1. Head_
    Đặng Trần Huân
    (.0.1928-21.3.2003)
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Về một người "phải lòng" tiếng Việt (Trần Hồng Châu)

      23-2-2019 | VĂN HỌC

      Về một người "phải lòng" tiếng Việt

        TRẦN HỒNG CHÂU
      Share File.php Share File
          

       


          Nhà văn Lưu Nguyễn Đạt

      Lưu Nguyễn Ðạt – Lưu Nguyễn, từ Thiên thai trở về, mang theo lòng đam mê Tư tưởng và Ngôn từ. Tư tưởng là đạo, cốt lõi chân chất.  Ngôn từ là cỗ xe chở đạo. Yêu đắm đuối ở một đỉnh Hoa sơn luyện kiếm vạn sự khởi ư... Văn khoa..., tác giả đã cho thấy hơn một niềm băn khoăn: vừa khổ hạnh tu luyện, vừa tự thả lỏng trôi theo những lá liễu và nét mi trần gian.


      Trong Văn Luận (1)cũng vậy. Vừa trí tuệ, trừu tượng, cố đi đến cùng của nguyên lý, tổng hợp, đại thể; vừa phân tích tác văn, tỉ mỉ, cụ thể từng chi tiết hiện thực. Trong chừng hạn nào có thể thấy ở đây một vài dấu ấn của trào lưu Tân phê bình. Trào lưu chú trọng đặc biệt đến cấu trúc tác phẩm, đến cõi rễ ý thức hệ – tức là triết học (theo nghĩa rộng) – đã chi phối tác phẩm văn học. Trào lưu từ giã, không nuối tiếc, những dữ kiện lịch sử ngoại vi từng được trường phái chính thống Lanson coi là khuôn vàng thước ngọc.


      Tác giả đã lớn lên khi tư trào Hiện sinh sắp về chiều và được nối tiếp bởi những dòng lý thuyết Structuralisme, Néo- Structuralisme, Semiotique, Déconstruction, (2) nên những tên tuổi như De Saussure, Lévi-Strauss, Roland Barthes, Rifaterre, Derrida ... thường xuất hiện trong Văn Luận, tiêu biểu cho một thái độ phê bình “động”, khai phóng (open) mà tác giả muốn được thấy phát triển tự do trên một quê hương, hy vọng sẽ phải khai phóng và nhân bản hơn.


      Ý hướng đó thấy rõ khi tác giả bàn về những vấn đề văn nghệ tổng quát như nhập cuộc, suy tư và sáng tạo, dạo nhạc, dịch thơ, bài thơ ra đời ...  Ánh mắt lưỡng cực phânhợp sự vật cũng được chiếu rọi trên những sắc thái đậm nét nhất của từng tác giả. Lưu Nguyễn Ðạt dẫn ta qua những sân cung rộng hải hồ: Nhịp luyến láy phá thể của thơ Bùi Giáng là một ví dụ. Trận đồ bát quái, ta mình mình ta, say tỉnh tỉnh say, hư thực thực hư, vui buồn buồn vui trong toàn cõi thơ kẻ cuồng sĩ với những cái đang tự hủy để tái tạo, luôn luôn bất định, đó là cái devenir nghiêng ngửa, chênh vênh, bất trắc, không bảng chỉ đường. Tiếp theo là Chân Trời Cũ của người Minh hương Hồ Dzếnh, xê dịch giữa hai quê hương tinh thần vừa gần vừa xa, vừa lạ vừa quen. Những lớp “phông” hậu cảnh di động, lồng vào nhau, như màu sắc trùng điệp nối tiếp phản chiếu trong dãy hành lang vạn hoa, gương lồng bóng, của điện Versailles. Dãy hành lang, càng sâu càng sương khói phủ, xa mờ tít tắp trong một viễn cảnh vô tận. Như thủ thuật lồng cảnh của hoạ sĩ xưa. Như tác động mise en abyme của Gide, trong Les Faux Monnayeurs, lúc bàn về kỹ thuật viết tiểu thuyết ngay trong lòng tiểu thuyết. Rồi đến cái vòng tròn nhân thế, cái nghiệp chướng luân hồi, chấm dứt mà không chấm dứt, của du tử họ Lê. Tất cả cũng đều trong cái thế bấp bênh, không định hình, không chu toàn, luôn luôn động, trống rỗng, và buồn nản như Hư vô.


