1. Head_
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Hành Trình Thơ Từ Hoài Tấn (Du Tử Lê)

      23-3-2020 | VĂN HỌC

      Hành Trình Thơ Từ Hoài Tấn

        DU TỬ LÊ
      Share File.php Share File
          

       

      Mưa, chiếc bóng thứ hai, trong hành trình thơ Từ Hoài Tấn?



          Nhà thơ Từ Hoài Tấn

      Kể từ giữa thập niên 1960, tiếng thơ Từ Hoài Tấn đã được nhiều người biết tới, qua những bài thơ tình trên các tạp chí, tuần báo văn chương như Văn, Nghệ Thuật, Trình Bày, Khởi Hành v.v… Nhưng bản chất khiêm nhường, kín đáo, trong đời thường rất ít người biết ông là nhà thơ (ngay cả những bạn thân tình). Với tôi, đây là một tâm-thế-sống, chọn lựa lui vào, ẩn sâu trong cõi riêng, rũ bỏ phồn tạp đời thường - - Phong cách trực diện với nín lặng, cô đơn thường thấy ở một số thi sĩ? Hay đó là hiệu ứng, “phản cung” những tra khảo, cay nghiệt của xã hội?


      Không rõ, nhưng tôi trân trọng tính “lui vào, ẩn sâu cõi riêng” rất thi sĩ của ông.


      Về tính khiêm cung của Từ Tấn Hoài, nhà thơ và cũng là họa sĩ Võ Công Liêm, hiện cư ngụ tại Canada, từng cho biết:

      “Tôi thân quen với Từ Hoài Tấn hồi năm 1968. Sau tháng 4/75 thì chúng tôi được đời chọn cho mỗi người một cuộc sống khác nhau. Thuở ấy tôi chưa biết Từ Hoài Tấn là nhà thơ. Mặc dù anh đã có thơ đăng rải rác trên các tạp chí ở miền Nam. Chúng tôi trao đổi những chuyện thế sự qua tách cà phê hoặc nhiều khi họp mặt anh em. Tuyệt nhiên không nghe ai nói anh làm thơ. Tôi thường gọi tục danh anh mỗi khi xưng hô, đâu có biết, về sau này người bạn thân tôi là thi sĩ. Từ đó tôi thường hay đọc thơ anh và yêu thơ anh.


      “Khi sống gần gũi những năm tháng sau nầy mới nhận ra được nhân cách sống của anh rõ nét hơn. Anh trầm lắng hơn trước đây hay đời biến đổi anh, tôi nghĩ như thế. Nhưng không, anh vẫn hài hòa như ngày nào, tuy nhiên vẫn không dấu được nỗi thầm kín trên gương mặt anh, không phải vì làm thơ mà anh trở nên thơ thẩn để cho ra ‘thi sĩ’. Cái bản chất anh là thế! Bởi vì xưa nay anh không tỏ một ‘dấu yêu’ nào là anh làm thơ và không chứng minh điều gì về thơ cả, anh ung dung trong tư thế đó. Tôi đem lòng khâm phục đức tính nhân hậu, khiêm tốn của một nhà thơ như anh…” (1)

      Có dễ khởi đi từ tình thân trải dài nhiều năm trong đời thường, nên khi nhận định về cõi-giới thơ Hoài Tấn, họ Võ đã có những ghi nhận khá sâu sắc, cụ thể:


      “Thuở đó và ngay cả bây giờ có rất nhiều người làm thơ, làm thơ vần lục bát, thơ năm chữ, bảy chữ, thơ tự do, thơ mới và thơ tân hình thức. Tôi thích thơ Từ Hoài Tấn dưới mọi thể anh làm. Thơ anh phản ảnh nhiều mặt tình cảm, đời sống, quê hương đất nước và tình người. Tất cả chứa đựng chất hiện thực và hiện sinh trong thơ anh, có nhiều bài thơ đọc lên thấy được đôi điều mà anh trút hết sự thầm kín đó vào thế giới nội tâm hơn là thế giới ngoại hình, rồi từ đó anh phá lệ, vượt thoát qua mọi thể thơ anh viết. Thơ anh tiềm ẩn và sáng tạo, giòng thơ đi lần vào dạng thơ siêu thực, đó là khuynh hướng siêu thực thơ (surrealism poetry) mà rất ít tìm thấy ở những nơi khác. Anh muốn vượt ra khỏi hiện hữu để trở về bản chất cố hữu của riêng anh.


