|
|
|
|
|
VĂN HỌC |
GIAI THOẠI | TIỂU LUÂN | THƠ | TRUYỆN | THỜI LUẬN | NHÂN VẬT | ÂM NHẠC | HỘI HỌA | KHOA HỌC | GIẢI TRÍ | TIỂU SỬ |
Thơ Văn Trần Y. Hoa & Bằng hữu
Thơ Văn Trần Yên Hoà & Bằng hữu

Tạm dịch:
(Thơ Lý Bạch, Lê Ngọc Hồ chuyển dịch)
- Đây này! Còn nhiều lắm, ăn đi. Không phải gấu ó nhau nữa. Chúng mày sướng mà không biết sướng chút nào. Ờ... Ờ... Thôi chứ! Đi đi. Đi xa một chút cho tao thở. Ăn đi đừng kể lể khóc than gì nữa. Tao ghét lắm. Kia! Ra đó mà ăn mà cãi cọ. Tao có bao giờ thiếu thức ăn cho chúng mày đâu.
Bầy hải âu chập chờn đôi cánh, hai chân chơi vơi trước mặt, mỏ vàng quạch ngậm các miếng bánh khô, mắt trợn trừng trợn trác bay vút lên cao, rồi là là mặt nước, thản nhiên rơi nhẹ thân mình trên các gợn sóng lăn tăn. Còn lại đám chim câu lúc cúc lục cục, ì à 1 ịch, lầu bầu những âm thanh nhỏ, đuôi vểnh, mỏ gõ nhanh trên mặt cát ẩm những mảnh vụn tung toé đó đây. Người đàn bà gốc Á ngồi trên bờ đá, vừa tung thức ăn lên cao vừa nói như đang nói với đám con cháu hay người thân. Cũng vẫn cái quần Jean bạc màu, cái áo Jean dầy ngay cả những ngày nắng ấm. Hình như bà đến bãi biển này nhiều, hằng ngày thì đúng hơn, vỗ vễ bầy chim hoang. Cái mũ rộng vành tùm hụp trên trán, nhưng nếu có dịp nhìn bà gần hơn, những khi bà nói hay cười cùng hải âu, nét hiền hòa phảng phất trên gương mặt, để thấy rằng bà hãy còn duyên dáng lắm. Đôi giầy leo núi coi bộ còn mới và cái túi xách nặng các thứ lủng củng cho một người thăm biển.
Về mùa hạ, những trưa biển vắng bóng người, cát nóng bỏng gọi mời, các thân gỗ to nhỏ nằm ườn đây đó hay lún sâu vào cát, đám hải âu lười biếng dúi đầu vào cánh, gật gù phơi nắng, mặc kệ cho gió thổi tung các sợi lông trắng hay các hạt cát to nhỏ vung vãi đập vào đầu vào mình như mưa. Người đàn bà rón rén lại gần rồi nhẹ nhàng ngồi trên cát, lưng dựa vào thân gỗ mục, kế bầy hải âu. Đám hải âu ồn ào như cái chợ nay hiền lành như trẻ thơ đang ngủ và người đàn bà mắt lim dim nhìn ra khơi. Tia nhìn bị dừng lại ở các đảo xanh, các đỉnh núi cao và các đám mây. Một hồi lâu, người đàn bà gục đầu trên gối mình hát nho nhỏ, đôi khi bà nằm dài giữa đám chim biển lười biếng. Bà ngồi giữa nắng, ăn trưa, nhấp nhấp chút đăng đắng của ly cà phê nóng. Bà hít hà, suýt soa nho nhỏ có vẻ thú vị lắm. Bà giống như một du khách, nhưng không tất bật như họ, bà giống như một bà sơ già nhưng không cô đơn khô khan như họ. Bầy chim hoang hình như hiểu được những gì bà thì thầm, cho nên chim và người yên lặng trong cái êm êm của sóng. Những con sóng những ngày trời đẹp cũng lững lờ lười biếng lội nhẹ vào bờ.
Ngay cả những ngày mưa bão, sóng đánh vào bờ cao hơn chục mét, người đàn bà mặc áo mưa dài đến chân, mang bánh mì khô cho đám chim hoang những ngày biển động.
- Mưa thế này thì bánh nhão nhét, hỏng hết! Thôi chịu khó! Khi nào đói thì tìm đến đây mà ăn nhé.