      Tác giả đã đưa những đề nghị tìm hiểu, những giải pháp khả hữu, nhưng chỉ coi chúng như một vài trong muôn vàn cách tìm hiểu tác phẩm, đồng thời nhấn mạnh vị trí có lợi thế và khả tín của nhà phê bình được võ trang hùng hậu hơn kẻ ngoại đạo. Một vài trong muôn vàn ... Nói như Derrida: tác văn, cũng như những mô thức tư duy, không hoá thạch, không đông cứng – figé. Nó luôn luôn tự hủy và tái sinh theo giai đoạn, hoàn cảnh, và người tiếp nhận. Nói như Sartre: khuôn mặt chúng ta không hề được định hình chỉ một lần khởi đầu rồi thôi. Nói như Valéry, nếu chúng ta ngược đến tận cội nguồn Tân phê bình: chỉ có tác văn, tác văn sừng sững trước mặt ta, và độc giả cũng là đồng tác giả, vì đã cùng để dấu vết trên tác phẩm.


      Ðã từ lâu tôi không gặp lại Lưu Nguyễn Ðạt. Từ khi tiễn chân lớp kiếm khách trẻ tuổi hạ sơn, trải qua mấy mùa binh lửa ... Tôi thấy anh tóc hoa râm như những nhân vật nam chính trong vũ trụ Francoise Sagan, nhưng tác phong vững vàng, chín chắn. Vẫn vẻ an nhiên tự tại và tài hoa khi bầy binh bố trận tư tưởng và chữ nghĩa. Chợt liên tưởng đến những người say mê đi vào, nhưng cũng biết tìm lối đi ra khỏi thiên kinh vạn quyển. Ði vào để hấp thụ thêm chân khí, bồi bổ nội lực, nhưng nhất định không để sách vở, từ chương và thành kiến đè bẹp. Như các thi sĩ đại khoa đời Ðường: Vương Duy, Lưu Vũ Tích, Bạch Lạc Thiên ...; như các nhà văn Tây phương hiện đại: Sartre, S. de Beauvoir, Camus, G. Santayana, St. John Perse, T. Wolfe ... nhiều người xuất thân từ các khuôn viên đại học nổi danh.


      Sự đào tạo trí thức, trong khuôn khổ kỷ luật, cao tay ấn và tỉnh táo, chỉ có thể củng cố thêm bản lĩnh, cho tâm hồn thêm bề dày, thêm một tiềm lực thâm hậu mà người không có nó luôn luôn cảm thấy hụt hẫng, bất lực, cạn kiệt. Tác giả đã có những mùa gặt hái, tích cốc phong phú lúc còn trẻ, và thường xuyên trau dồi, nên anh bước vào thế giới tư tưởng một cách hồn nhiên, thoải mái. Mổ xẻ, lật lên lật xuống, tách rời, kết hợp, nhất nhất đều gọn ghẽ, khéo léo, với cái tour de main của người yêu tư tưởng. Vay mượnđem đến cho tư tưởng vừa cái lực (force), vừa cái duyên dáng (grâce) trong một tổng thể hài hoà: Văn hoá chân chínhvăn luận nhập cuộc. Những dòng mát và các trang về Bùi Giáng, Hồ Dzếnh ...