      “Từ Hoài Tấn dồn hết những xúc cảm nội tại vào thơ qua những tình huống xẩy ra trong đời tác giả. Những tai ương, những khốn cùng mà anh tiếp cận với cuộc đời, đặc biệt về mặt tình cảm nói chung là nỗi ray rứt không nguôi trong dòng đời anh đi qua và anh nhủ thầm điều bất hạnh đó chỉ dành cho anh. Chính những băn khoăn với đời, với tình mà biến anh trở nên trầm lắng, trầm lắng của bản chất hay trầm lắng bởi tuyệt vọng? Đó là cái nhìn dưới mắt tôi qua đôi mắt sầu muộn của Từ Hoài Tấn.


      “Gởi vào em một cơn mưa

      Cơn mưa đổ hết canh khuya khoắt nầy.

      (Gởi tặng Ph.1970)


      “ ‘Canh khuya’ Từ Hoài Tấn chưa thấy đêm sâu, anh cho thêm chữ ‘khoắt’ để thành ngữ nầy gói trọn nỗi nhớ của anh. Cho nên anh mượn thiên nhiên để gởi gắm nỗi thầm kín đó, thơ Từ Hoài Tấn nặng hình dung từ và ẩn dụ vì thế ngâm lên cũng thấy được cái chất lãng mạn riêng của Từ tiên sinh.


      “Anh sinh ra và lớn lên trong cuộc chiến, anh đối đầu với lửa đạn. Anh nuốt đau thương của vận nước trong tim gan anh. Từ Hoài Tấn không ta thán hay phẫn nộ. Anh điềm nhiên tự tại như dòng sông trôi về biển mẹ, trước những khắc khoải đó anh không oán, không trách mà coi như đó là thân phận làm người. Anh nuôi dưỡng tất cả những biến cố đời trong tâm trí anh để anh phát tiết những câu thơ hàm chứa đầy đủ yếu tố nhân sinh quan và chính là con đường giải thoát tâm hồn của một nhà thơ.

       

      Nỗi trăn trở đó hiện diện trong thơ Từ Hoài Tấn là thảm kịch đời mà hình như anh gánh chịu, một cảnh đời bề bộn, xung đột giữa nội quan và ngoại quan đã làm cho Từ Hoài Tấn quặn mà không nói nên lời, điều ấy anh luôn luôn hoài niệm cho tới ngàn sau. Đọc bài thơ ‘Mạ’ anh nói lên cái tình của người mẹ nuôi con, nghe rất cảm động, anh xử dụng thể thơ 7 chữ, đọc lên nghe phảng phất lục bát của Tú Xương; nghe thử:

       

      “Hai sương một nắng nào đâu sá

      Con bầy một lứa phận nữ nhi

      Lều tranh cuối vườn nương nhà ngoại

      Tháng chờ năm đợi buổi người đi

      “Thương nhớ một đời ta là mạ

      Nhưng hồn ta vất vưởng vẫn lệ nhoà”

      (Mạ 1998)


      “Đọc thơ Từ Hoài Tấn cho tôi một cảm giác lâng lâng, lạc vào thế giới huyền ảo của mộng mơ, lúc chơi vơi, lúc chìm đắm giữa một khung trời lập thể đầy sắc màu. Anh thả xuống những câu thơ nghe lạ tai, nhưng lại truyền cảm, cái hay của Từ Hoài Tấn là ở chỗ đó!


