1. Head_
    Tô Kiều Ngân
    (.0.1926-20.10.2012)
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Thanh Tâm Tuyền, Nhà Thơ Tiên Phong (Ngự Thuyết)
      07-03-2016 | VĂN HỌC

      Thanh Tâm Tuyền, Nhà Thơ Tiên Phong

       NGỰ THUYẾT


          Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền
           (1936-2006)

      (Bài nói chuyện về Thanh Tâm Tuyền (TTT)trong cuộc Hội Thảo Văn Học Miền Nam 1954-1975 vào ngày 7/12/2014 do Người Việt, Việt Báo, Tiền Vệ, Da Màu tổ chức.)

      Kính thưa quý vị (QTQV), tôi rất hân hạnh trình bày đề tài “Thanh Tâm Tuyền, Nhà Thơ Tiên Phong”. Thanh Tâm Tuyền tên thật là Dzư Văn Tâm, sinh ngày 13/3/1936 tại Vinh, Nghệ An, viết văn, làm thơ, thỉnh thoảng viết về phê bình, và lý luận văn học khi còn rất trẻ. Tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc, xuất bản năm 1956 tại Sài Gòn khi Thanh Tâm Tuyền mới 20 tuổi. Tám năm sau, năm 1964, Liên, Đêm, Mặt Trời Tìm Thấy ra đời. Theo lệnh động viên, ông nhập ngũ năm 1962, giải ngũ năm 1966. Năm 1968 tình hình chiến sự căng thẳng, ông tái ngũ và phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cho đến khi Miền Nam thất thủ năm 1975. Ông ở tù bảy năm dưới chế độ Cộng Sản. Năm 1990, theo diện HO, ông sang định cư tại Hoa Kỳ, cho in tập thơ cuối cùng, Thơ Ở Đâu Xa, và qua đời ngày 22/3/2006 tại Minnesota, Hoa Kỳ.


      Hôm nay tôi chỉ đề cập đến lãnh vực sở trường và độc đáo nhất của ông, đó là thơ.


      Có người cho rằng Văn Học Miền Nam đột ngột chết, bị bức tử mà chết sau tháng 4/75. Tôi không đồng ý. Một nền Văn Học rực rỡ như thế không thể nào mai một, nó đã được kế tục và phát triển. Bằng chứng là trước đây và nhất là hôm nay, nền Văn Học ấy đã và đang được vinh danh. Cũng vì thế, ngoài phần trình bày Thơ Thanh Tâm Tuyền trước năm 1975 như đòi hỏi của cuộc Hội Thảo, tôi xin trích dẫn thêm một bài thơ trong tập Thơ Ở Đâu Xa in năm 1990 ở tại Mỹ.


      Trước hết, tôi xin giới thuyết hai chữ “tiên phong” trong bối cảnh Văn Học Việt Nam. Nó không có nghĩa là “avant-garde” như trong thuật ngữ tiếng Pháp, mà là “xông xáo, đi trước” so với tính cách “dè dặt, thủ cựu.”


      KTQV, từ năm 1954 đến năm 1975, chỉ 21 năm, văn học Miền Nam phát triển rầm rộ, nhanh chóng, nhất là thơ. Ngoài những nhà thơ đã nổi tiếng từ thời tiền chiến như Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, rất nhiều nhà thơ lỗi lạc khác chen nhau xuất hiện như Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Du Tử Lê, Nhã Ca, Trần Dạ Từ v.v..., trong đó một khuôn mặt độc đáo nhất, mạnh mẽ nhất, táo bạo nhất, cách tân nhất, đó là Thanh Tâm Tuyền.


      Thử nhớ lại lúc Tôi Không Còn Cô Độc ra đời cách đây gần 60 năm. Đó là một chấn động lớn trong sinh hoạt văn học Miền Nam, nó tạo nên những tranh luận sôi nổi. Người thì cho rằng Thanh Tâm Tuyền điên rồ viết những câu thơ vô nghĩa, hoặc cố tình lập dị để được chú ý; kẻ thì ca ngợi trên tờ Sáng Tạo.


      Thơ của Lê Thánh Tông (1442-1497) viết cách đây 500 năm “Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương/ Miếu ai như miếu vợ chàng Trương” (Đề Miếu Bà Trương) so với thơ tự do của Trần Dần bây giờ “Dừng chân trong mưa bay/Ướt đầm mái tóc/Em em nhìn đi đâu/Môi em đôi mắt” (Không Nói), ta không thấy bỡ ngỡ. Xưa và nay đều quen thuộc, đều được hiểu trọn vẹn.


