài và trở lại sinh hoạt văn học, xã hội từ năm 1997. Hiện chủ biên trang mạng www.saigonocean.com và điều hành nhà xuất bản Nhân Ảnh (Hoa Kỳ).


      Đã xuất bản hai tuyển thơ Tình Thơm Mấy Nhánh (Nhân Ảnh Hoa Kỳ, 2003) và Ngọn Tình Lục Bát (Nhân Ảnh, Hoa-Kỳ, 2016), cùng tham gia biên tập một số tuyển tập văn học và tạp chí Ngôn Ngữ (5-2019-).


      Nhìn chung, Lê Hân sáng tác thơ với ngôn ngữ tự nhiên, không làm dáng, kiểu cách dù con chữ và từ thơ cũng đầy bất ngờ và thi tỉnh đong đưa, mời gọi người đến với thơ ông. Ở thể loại lục bát dân tộc cũng như tự do!


      Trong Tình Thơm Mấy Nhánh (2003), Lê Hân đã tâm sự con đường đưa ông đến với thơ:

      “... không nhớ làm thơ từ lúc nào

      hình như từ thuở biết chiêm bao

      thấy ông Nguyễn Khuyến ngồi câu cá

      thấy bác Kế Xương hát ả đào (...)


      tôi đã làm thơ như vọc đất.

      như leo trèo, chạy nhảy, tắm sông...

      tôi đã làm thơ ngon trớn nhất

      khi niềm vui chất ngất trong lòng (...)


      chừ tuổi trung niên sung sức lại

      khi vui tôi vớ vẩn làm thơ

      thơ của tôi như cô gái đẹp

      hiền lành, dí dỏm lẫn lẳng lơ


      và vẫn như xưa, nguyên quốc tịch

      lè phè như thể gã trai tơ

      vẫn chỉ cưu mang tình dân tộc

      chân thành giản dị... rất vu vơ”

      (Thơ Tôi, tr. 12, 13)

      Một tâm hồn nhạy cảm với những câu thơ tình trực diện:

      “con bướm bay và bay bướm tôi

      chỉ vì đời có những vòng môi

      gọi tôi và cũng nghe tôi gọi

      vô lượng lòng cho, nhận, thế thôi


      sẽ chẳng bao giờ muốn phụ ai

      nếu cùng độ lượng đứng chung vai

      tình tôi giàu đủ chia thiên hạ

      đâu sá gì riêng cõi trang đài”

      (Chân Tướng, tr. 24).

      Hồn thơ lãng đãng trên những bước đi tìm:

      “... tự dưng lạc giữa mịt mùng

      thấy tôi, em vốn là chung một người

      tôi là em, em là tôi

      từ trong tiền kiếp có đời sống nhau


      tự dưng em lẩn vào đâu

      không có, chợt có nỗi đau thình lình

      tự dưng tôi thấy chính mình

      đẹp ra từ thuở thất tình đầu tiên


      tự dưng tay viết quàng xiên

      đọc đi đọc lại bỗng ghiền chính tôi

      em là thơ, đã hẳn rồi

      tôi là người thở vô đời sống thơ”

      (Tự Dưng, tr. 57).

      Thế giới thi ca Lê Hân khởi đi từ những bước chân học trò và những cuộc tình nhẹ nhàng, ngây ngô chớm nở. Nơi đó, không gian như thu hẹp lại và thời gian như ngừng lại ở những... giờ tan học:

      “giờ tan học em thường hay ra trễ

      có phải vì bịn rịn ghế bàn không?

      suốt bốn giờ hai cánh tay áo lụa

      thoa phấn hương cho mặt gỗ thơm hồng


      giờ tan học em thường đi rất chậm

      mỗi bước chân như ngại hành lang buồn

      quai guốc đỏ hôn thầm mười ngón ngọc

      gió hay thơ ai vói níu gót chân


      giờ tan học em quen tay vuốt tóc

      tóc như sông cùng ngả một bên vai

      có ai đếm hộ em bao nhiêu ngọn

      mỗi ngọn tình đã từng buộc những ai?