      “Trong tập ‘Hành Tinh Phiêu Lạc’ trang đầu ‘Mở’ thay lời tựa, tác giả chỉ nói lời giản dị (16 chữ) nhưng trọn cả hành trình anh đi. Đó là cái chân tình của nhà thơ như anh, không phải anh tiết kiệm ngôn ngữ để nói về đứa con tinh thần mà anh đã cưu mang, chắt chiu. Có lẽ, Từ Hoài Tấn cho rằng có nói cũng không cùng; ai nghĩ sao thì nghĩ, có sứt môi méo miệng cũng là con anh, nhưng phải nghĩ một cách sâu xa, chính trong cái ‘khác đời’ đó là cái đẹp chân phương ‘Le laid peut etre beau,le joli jamais’ (P.Gauguin) Đúng! Từ Hoài Tấn chấp nhận cái đẹp một ít hơn cái gì trau chuốt cho đẹp. Vì thế mà tôi mến cái thủy chung của anh, thiết tưởng người đọc sẽ tìm gặp một cảm nhận như tôi.


      “Quay về - một mối

      Ra đi - muôn đường

      Tìm em - nguồn cội

      Mấy trời - tang thương.”


      “Tôi thích cái lối chơi thơ của anh. Từ Hoài Tấn chế cái gạch ngang (-) như nhấn mạnh cho người đọc hiểu cuộc đời anh là thế đó. Du Tử Lê thì chặt (/) xuống mỗi con chữ, thành thử khi đọc hay ngâm thơ ông có cái gì như bóp cuốn họng mình lại, nhưng làm quen hình thức đó rồi, đến khi đọc thì thấy thơ của Du tiên sinh hay siêu việt và bay bổng. Cho nên thơ nó nằm ở cõi phi ấy nhưng phải khởi từ cõi thực. Cho dù gạch ngang hay gạch dọc, chưa phải xác định được một bài thơ đặc thù, bởi một bài thơ không phải là muốn nói một cái gì mà hiện-hữu (A poem should not mean but be) ngoài ra có những siêu lý của thơ nghĩa là thơ phải đi lạc đường mới là thơ hay! Tôi nói dông dài về thơ, tại vì thơ của Từ Hoài Tấn tợ như thơ Thiền. Nghe thiền sư Cổ Đức làm bài thơ 4 chữ này:


      “Khi đói ta ăn Khi mệt ta ngủ.”


      “Chỉ mấy dòng thơ ngắn mà diễn được vòng luân hồi và thuyết vạn vật nhứt thể của đạo Phật. Từ Hoài Tấn là đệ tử chân chính của những nhà thơ thiền(?) cho nên bài thơ mở đầu cho tập thơ “Hành Tinh Phiêu Lạc” cũng được ngắn gọn và thâm hậu như lời nhắn gởi với muôn trùng…


      “Tôi nghĩ, chính lối sống vô tư của anh đã giúp anh vượt qua những thử thách, những gian khổ từ trong trại học tập cho đến khi trở về nguyên quán. Từ Hoài Tấn không muốn ai quản chế mình một lần nữa, anh cho rằng tự-giác-giác-tha, anh tự khắc phục anh, hội nhập với đời, thích nghi kịp thời như anh đã lao mình; chính sự dấn thân của anh là những dòng chảy bất tận trong thơ. Từ Hoài Tấn một con người nhạy cảm về tình cảm (sentimental) về tình người cũng như thiên nhiên. Do đó thơ Từ Hoài Tấn phong phú và dồi dào. Từ làm thơ đa dạng, có khi niêm luật, có khi tự do… theo tôi nghĩ thơ anh xây dựng dưới dạng thức nào, tiết điệu trong thơ anh là tiết điệu của thời thượng hôm nay.


      “Thơ lục bát Từ Hoài Tấn làm nghe điệu và mềm, chữ dùng rất Huế. Đan cử bài thơ nầy:


      “Ngày dài lóc cóc ngoài hiên

      Ngựa xe qua hết một miền còn lưa

      Ngày ngồi nắng đổ chưa bưa

      Như sầu ai thắp canh khuya chưa tàn.”

      (Dáng thơ)


      “Từ Hoài Tấn có những bài thơ tự do, thơ không vần (blank verse) nhưng đọc lên vẫn thấy như có âm hưởng của thơ vần đó là cái vi vu theo tiết nhịp vần xoay mà cuộc sống là biến động miên man theo mảnh lòng người hoài mong; tự do và thoát tục.