      Thế Thơ Thanh Tâm Tuyền? Nếu lấy bài Chim làm ví dụ, thì quả nó hoàn toàn xa lạ. Nó không phải là một tiếp nối quá khứ, mà là một đột phá tận cùng, một đoạn tuyệt với truyền thống. Xin trích đoạn đầu của bài thơ ấy:

      “Đêm giao thừa thế kỷ mưa rơi sao

      mái sáng đường nằm chiêm bao biển giận dỗi

      bàn tay mây mắt trăng môi nhiệt đới

      chiến tranh còn những khoảng đất hoang

      cửa sổ đập lên cao cánh chim én mùa xuân

      ôm vào lòng bãi cỏ vườn hoa bầy sao rụng” ...

      Nhưng Thơ Thanh Tâm Tuyền có phải luôn luôn “xa lạ” như thế hay không? Câu trả lời là không. Trái lại là đằng khác. Có hai lý do chính.


      Thứ nhất, có nhiều đoạn, nhiều bài vô cùng giản dị, không chút màu mè, không tô điểm, không tu từ, không thể nào đơn giản hơn nữa, nằm rải rác trong cả hai tập thơ đầu: “Nếu đã đi từ Hà Nội xuống Hải Phòng hay sang Bắc Ninh/Nếu đã đi từ Sài Gòn xuống Vĩnh Long hay lên Thủ Dầu Một” (Bao Giờ)... Hay: “Anh biết vì sao cộng sản thủ tiêu Khái Hưng/mỗi lần hoàng hôn tôi bước cùng đám đông/lòng khẩn cầu cách mạng” (Trưởng Thành). Một số bài trọn vẹn cũng thế, rất đơn giản, như Bằng Hữu, Một Lần Nữa ... “Bình dị, đơn sơ” và “phức tạp, khó hiểu” chen lẫn nhau là một trong những phong cách của Thơ Thanh Tâm Tuyền. Tuy nhiên, ngay cả với những bài bình dị nhất, Thơ Thanh Tâm Tuyền vẫn khác hẳn thơ của lớp người đi trước hoặc đồng thời.


      Thứ hai, Thanh Tâm Tuyền không đả phá vần điệu. Nếu Thơ Lục Bát luôn luôn gieo vần âm bằng, thơ 7 chữ, Thơ Mới v.v...cũng thường gieo vần âm bằng, thì trong Thơ Thanh Tâm Tuyền vần và nhịp điệu hết sức đa dạng, sáng tạo, kín đáo, bằng trắc đều có, và nhiều khi những chữ vần được đặt cách xa nhau. Vần âm bằng rất nhiều, âm trắc hoặc bằng trắc xen kẽ cũng thường gặp, nhưng rất mới lạ, Thanh Tâm Tuyền còn cho bằng vần với trắc như trong bài Tình Cờ chẳng hạn:

      Hai người yêu nhau rất tình cờ

      như trên cùng một toa xe lửa

      tàu chạy qua cầu nghe tiếng sắt và tiếng nước trôi mau

      nhìn về đốm lửa yếu thành phố trên sông

      thành phố trẻ thơ tiêu điều ru dưới những bầu trời xấu ...

      Lại có loại vần của nhịp điệu, của hình ảnh, của ý tưởng trong những bài thơ rất dài như Sầu Khúc, Đêm, Bài Ca Ngợi Tình Yêu, Mặt Trời Tìm Thấy.


      Cũng có nhiều đoạn thơ hoàn toàn không vần:

      Khi mặt trời vừa thức

      Đòi gặp mùa xuân

      Cho làn mi lá ngủ

      Cho khoé mắt biển sâu

      Cho đồi hoa bát ngát...

      (Bài Thơ Của Tháng Giêng)

      hoặc thơ văn xuôi:

      “Hồn nhiên tôi trở thành thi sĩ ca dao nhẹ những nhát cuốc đầu xới lần áo mỏng ruộng đồng.