Hình ảnh người đàn bà gốc Á nuôi chim hoang, một nét đặc thù trên bờ biển Alki. Du khách và các người chung quanh không làm phiền bà hay hỏi han lẩm cẩm, người Mỹ vẫn thế, họ tôn trọng cái tư riêng của bà. Những năm đầu mới tới đây bà chẳng biết biển ở đâu tuy chỉ vài con lộ gần nhà, lúc đó đời bà đang lỡ khóc lỡ cười. Bà có tự do nhưng sao đời buồn muốn khóc, nỗi buồn quay quắt trong tim trong ruột làm bà quặn đau, rồi lâu lâu vào nhà thương nằm cả tuần mà không tìm ra bệnh. Một ngày bà tìm đến biển. Những con hải âu nháo nhác theo bà khi bà tung các miếng bánh mì nhỏ lên cao làm bà bật cười. Bà nói chuyện bằng ngôn ngữ của bà và chúng chẳng nói gì hay có phụ hoạ chăng nữa cho câu chuyện thêm đằm thắm là những tiếng kêu nhức tại.
Những năm tháng còn bơ vơ đau khổ ấy bà chỉ ra biển những ngày Seattle sang mùa để thả một vài chùm hoa, chùm lá trên sóng gửi đến những người nằm sâu trong lòng biển. Bây giờ bà thích biển hơn, các vết thương hình như đã già theo ngày tháng, cái giỏ nặng thêm hơn vì sách. Chúa nhật người ta đi chùa hay nhà thờ, bà ra biển nhìn sóng.
Này bây giờ là thu rồi nhé. Ngày hôm qua là giữa mùa thu, tôi nhặt một ít lá phong dại trong rừng, chúng tuy nhỏ nhưng màu sắc thì tuyệt vời. Năm nay coi bộ lạnh hơn mọi năm cho nên lá đổi màu nhanh quá. Quên không nói cái thị trường chứng khoán quái quỉ đang chạy xuống dốc thê thảm, nhiều người chết vì nó đó. Cho đáng đời cái bọn baby boomer phải làm nhiều năm nữa mới được về hưu. Bà kéo những chiếc lá phong còn tươi, màu đỏ tía, màu vàng cam, màu hồng từng nắm nhỏ, tung chúng trên mặt nước, bà khua tay hay té nước vào chúng như đuổi chúng trôi xa, những chiếc lá dật dờ trên sóng.
- Thích không, hy vọng các bạn nhận được cái thu của Seattle. Thu ở đây nên thơ nhờ các rừng phong đỏ và nắng mong manh. Còn nhớ không, mùa thu, mùa của chia ly đó mà. Một ngày trời Seattle xanh trong, mây trắng giăng đầy, gió thơm mùi rong mùi muối từng ôm tôi hát những lời ru buồn khi tôi đặt chân đến Seattle hơn mươi năm qua. Ừ một ngày thu lãng mạn mà hồn tôi thì chứa đầy nước mắt. Thu của tôi với trái tim đầy phiền muộn trên quê hương mới, một ngày thu buồn.
Ngồi thật lâu trên các bậc thang gỗ ẩm ướt sát mặt nước, thả lá mùa thu vào sóng, bà hy vọng cái đám người Việt Nam tìm tự do bị chết đói, chết khát, chết tất tưởi vì hải tặc Thái không có dịp thở tự do, nhìn tự do, đi đứng và ăn uống tự do như bà cho nên mỗi mùa bà gửi cái thiên nhiên lạ lẫm nơi bà ở, chẳng tốn kém gì nhưng những dịp nhìn biển bà có niềm cảm thông của người may mắn với những linh hồn lỡ mộng trần gian.
- Biết đến đâu hay đến đấy, tôi cũng chỉ biết có thế thôi. Nhưng này tôi chưa điên đấy chứ! Cứ nghĩ đến những người chết trên biển năm nào tôi lại xót xa. Tôi vẫn biết thời gian là liều thuốc thần diệu cho con người, nhưng thời gian dài vô tận với những người mất mát quá nhiều phải không: mất vợ, mất chồng, mất con, mất tuổi trẻ, mất người hùng và mất một quê hương.