      “Tôi đứng bên kia con đường

      Một ngày đầu đông

      Đợi người tình qúa khứ

      Và mong đời nhẹ gót qua đây…”

      (Huế-1968) (Nđd.)


      Thơ Từ Hoài Tấn, những game màu khẩm nặng trầm tích.


      Trên đây là chân dung thơ Từ Hoài Tấn, vẽ bằng chữ viết của Võ Công Liêm, qua thi phẩm đầu tay “Hành Tinh Phiêu Lạc” xuất bản năm 2003, bởi Nhà XB Thuận Hóa. Gần mười năm sau, năm 2012 Từ Hoài Tấn cho ra đời thi phẩm “Đi, Đứng và chạy… với thời gian” - - Như tôi biết, đó là thi phẩm mới nhất của ông, tính tới hôm nay.



      Vẫn là những cảm quan, cái nhìn đi ra từ trái tim mẫn cảm của một nhà thơ chọn ăn, ở một đời với cô quạnh, nhưng với “Đi, Đứng và chạy… với thời gian” Từ Hoài Tấn đã cho thấy, dường ông bước lùi sâu hơn vào cõi riêng của mình. Tôi hiểu, khi chọn tựa đề “Đi, Đứng và chạy… với thời gian” cho thi phẩm mới của mình, tác giả cho thấy dòng đời vẫn xuôi chảy, dù chúng ta có chạy, đi theo hay đứng lại. Nhưng tâm thức của mỗi cá nhân vốn độc lập. Nó nằm ngoài định luật tự nhiên này - - Hiểu theo nghĩa chúng ta có toàn quyền chọn cho mình một thái độ ứng hợp: Xuôi theo hay đứng lại, bên lề…


      Với Từ Hoài Tấn, chẳng những không “Đi, Đứng và chạy… với thời gian” mà thơ ông còn cho thấy quá khứ, thiên nhiên những bức tranh tĩnh lặng, tựa những game màu cũng đã khẩm nặng trầm tích qua những liên tưởng sắc, buốt, xỉa-xói-vết-thương:

      “Ly thủy tinh trong vắt như nỗi buồn không soi đáy

      Khuôn mặt em hình quả mãng cầu gai

      Ta nhảy múa với niềm vui cô độc


      “Một kẻ lạ đi qua

      Lời nguyền rủa

      Như thanh kiếm chém vào mặt


      “Một cô nàng đi qua

      Tiếng cười vỡ

      Ly thủy tinh ném xuống mặt đường


      “Ngày đi qua

      Thì thầm điệu ru tội lỗi

      Đôi tình nhân hôn nhau cuối hẻm”

      (Trích “Trong quán rượu”)

      Hoặc:

      “Ta thử khóc và cười mỗi ngày

      Hình như không ai nhìn thấy

      Ngày đi và đêm xuống

      Không có nghĩa gì với gã ăn mày mù lòa tự nhiên đi qua công viên

      Hay ngồi lặng lẽ trên băng ghế


      “Ngày đi và đêm xuống mối tình em mang rơi theo

      Sao viên đá nặng vẫn đeo trên cổ.”

      (Trích “Khúc Ban Chiều”).

      Hoặc nữa:

      “Trong một cố gắng không dừng lại

      Tôi hẹn hò em

      Ám hiệu ngắn

      9 giờ sáng – góc ngã tư – bờ tường tím – đội nón xanh

      Tin đi

      Người đi

      Cuộc hẹn đi

      Thời gian đi


      “Và như thế

      Trong một cố gắng không dừng lại

      Tin mất

      Người mất

      Thời gian mất


      “Chỉ còn lại

      Tôi”.