      Những chuyến đi xa theo mưa về ngủ mái rạ. Đem hiền lành, có lẽ từ một cửa bể bến sông quán rượu. Những người bạn hứng mưa vào lòng tay, gịot mưa đẹp như mắt ngủ, rất xa không hề cách. Tôi sẽ đưa em về ngủ bên sông, tâm hồn là cánh đồng chưa khai phá. Tôi sẽ mời anh về nghe mưa trên vừng trán vô tư, giác quan mở từng ngõ lạ xuống linh hồn. Chúng ta ngủ ngoài mưa như mơ ngủ.” ...

      (Mưa Ngủ)

      KTQV, khác hẳn hầu hết những nhà thơ trước ông rất hạn chế về đề tài, thơ Thanh Tâm Tuyền mở rộng ra nhiều lãnh vực của cuộc sống. Ông đề cập đến tình yêu nam nữ; tình bằng hữu; tình yêu quê hương, đất nước; những khát vọng về tự do; những quan tâm đến cách mạng, đến tình hình ở nhiều nơi trên thế giới, đến những thành phố còn sống trong ngục tù Cộng Sản; những ưu tư về thân phận con người, những băn khoăn siêu hình; những truy lùng tiềm thức, vô thức.


      Một điều đáng chú ý là Thanh Tâm Tuyền không tả cảnh. Thiên nhiên chỉ được nhắc đến rất vắn tắt khi cần minh họa cho những dòng ý thức. Nói cách khác, con người với tư duy của hắn được chú ý hơn ngoại cảnh. Mưa trong “Mưa Ngủ” vừa được trích dẫn đã biến thành con người rồi, nó về ngủ mái rạ, nó về rơi trên vừng trán vô tư. Điều này làm tôi nhớ trong cuốn The Brothers Karamazov của Dostoevksy mà Thanh Tâm Tuyền rất mến, gần 1000 trang mà chỉ có mấy dòng nhắc nhở đến thiên nhiên, thời tiết.


      Hơn một lần Thanh Tâm Tuyền bày tỏ quan điểm của mình về thơ. Trong Định Nghĩa Một Bài Thơ Hay, ông viết: “một câu thơ hay tự nhiên như lời nói”, hay trong Một Bài Thơ: “không đa đa siêu thực/thẳng thắn/khởi từ ca dao sang tự do.” Tuy nhiên ngay khổ đầu của bài Chim được trích dẫn bên trên lại khiến ta nghĩ đến những hình ảnh đột ngột xuất hiện đặt bên nhau không theo một thứ tự logic nào cả, những khơi dậy của tiềm thức, vô thức, những giấc mơ, vân vân, tức là những đặc trưng được André Breton trình bày trong Tuyên Ngôn của Trường Phái Siêu Thực (Manifestes du surréalisme) ra đời năm 1924. Đúng ra Bài Chim không xa Siêu Thực, không gần Ca Dao như tác giả của nó mong muốn. Có thể nói rằng Thơ Thanh Tâm Tuyền là phối hợp của Truyền Thống Dân Tộc (Ca Dao) với Chủ Nghĩa Hiện Đại Phương Tây.


      Thời còn rất trẻ, dưới 20 tuổi, ông viết: “Tôi không ca ngợi tình yêu, tôi nguyền rủa tình yêu (Nổi buồn trong thơ hôm nay 1955). Đấy chẳng qua là cái sôi nổi, bồng bột của tuổi trẻ. Thật ra Thanh Tâm Tuyền từng viết một bài thơ tình rất dài, rất hay, một thứ tình yêu không nước mắt, không than thở không bi lụy, nhưng đầy thương nhớ, trăn trở. Yêu nhau như “nụ hôn đầu” thì tiếp theo ngay đó là “ôm mái tóc lang thang”. Xin trích dẫn hai đoạn trong bài ấy, Liên Những Bài Thơ Tình Thời Chia Cách trong Tôi Không Còn Cô Độc:

      “Sự vắng mặt của em và bãi biển mùa đông

      thành phố đau từ mỗi cột đèn

      mỗi bực thềm cửa đóng

      em đi không nón không áo choàng

      mưa tầm tã

      những cửa sổ đêm muốn hé ra

      nổi loạn

      và mắt em mặt trời cỏ hoa với môi anh đằm thắm

      và rực rỡ nhớ thương


      Nét cong môi hồng mắt tình cờ

      ngực hoa yếu đuối

      những miền không gian được gọi qua

      tình yêu không thẹn thùng

      đâu phải một thứ mưa ô buy vào thành phố

      năm cửa ô hồi sinh trên xác năm cửa tù

      mưa nắng cùng rủ nhau xuống Sinh Từ ngõ Hội Vũ

      bao nhiêu đường tình tự ga hàng cỏ

      nụ hôn đầu ôm mái tóc lang thang” ...