      giờ tan học em về trên xe đạp

      vạt áo dài khúc khích vờn nan hoa

      đọt nắng cuối theo em về tận cửa

      cũng bỏ đi, chỉ còn lại mình ta”

      (Giờ Tan Học, tr. 74)

      Khi đã nhập dòng sống của nhân sinh, không gian có những khoảnh khắc cũng dần hẹp lại khi con người một mình trước đại dương, ngâm mình với suy tưởng:

      “vốn không là thuyền trưởng

      sống đời cùng đại dương

      cũng không là thủy thủ

      cùng biển qua dặm trường


      những vòng xoay của sóng

      gối nhau chạy giáp vòng?

      nước chạm vào nhau hát?

      âm thanh có đáy lòng?


      vì đâu trong chất nước

      có vị mồ hôi người?

      từ đâu trong da thịt

      ẩn chất muối biển khơi?


      giữa người và biển cả

      được bao điều tương quan?

      bí hiểm và sâu thẳm

      bên nào huy chương vàng?


      tôi nằm trong nước biển

      nghe sóng tan vào người

      không gian dần hẹp lại

      một khắc tôi mất tôi


      trong giờ linh hiển đó

      nếu may người đi qua

      sẽ thấy được đích thực

      biển đang trổ nụ hoa”

      (Hoa Biển, tr. 44)

      Với Tình Thơm Mấy Nhánh, Lê Hân đã hơn một lần cho biết yêu thích thơ lục bát, như trong Em Từ Lục Bát:

      “Em từ lục bát bước ra

      bốn bề hơi thở Nguyên Sa dịu dàng

      giường đầy hoa đã ngấm sang

      thịt da khi đổi y trang mỗi ngày.



               Bản pdf

      trái tim đồng lõa ngón tay

      nở thơm trên thỏi sáp bày bên hông

      máu không trở lại chính tâm

      mà bên ngực trái bềnh bồng mùi hoa (... )


      em từ lục bát bước ra

      tay hương vén tóc liếc qua mái đời

      tôi ngồi trong chiếu thơ tôi

      những câu sáu tám ngút hơi yêu đời


      vịn Cung Trầm Tưởng dạo chơi

      theo Huy Cận ghé vào nôi nắng sầu

      cùng Hoài Khanh ngồi bên cầu

      nhìn mây vuốt ngực lắc đầu trốn em


      cùng Luân Hoán nằm trùm mền

      sợ rơi giấc nhớ mất em bất ngờ

      cùng trăm ngàn vạn nhà thơ

      đón em từ lục bát vào thế gian”

      (Em Từ Lục Bát, tr. 28, 29)

      Lục Bát thi tính sẽ trở nên thể loại chủ trì với tuyển thi Ngọn Tình Lục Bát (2016). Lê Hân trở về và ở lại với nguồn thơ Việt. Ông đưa người yêu thơ đến với thiên nhiên xuân sắc - quê hương - gia đình - thầy, cô, bè bạn và – văn nghệ sĩ, tức 5 phạm trù thi hứng như nhà thơ trình bày qua phần Mục lục.


      Trước hết, trong Mở Cửa “Ngọn Tình Lục Bát”, nhà thơ cho biết:

      “mẹ ươm hạt giống ca dao

      nở nhánh lục bát ngọt ngào Việt Nam

      trời còn tinh khiết trăng vàng

      đời còn sáu tám nồng nàn ấm tay

      lót lòng người nụ thơ này

      tinh túy dân tộc càng ngày càng thơm

      mời người dạo mắt cùng lòng

      ghé qua những luống tình nồng tôi xanh


      cả đời tôi chắt chiu dành

      nụ hôn này tặng loanh quanh cuộc đời

      xin cùng tôi bước thảnh thơi

      chúng ta giữ gốc cội người Việt Nam” (tr. 5)