      (“Cuộc hẹn”)

      Vẫn với Từ Hoài Tấn, chẳng những không “Đi, Đứng và chạy… với thời gian” mà ông còn cho thấy chia ly và bóng tối từ những tháng, năm khuất lấp vẫn tìm về trong thơ ông, tựa những game màu ám-dụ, đầy những liên tưởng sắc, buốt; mang theo những lát dao lạnh lùng đào-xới-những-vết-thương cũ, mới:

      “Trả lại cho tình em vì không còn cách nào giữ lại em

      Khi em đã là người khác

      Khi đôi mắt em là ngọn lửa khác

      Khi lời tình yêu đã là tiếng vang vọng

      Và khi ngày đã trở qua đêm”

      (Trích “Chỗ không cùng”)

      Hoặc:

      “Vào những đêm khuya khi vầng trăng không còn

      Sao Hôm dần biến mất

      Anh tìm em trong bóng mây qua

      Đôi mắt em ẩn chứa niềm bí mật


      “Chúng tôi sống lặng lẽ mơ ước trong gió bụi của khốn khổ

      Hàng đêm nhìn lên khoảng trời xanh

      Thì thầm cầu nguyện và mong đợi phép lạ…”

      (Trích “Những ngôi nhà thuê ở đường số 37”)

      Tuy nhiên, có dễ mưa mới người bạn hoặc, nói một cách thậm xưng, là người tình thủy chung nhất của nhà thơ này.


      Với tôi, mưa là hiện tượng thời tiết quen thuộc, thân thiết của rất nhiều thi sĩ Việt Nam. Nhưng, nếu có một nhà thơ cho thấy mưa hiện diện cùng khắp các trang thơ của họ thì, một trong những người đó là Từ Hoài Tấn:

      “Tháng mười hai năm ấy

      Mưa trở lại

      Trong hẻm nhỏ có quán cà phê

      Bà chủ bốn mươi tuổi

      Em trở lại ngồi bên ta

      Lời tình ái dài và đều như mưa ngoài cửa”

      (Trích “Kỷ niệm”)


      “Mùa mưa anh không thoát khỏi chiếc bóng em

      Sự suy tư mòn gặm


      (…)

      “Buổi sáng theo cơn mưa đầu ngày

      Một chút nhớ làn khói bay


      (…)

      “Em thiên nhiên đóa hoa mùa hạ

      Những giọt mưa đầu mùa sóng sánh chiếc ly không


      (…)

      “Ai đi ngang che giấu mặt nõn nường

      Mưa vang âm dòng suối”

      (Trích “Khi yêu”)


      “Buổi chiều mưa bất thường trái mùa

      Khúc trầm bên chén trà

      Người phụ nữ bước qua bên kia đường đón xe buýt

      Dưới tàng cây che phủ vệ đường núp mưa những cô gái nhỏ xì xầm

      Cảnh tượng chiều xám”

      (Trích “Thơ cuối năm”)


      “Những ngày này thường có cơn mưa đêm về sáng

      Đều đều như lời kinh dịu dàng cám dỗ

      Mùa mưa chưa qua sao”

      (Trích “Lời cám dỗ dịu dàng”)


      “Cơn mưa đi qua ánh sáng của ngày

      Khúc hát ru chiều xẩm tối

      Người thanh niên đứng trong hẻm cụt nói rằng

      Môi hôn trên cây và nụ cười trên gió”

      (Trích “Khi mùa mưa bắt đầu”)


      “Buổi chiều về qua ngõ

      Không nghe tiếng dương cầm

      Vị mặn ở đầu lưỡi

      Mưa và em”

      (Trích “Là khi em đi”)


      “Chiếc dù che góc quán nhỏ vệ đường ngồi hai người

      Những chiếc ly không đầy nước

      Ngày mưa qua

      Đôi mắt ẩm ướt em nhìn ngắm giọt đều không tạnh…”

      (trích “Thành phố mưa”)


      Vân vân…

      Ngay với những trang thơ không có một chữ “mưa” nào của Từ Hoài Tấn, nhưng ngữ-cảnh toàn bài, cũng cho tôi cảm được đâu đó, hơi hướm những cơn mưa chờ đợi.


      Tôi nghĩ, có dễ “mưa”, chiếc bóng thứ hai, đeo đẳng hành trình và, cũng là định mệnh thi ca của tác giả này?


      (Calif. Jan. 2016)

      Du Tử Lê

      Nguồn: dutule.com

      _________

      Chú thích.