      Anh tỏ ra sắc bén và có óc phán xét đúng đắn, cần thiết cho nhà phê bình, như một giác quan thứ sáu. Lựa chọn, nhìn thấy nét đặc thù của tác phẩm, xoáy vào đó, gây men để sản sinh thêm những nhận xét độc đáo. Vừa lý luận, vừa tình cảm và ấn tượng, màu sắc, để thâu tóm đầy đủ, nếu không phải là trọn vẹn, hiện tượng cùng bản chất của đối tượng.


      Nội dung và hình thức chỉ là một, luôn luôn tương tác trong thế “tuy hai mà một”. Gần như một định luật: nội lực thâm hậu thì đương nhiên được chuyên chở và biểu thị bằng một tấm áo đẹp, tương xứng, có tính cách thuyết phục nhất. Lưu Nguyễn Ðạt có duyên may được trui rèn trong các đại học Việt Nam, Pháp và Mỹ (3) sau cuộc cách mạng De Saussure và Jakobson nên anh đi vào bát quái đồ ngữ ngôn như về thăm lại mái nhà xưa, thân quen.


      Ðặc biệt ở đây chất liệu lại là tiếng Việt, một thực thể phi thường với vô vàn biến ảo, vô vàn âm sắc. Một thực thể gắn bó với cuộc sống tình cảm và trí thức của mỗi con người chúng ta. Tương quan thắm thiết giữa cá nhân và tiếng mẹ đẻ. Tiếng mẹ ru con từ thuở còn thơ thâm nhập vào tiềm thức, dần dần tạo nên hồn dân tộc, cái Folksgeist linh hiển mà Herder, đã cùng đồng bào, vũ trang để thống nhất và vực quốc gia Ðức đứng lên, hùng mạnh trong lịch sử. Thibaudet nâng niu, vuốt ve từng chữ và lời trong vườn văn học Pháp như trân quý trái chín thơm ngọt đầu mùa. Người viết mấy dòng này từng “ăn nằm” với tiếng Việt, nay lại vui thấy Lưu Nguyễn Ðạt “phải lòng” và “làm tình” với chữ nghĩa (4). Một ví dụ: anh mổ xẻ từng câu, từng chữ, trong thơ Bùi Giang, theo cuồng sĩ “chơi chắt truyền” với ngôn từ, thử mọi kết hợp: đảo trang, nói lái, hoán dụ, móc nối, điệp trùng, tỷ giảo, khuếch xung, tương đồng hoá ... để đi tới những khám phá bất ngờ nhất, tạo dựng được nhiều từ mới, tự nhiên và xúc tích. Bởi vì có cơ may xử dụng cái thần của tiếng Việt. Bởi vì có kiến trúc tinh thần, vừa uyên bác vừa nghệ sĩ, của nhà phê bình, người độc giả ưu huệ, người tái tạo tác phẩm.


      Một hai điển hình nữa là sự nắm bắt được cái hồn thầm kín của tiếng Việt. Ði tìm gốc một từ ngữ bắt nguồn từ sự “lây ngữ nguyên, lây nghĩa”, contamination étymologique: trú khách, khách trú đi đến chú khách trong văn Hồ Dzếnh. Nói đến sự tan vỡ, bấp bênh, ít nhiều Derrida, của thi ảnh và dòng cảm nghĩ Du Tử Lê: vòng luân hồi, suối chảy ngược, tấm gương soi... Và bình luận sâu sắc về cụm từ thần tình Ohm law của Vũ Lang. Ohm law - ôm lâu - ôm lo. Ðiện trở và những chướng ngại vật, những ngăn sông cách núi trong tình trường, đồng thời có thể hiểu, theo vang vọng của âm từ, là trạng thái phần nào phản diện: ôm lâu trong phức hợp tâm-sinh-lý, vừa trần gian vừa thiên đường; nhưng ôm lâu, lúc phóng thể, cũng khả dĩ đưa tới ôm lo, ám chỉ nỗi bất định, trống rỗng, của những giờ phút hậu hoan lạc. Như một chuỗi liên hoàn Ðêm Ngày, Mưa Nắng, Có Không ... theo luân lưu, dịch biến của vạn vật. Theo, trong chừng hạn nào, tác văn, vũ trụ ảo ảnh, muôn hình vạn trạng, cởi ra rồi lại buộc vào như không, của trường phái Hủy Tạo.