      Thật vậy, lục bát đưa nhà thơ trở lại thời mới đến với thơ với những bài khởi đăng trên tuần báo Tuổi Xanh ở Sài-Gòn: những bài thơ đầu đời (1959) như Ba Em, Má Em, và sau đó là thơ về tình bạn, tình yêu, những tà áo dài tha thướt, những khuôn mặt diễm lệ, của một thời học trò. Với ông, trở về quá khứ là niềm vui lẫn ngậm ngùi, nuối tiếc, dĩ nhiên hình ảnh của kỷ niệm không hề thiếu:

      “đầu trần trôi giữa hàng me

      chiều từ thư viện theo xe đạp người

      hình như đàng trước mỉm cười

      nén đôi mắt liếc thầm người sau lưng (...)


      đâu ngờ không gió mà bay

      thình lình người cũng như mây ngang trời

      tuy không định làm cái đuôi

      vắng người lòng rỗng mất vui thế nào”

      (Trôi Theo Xuân Thì, tr. 58)

      Với gia đình là những sinh hoạt, lễ Tết, những khuôn mặt, tiếng nói, nụ cười..., nay nhớ về quê mẹ, lòng thấp thỏm:

      “nhớ như người xưa cho rằng:

      mẹ còn, quê ngoại vầng trăng thật gần

      mẹ mất, quê ngoại xa dần

      vàng trắng quê ấy lần lần mờ phai


      xưa nghe thoang thoảng ngoài tai

      bây chừ thấm thía thở dài trầm ngâm

      chẳng còn nhớ mấy chục năm

      tôi chưa ghé lại một lần ngoại tôi (... )


      con đường đang gánh trên vai

      Faifo trong, Đà Nẵng ngoài, phồn hoa

      quê ngoại có cổ thành già

      có thị trấn trẻ hài hòa phố quê


      lâu rồi chưa được ghé về

      ngỡ như đã mất hẳn quê mẹ rồi

      trên đầu tôi vẫn bầu trời

      tôi nguyện sẽ trở về ngồi trông mong


      bà con bên ngoại không động

      nhưng tôi tin có người trông tôi về

      hiện nhà chái bếp xưa tê

      dù xa lạ mấy không hề quên tôi”

      (Nhớ Về Quê Mẹ, tr. 64)

      Cuộc trở về tâm thức sẽ trở nên thực, khi ông trở lại quê nhà thăm nhìn lại nơi đã ra đời, thành phố của tuổi thơ, tuổi học trò, Đà Nẵng rồi Sài-Gòn – riêng Sài-Gòn đã để lại nơi Lê Hân khá nhiều ấn tượng:

      “Sài Gòn, ở Ngô Tùng Châu

      hình như buổi sáng đến sau buổi chiều

      cơn mưa mùa hạ ít nhiều

      làm tôi cụt hứng thiu thiu nằm dài

      Sài Gòn, ở đường Lê Lai

      gió tha mùi nắng thơm ngoài hành lang

      chập chờn theo giấc mơ màng

      nghe như ai gọi chạm bàn chân đi (... )



                       Bản pdf

      Sài Gòn, ở đường Tự Do

      hương lòng Đức Mẹ thơm tho vỉa hè

      dòng sông óng mượt nằm nghe

      tiếng chân lạng quạng e dè sau lưng (... )


      Sài Gòn, ở đường Duy Tân

      em vào trường luật bần thần ngó ra

      hai hàng cây đứng thướt tha

      có tôi chính giữa xót xa đợi người


      Sài Gòn, một khoảng đời tôi

      quen chân quen mặt quen người tứ phương

      trồng hạt nhớ tỉa hạt thương

      tôi xanh từng nụ buồn buồn vui vui


      Sài Gòn, tôi lớn thành người

      chen vai thích cánh nói cười tự do

      ra đi chẳng có hẹn hò

      vẫn mơ làm cậu học trò năm xưa


      Sài Gòn, nhiều nắng ít mưa

      mà sao ướt sũng hương đưa trong lòng

      núi sông đâu cũng núi sông

      mà tôi chỉ một Sài Gòn vắt vai”