      Ở tập thơ thứ hai LĐMTTT tình yêu vẫn còn, khá tươi sáng, trong Bài Ca Ngợi Tình Yêu:

      Em là lá biếc là mây cao là tiếng hát

      sớm mai khua thức nhiều nhớ thương

      em là cánh hoa là khói sóng

      đêm màu hồng

      Tuy nhiên thường xuyên hơn, kể cả trong tình yêu, là những ám ảnh, trăn trở, những độc thoại nội tâm ảo não, những tiếng nói trong cơn mê:

      “Anh xé tóc em cùng những cành lá chết

      Mùa thu

      Ghi thương tích nơi cườm tay

      Khóa chặt

      Anh xô ngã em từ chóp đỉnh hạnh phúc

      Khuôn mặt vỡ tan

      Như cẩm thạch

      Như nước mắt

      Như muôn đời

      Không hối hận

      Con đường anh phải đi một mình

      Trần truồng dã thú

      Đón anh ở cuối đường

      Hố sâu vĩnh viễn

      Không có em

      ...

      “Những bài thơ tình không viết được

      Những hồn ma hoang đầu ngọn cây

      Xác chết rữa nát

      Trong kẹt rừng khô

      Đêm thức dậy mở mắt mắt đã mù

      Hai con sâu nằm trên chân mày đang khoét lỗ

      Con quạ hôi hám mở lồng ngực bay lên

      Mỏ ngậm quả tim đựng hình ảnh đời người

      Đời người thản nhiên như tên gọi” ...

      (Đêm)

      hoặc những khắc khoải về thân phận con người tha hóa, chỉ mong còn chút tự do:


      “Trong đầu là hư vô

      Trong mắt là hoang đảo

      Trên môi là thần chú

      Trên tay là trống không

      Cả đời là sa mạc

      Cả tôi là tự do”...

      (Đêm)


      Nhưng có tự do hay không, hay là đi đâu nhà tù cũng đi theo vây hãm:


      “Phiêu lưu mãi là một nhà tù

      Dãy tường câm chuyển động

      Trên một triền vực sâu”

      (Sầu Khúc)


      Nói chung, Thơ Thanh Tâm Tuyền không dễ đọc. Trước hết, nếu thơ của ta từ xưa cho đến thời Thơ Mới và cả giai đoạn 1945 – 1954 là tiếng nói của tình cảm, của biểu đạt, nhằm gây xúc động – Xuân Diệu xôn xao trước thời gian: “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ!” (Giục Giã), Huy Cận bâng khuâng trước không gian: “Sông dài, trời rộng, bến cô liêu” (Tràng Giang) – thì thơ trong giai đoạn 1954-1975, đặc biệt Thơ Thanh Tâm Tuyền, là những dòng ý thức, nhận thức, nhằm đặt vấn đề. Cũng không còn cả cái “Nao nao dòng nước uốn quanh” như trong Kiều mà là những thao thức, trăn trở “dù tôi đang đứng bên bờ sông, nước đen sâu thao thức”.


      Bài Phục Sinh, bài thơ đầu tiên trong TKCCĐ là một ví dụ của những dòng ý thức, của những tra vấn, trăn trở về thân phận con người. Ta thử xem khổ thứ nhất:

      Tôi buồn khóc như buồn nôn

      ngoài phố

      nắng thủy tinh

      tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ

      thanh tâm tuyền

      buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường

      tôi xin một chỗ quỳ thầm kín

      cho đứa trẻ linh hồn

      sợ chó dữ

      con chó đói không màu

      tôi buồn chết như buồn ngủ

      dù tôi đang đứng bên bờ sông

      nước đen sâu thao thức

      Ba chữ đầu của bài thơ đầu trong tập thơ đầu của Thanh Tâm Tuyền xuất hiện mới lạ: “Tôi buồn khóc”. Xưa nay ta chỉ nói buồn cười, buồn ngủ, buồn mửa, vân vân. Và ta sẽ gặp trong hầu hết Thơ Thanh Tâm Tuyền rất nhiều sáng tạo chữ nghĩa như thế: hy vọng thổn thức, lòng tin phủ tro, quá khứ đăm đăm, buổi chiều vội vã đêm, mây đục đậu lên bờ cửa sổ, bước ai thánh thót, ngực gọi đêm về, mắt kín mưa đêm, trên chúm môi lá biếc/ những chòm hôn vội vàng, v.v. Nhiều vô số kể. Chữ nghĩa mới lạ là một trong những đặc điểm nổi bật của thơ ông.