      Lưu Nguyễn Ðạt đã tỏ ra sắc sảo, giàu tưởng tượng và mỹ cảm để thấy cái toàn thể, cũng như chi tiết, của từng tác phẩm nghiên cứu. Anh đã khổ công ma luyện. Một ngàn đường kiếm vũ luyện vung lên mới hình thành được một đường kiếm đẹp. Anh đã cùng các tác giả vẽ nên khuôn mặt từng tác phẩm. Anh không phải là một nhà phê bình chua-chát, đố kỵ, một Sainte Beuve trở nên Ngự sử văn đàn sau khi đã thất bại trong sáng tác. Anh cởi mở, khai phóng, niềm cảm thông lớn sẵn sàng đón nhận vẻ đẹp đến từ mọi hướng trời. Ðó là một thái độ tích cực đáng được khuyên một điểm son.


      * Ghi Chú:


      (1) Lưu Nguyễn Ðạt, VĂN LUẬN, Cỏ Thơm, Virginia, 2000.

      (2) Các triết gia: Cấu trúc, Tân cấu trúc, Ký hiệu và Hủy tạo.

      (3) Lưu Nguyễn Ðạt đậu Cử Nhân Văn khoa và Luật khoa, Saigon, rồi Ph. D tại Michigan State University và LLM/Master of Jurisprudence tại Howard Law School, USA. Anh cũng yêu hội họa, điêu khắc và là tác giả "Bàn Tay Đón Tiếp" dựng tại Camp Pendleton, nơi đổ bộ của đa số người Việt, trong những ngày đầu ly hương.

      (4) Xem “Thơ Nguyễn Ðăng Tuấn: Dường Như Làm Tình Với Chữ”, Lưu Nguyễn Ðạt, Văn Luận, trang 119-124.


      Trần Hồng Châu

      Nguồn: Dăm Ba Điều Nghĩ Về Văn Học Nghệ Thuật
      Nxb Văn Nghệ, California, 2001




      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Về một người "phải lòng" tiếng Việt Trần Hồng Châu Nhận định

      - Con Người Yêu Chân, Thiện, Mỹ Quay Đầu Nhìn về Quê Hương Khổ Đau Trần Hồng Châu Nhận định

      - Bụi và Rác của Nguyễn Xuân Hoàng Trần Hồng Châu Khảo luận

      - Đi Vào Mê Hồn Trận Của Thi Ca Và Tiếng Nói Trần Hồng Châu Khảo luận

      - Nền Quốc Học Việt Nam và Vai Trò Đại Học Trong Tương Lai Trần Hồng Châu Tiểu luận

    3. Bài viết về nhà thơ Lưu Nguyễn Đạt Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Trần Yên Hòa hơn 55 năm làm thơ (Thanh Phong)

      - Duềnh Quyên (Trịnh Y Thư)

      - Văn Thơ Giáng Sinh (Nguyễn Mạnh Trinh)

      - Giáo Sư Đặng Ngọc Thiềm (Nguyễn Duy Chính)

      - Thông cáo: Giải Văn Học Phan Thanh Giản

      (Phan Thanh Tâm)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Tạp Văn (Nguyễn Kim Phượng)

      - Văn học miền Nam ở hải ngoại (Viên Linh)

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975: Nhận Định, Biên Khảo, Thư Tịch (Nguyễn Vy Khanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Đông Khánh,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Chu Tử,  Doãn Dân,  Du Tử Lê,  Dương Nghiễm Mậu,  Dương Quảng Hàm,  Elena Pucillo Truong,  Giang Hữu Tuyên,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)