      (Sài Gòn Tôi Vắt Trên Vai, tr. 94)

      Ngọn Tình Lục Bát đã là những cuộc du hành trở về những miền quá khứ, xuyên thời gian, những bài nỗi nhớ đi theo những địa danh đất nước, những "cõi ta" nhà thơ đã sống hoặc đã đi qua và trở lại. Trong số có những địa danh thân thương khác như Québec, nơi con và cháu nội sinh sống. Những thời khắc tuyệt vời bên con cháu, người đọc sẽ bất ngờ với những cảm nhận của tác giả về một dòng song:

      "bất ngờ thấy ấu thơ tôi

      qua bốn khuôn mặt giống tôi một thời

      những cái môi mới tập cười

      những đôi mắt biết hơi người lạ quen


      tôi xưa mặt mũi sáng trăng

      bụ bẫm, sổ sữa, háu ăn, thích cười

      bây giờ bốn cháu nội tôi

      có thật nhiều nét một thời tôi xưa


      từ con sang cháu đong đưa

      tình ca dao mẹ dẫu thưa thớt lời

      ấu thơ của một kiếp đời

      rõ ràng hiện diện trên người tiếp theo


      lòng tôi vang những tiếng reo

      thơm lừng ánh mắt trong veo tiếng cười

      câu thơ nở những nụ ru

      ấu thơ của cháu của tôi ngọt ngào”

      (Ấu Thơ, tr. 129)

      Khi trở về với hiện thực, nhà thơ thỏa tình với cuộc sống một nơi xa xôi hơn, ở San Jose, tiểu bang California:

      “ba trăm sáu mươi lăm ngày

      nơi tôi cư ngụ gió bay nhẹ nhàng

      ngày nào cũng có nắng vàng

      không nhiều thì ít về ngang phố hiền


      nhờ nắng người đẹp có duyên

      nhờ nắng mái tóc mái hiên hoa đầy

      nắng treo từ những sợi mây

      thòng dài xuống phố cánh tay nuột nà


      người đi tay thở hương ra

      bốn bề cao ốc nắng pha vị đường

      gót son từ khắp bốn phương

      ghé về theo nắng khơi nguồn thương yêu


      khu nhà tôi ở sớm chiều

      nắng thoa son phấn yêu kiều xinh tươi

      ngoài nắng còn có một người

      tô đậm hương sắc cuộc đời tôi tăng


      tình yêu, mưa, nắng thăng bằng

      bốn mùa cuộc sống có trăng bốn mùa

      không làm vua cũng như vua

      còn chi hơn đủ nắng mưa cùng tình”

      (Nắng Thom Destino Circle, San Jose, tr. 26)

      Trong cuộc hành trình thi ca nhiều thập niên, Lê Hân khởi đi từ những khung trời và tình ý truyền thống, dân tộc - một cõi thơ tĩnh lặng một hồn quê, nồng nàn nước sông Hàn, gió biển, trải qua những con nắng hiện-đại, những cuộc viễn du khác đến những vùng mới, khác của đời sống cũng như thi ca, âm nhạc và thể loại lục bát đã đem đến an tịnh cho nhà thơ, một tâm hồn nhạy cảm vốn thích tìm tòi, khai phá!


      Thơ dù theo khuynh hướng, thể loại nào thì tự bản chất đã có cuộc đời và cuộc sống tự tại. Những vần lục bát của Lê Hân đã cho thấy cái khung tiên thiên 6-8 bằng-trắc vẫn thích hợp với con người ở mọi thời đại. Khuôn thơ đó bất biến và thống nhất, sẽ vẫn là nơi trú ẩn an toàn cho con chữ, cho nhà thơ!