Nhiều lúc tôi cũng muốn quên đời cho rồi. Này không phải là tự tử đâu nhé, quên có nghĩa là không đau nữa, không nhỏ lệ nữa đó mà thôi. Tôi ghét nhất hai chữ can đảm, can đảm là cái quái gì, nó làm người quay quắt dại khờ, nó làm người không ăn không ngủ, nó làm người cười như mếu, nó làm người lê lết khi họ chỉ muốn nằm ngủ một giấc thiên thu.
Các con tôi nên người cả rồi, tôi không còn có các giấc mộng lớn mộng nhỏ nữa. Khi con còn nhỏ, thì mình còn quá nghèo, đến nay mát mặt thì bố mẹ đã ra người thiên cổ, mà tôi thì chả làm được gì cho bố mẹ ngoài cái tài rơi lệ, nước mắt cá sấu đấy mà, những lúc bố bắt được tôi khóc. Nhiều lúc ngồi bên chúng mày tôi nhớ bố lạ lùng, nước mắt cá sấu lại giọt vắn giọt dài. Mà quái lạ thật, tôi chỉ khóc được những khi yên bình nhất! Một mình với chúng mày thôi đấy.
Này nhé! Tôi chưa điên đấy chứ.
Cái đám con cháu tôi không biết nó có biết được sống ở đây tôi phải trả một giá thế nào không nhỉ...? Thôi tôi về đây, trời nắng thế mà lạnh đấy. Tôi chịu lạnh không được.
Người đàn bà nhìn đám lá bập bềnh trôi xa cho đến khi mất hút, lững thững bước lên các bậc thang lên mặt lộ. Mươi phút sau bà đang ngồi kế lò sưởi quán cà phê Starbucks và cây viết trên tay thả nhanh các dòng mực tím lên các tờ giấy trắng tinh…
Đêm qua, trăng tròn, con đường trăng nối liền từ đỉnh núi Olympic qua vịnh Elliott rồi dừng bên ghềnh đá trước cửa nhà, lung linh một màu vàng ngọt. Đêm quá khuya cho nên phà đậu bến, chỉ có vịnh êm đềm và thành phố Seattle say ngủ dưới ánh trăng. Rừng xào xạc gió thu. Tôi nhìn trăng, gục đầu ôm gối, đầu tôi trống không, tôi chẳng nghĩ được gì đến cái giải đất hình chữ S ấy cả. Tôi giấu nó ở đâu, những tình cảm của ai thả vào hai câu thơ Đường tự một thời xa xưa lắm, tâm hồn cô đơn của một kẻ xa quê hương thốt lên những tiếng xé lòng. Chắc người xưa có nhiều kỷ niệm, có đau xót đòi đoạn của một người bị bức tử, sống trên một đất nước xa lạ. Lòng tôi thường chùng xuống những lúc nhìn con đường trắng thả hồn trong lung linh mơ ảo. Tôi tự hỏi... “Đê đầu tư”... cái gì đây chứ hay là “tư” đến bất hạnh của con người lỡ sinh ra trên đất Việt những ngày hậu chiến. “Tư” gì ?... cho tôi xin đi... Tư gì...? Tư gì...?
Trưa nay ra biển thăm hải âu và gửi đám lá thu cho linh hồn các thuyền nhân không may mắn.
- Người đàn bà bên bờ vịnh Thu Hương Bút ký
- Hư Ảo Thu Hương Bút ký
- Một chốn thời gian ngừng trôi Thu Hương Du ký
• Dòng sông chết (Quang Già Cơ)
• Người đàn bà bên bờ vịnh (Thu Hương)
• Võ Phiến Và Tâm Trạng Kẻ Lưu Đày (Liễu Trương)
• AI Và Văn Chương: Tranh Luận Hay Tự Vấn? (Ngu Yên)
• Gửi Cô Trần Hạ Vi, Chung quanh vụ Ái Điểu (Nguyễn Lệ Uyên)![]()
Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)
Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng, Quyển Hạ
Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)
Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)
Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)
Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)
Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):
Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)
Sách Xưa (Quán Ven Đường)
Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)
(Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)
Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)
Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)
Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?
(Trùng Dương)
Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)
Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục
Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến
Đặng Tiến
20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975
Nguyễn Văn Lục
Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)
Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)
Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)
Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)
Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)
Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)
Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)
Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)
Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)
Dương Quảng Hàm (Viên Linh)
Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)
Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)
Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)
Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)
Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)
Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)
Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn
Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)
Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)
Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)
Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)
Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)
Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)
Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh
(Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)
Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)
Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn
Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)
Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An
Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)
|
© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com) |