      (1) Trích Võ Công Liêm: “Dòng chảy không ngừng ở Từ Hoài Tấn”, Bạt, thi tập “Đi, đứng và, chạy… với thời gian”, Nhà XB Hội Nhà Văn, Saigon, 2012




      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Nỗ lực tái hiện chữ nghĩa “Nam bộ” trong thơ Phương Triều Du Tử Lê Nhận định

      - Nhà văn Bình Nguyên Lộc, “Tam kiệt Việt Nam” Du Tử Lê Nhận định

      - Trang Châu và Bút Ký "Y Sĩ Tiền Tuyến" Du Tử Lê Nhận định

      - Chung quanh chuyện tình bí ẩn một đời của nhạc sĩ Ngọc Bích Du Tử Lê Nhận định

      - Ngọc Bích, tác giả bài hát “Suy Tôn Ngô Tổng Thống” Du Tử Lê Nhận định

      - Hành Trình Thơ Từ Hoài Tấn Du Tử Lê Nhận định

      - Nhạc Sĩ Nguyễn Trung Cang Du Tử Lê Nhận định

      - Thế Nguyên: Cây ách chuồn của phong trào "Văn Chương dấn thân" Du Tử Lê Hồi ức

      - Nhà Văn Lê Xuyên Du Tử Lê Nhận định

      - Trương Vũ, nhà văn nặng lòng với văn học nghệ thuật đất nước Du Tử Lê Nhận định

    3. Bài viết về nhà thơ Từ Hoài Tấn

       

      Bài viết về Từ Hoài Tấn

       
      Cùng Tác Giả (Link-1)

      Hành Trình Thơ Từ Hoài Tấn (Du Tử Lê)

      Đọc thơ Từ Hoài Tấn (Khổng Đức)

      Từ Hoài Tấn  (phannguyenartist.com)

      Từ Hoài Tấn ngày xưa và bây giờ

        (Trần Dzạ Lữ)  

      Dòng chảy không ngừng ở Từ Hoài Tấn  (Võ Công Liêm)

      Đi, đứng và chạy với thời gian của Từ Hoài Tấn  (Võ Công Liêm)

      Đọc thơ Từ Hoài Tấn, nghĩ đến cây cầu dây văng!  (Cao Thoại Châu)

      Thơ Từ Hoài Tấn: Nỗi ám ảnh với thời gian  (Trần Hữu Dũng)

      Từ Hoài Tấn trượt dài cơn khát

       (Đặng Châu Long)

       

      Tác phẩm của Từ Hoài Tấn

       
      Cùng Tác Giả

      Trang Thơ (Từ Hoài Tấn)

      - Trang nhà: tuhoaitan.blogspot.com

         Tác phẩm trên mạng:

      - damau.org  - hopluu.net - thivien.net  

      - banvannghe.com - vanchuongviet.org

      - Giới thiệu tập tiểu luận triết học của Võ Công Liêm

       

      Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Trần Thị NgH, viết: xạo ke, vẽ: cà rỡn

      (Nguyễn Lệ Uyên)

      - Lý Thừa Nghiệp với CD Thơ-Nhạc "Thực Tại Nhiệm Mầu" (Thiện Hữu)

      - Đôi Dòng Cảm Nhận tập thơ "Đưa Người Tình Đi Tu" của Cao Mỵ Nhân (Hoàng Ngọc Liên)

      - Như Phong Lê Văn Tiến, nhà báo của các nhà báo (Đỗ Quý Toàn)

      - Ngày cuối năm 2012 (sau bão Sandy một tháng hơn) (Trần Hoài Thư)

        Giai Thoại Văn Học

       

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Tạp Văn (Nguyễn Kim Phượng)

      - Văn học miền Nam ở hải ngoại (Viên Linh)

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975: Nhận Định, Biên Khảo, Thư Tịch (Nguyễn Vy Khanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      An Khê,  Bàng Bá Lân,  Bích Khê,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Bích Hà,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Vĩnh Phúc,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Mỵ Nhân,  Cao Thoại Châu,  Cao Tiêu,  Cao Đông Khánh,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)