      Nguyễn Vy Khanh

      Toronto 5-6-2019


      Nguyễn Vy Khanh

      Nguồn: Ngôn Ngữ Số 30, Tháng 3/1 2024
      Thơ Văn Ngôn Ngữ Và Giới Thiệu Lê Hân

      Ad-22-A_Newest-Feb25-2022 Ad-22-A_Newest-Feb25-2022


      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Lê Hân, Nhà Thơ Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Lê Hoằng Mưu, nhà tiểu thuyết tiên phong Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Linh Mục Thanh Lãng, nhà văn học sử Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Thơ Hà Nguyên Du Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Về Một Cuộc Hội Thảo Văn Học và Báo Chí Miền Nam 1954-1975 Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Văn Chương Có Biên Giới Không? Nguyễn Vy Khanh Tiểu luận

      - Đến với Ngất Ngưởng Một Đời Mây của Phạm Hồng Ân Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Túy Hồng Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Cao Thoại Châu Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Nhà Thơ Thái Tú Hạp Nguyễn Vy Khanh Nhận định

    3. Bài viết về nhà thơ Lê Hân (Học Xá) Ad-31 Ad-31 = QC_250-250 (Học Xá)

       

       

      Bài viết về Lê Hân

        Cùng Tác Giả (Link-1)

      Lê Hân, Nhà Thơ (Nguyễn Vy Khanh)

      Thơ Lê Hân Từ Nguồn Nhạc Tình Ca (Hà Khánh Quân)

      Đọc 'Tình Thơm Mấy Nhánh' (Đàm Trung Pháp)

      - Lê Hân, ‘Ngọn tình lục bát’ và ‘tiểu truyện’ văn nghệ sĩ (Du Tử Lê)

      - Hân (Song Thao)

      - Lê Hân “Thơ Dễ Thương” (Hà Khánh Quân)

      - Lê Hân- Câu thơ bất chợt thả hong thu chiều (Đỗ Trường)

      - Viết về nhà thơ Lê Hân (Nhiều tác giả)

       

      Tác phẩm của Lê Hân

        Cùng Tác Giả (Link-2)

      - Tiình Thơm Mấy Nhánh

      - Ngọn Tình Lục Bát

      - Con Đường Năm Xưa (Nhạc Nhật Ngân)

      - Trang nhà

      Tác phẩm trên mạng:

      - saigonocean.com

      - tranthinguyetmai.wordpress.com

       

      Bài Viết về Văn Học (Học Xá)

       

      Bài viết về Văn Học

        Cùng Mục (Link)

      Ngày Của Mẹ, Ngày Của Con (Lê Hữu)

      Xúc động đọc "Thưa Mẹ" của Phương Tấn (Thiếu Khanh)

      Thơ Phương Tấn Là Đồng Vọng Những Đau Thương Của Dân Tộc (Nguyễn Lệ Uyên)

      TS Nguyễn Tiến Hưng ra mắt sách ‘Bức Tử VNCH-Kissinger và 8 Thủ Đoạn Nham Hiểm’ (Lâm Hoài Thạch)

      Hiệu Ứng Của Âm Và Thanh Trong Thơ Qua Lăng Kính Của Nhà Phê Bình Văn Học Bùi Vĩnh Phúc (Trần C. Trí)


       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

       

      Văn Học Miền Nam (Học Xá) Văn Học (Học Xá)

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Danh Mục Tác Giả: Cùng Chỉ Số (Link-2) An Khê,  Andrew Lâm,  Andrew X. Phạm,  Au Thị Phục An,  Bà Bút Trà,  Bà Tùng Long,  Bắc Phong,  Bàng Bá Lân,  Bảo Vân,  Bích Khê,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Bích Hà,  Bùi Giáng,  Bùi Kỷ,  

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)