      Xin trở lại với bài Phục Sinh. Câu đầu tiên đầy ray rức được nối tiếp bằng hai câu thật ngắn, thật đột ngột, ngoài phố/nắng thủy tinh, tạo nên sự đối nghịch lớn - tôi trong căn gác cô đơn khắc khoải, muốn tự hủy, tên tôi cũng sẽ chỉ còn là một nỗi nhớ, trong khi ngoài kia cuộc đời vẫn còn đó trong veo nắng.


      Câu thứ sáu lại là chuyển biến mới mang nhiều hình ảnh, ẩn dụ, đa tầng, đa nghĩa:


      buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường


      Sao trên trời là tướng tinh của con người, và một ngôi sao tắt có nghĩa là một người sắp qua đời chăng? Vâng, chiều nay có một ngôi sao vỡ, giáo đường gióng lên tiếng chuông cầu hồn. Mà câu thơ ấy cũng gợi lên hình ảnh chiếc linh hồn nhỏ chạm vào chuông giáo đường làm tóe ra những hình sao vỡ. Cho nên “đứa trẻ linh hồn” vội tìm chỗ ẩn nấp trốn tránh con chó dữ trong tôi đóng vai bà già đánh lừa em bé quàng khăn đỏ mà nhà thơ sẽ nhắc lại trong đoạn kế tiếp.


      Trong suốt hai tập thơ TKCCĐ, LĐMTTT, và khá nhiều bài thơ khác đăng trên các báo, ta thường gặp những cách phô diễn đầy ẩn dụ và tra vấn như trên. Xin trích thêm vài câu trong bài thơ văn xuôi Khúc Tháng Chạp viết vào cuối năm 1969:

      “Nội không quạnh quẽ như ngàn cõi chiêm bao vượt. Đập vỗ, đập vỗ hoài con mắt buốt, con mắt vi ty rụng trụi lớp mi che, không động thức. Con mắt khờ câm căng chống. Tưởng dáng mùa hè chín ối. Tưởng nét mùa thu lung linh. Đã bay qua, bay qua nghìn mệt mỏi. Như điệu ngân hụt hẫng”...

      Thơ Thanh Tâm Tuyền, do đó, đòi hỏi sự tham gia của người đọc. Sự tham gia ấy sẽ phát hiện ý nghĩa và giá trị của văn bản. Người đọc đến từ những nguồn gốc khác nhau, trình độ khác nhau, cảm thụ khác nhau, nhận thức khác nhau, do đó phát hiện cũng khác nhau.


      Chẳng hạn trong bài Dạ Khúc khá đơn sơ, người thì cho rằng hai câu đầu, Anh sợ những cột đèn đổ xuống/Rồi dây điện cuốn lấy chúng ta, là vớ vẩn, kẻ thì thích lối ẩn dụ ấy đã nói lên được một nhân sinh quan không bình yên trong một thế giới đổ vỡ. Franz Kafka cũng đã từng “vớ vẩn” hơn để nhân vật Gregor Samsa hóa thân thành con sâu gớm ghiếc (Metamorphosis) sau một đêm nằm ngủ đầy mộng mị. Hoặc với bốn câu thơ dưới đây, có người bảo thiếu trau chuốt, kẻ khác lại cho rằng viết như thế mới gây ấn tượng mạnh:

      Sao tuổi trẻ quá buồn

      như con mắt giận dữ

      Sao tuổi trẻ quá buồn

      như bàn ghế không bày

      Nhưng có lẽ ai cũng phải thừa nhận rằng “Dạ Khúc” là tiếng nói của tuổi trẻ cô đơn, bơ vơ, buồn chán, nổi loạn, tuổi trẻ của ai mà chả thế, trong một quê hương tương tàn, một đất nước tan tác!


      Tôi xin đọc nguyên bài Dạ Khúc [1].


      Đối với bài Chim mà ta đã trích dẫn trên chẳng hạn, việc tham gia của người đọc lại không dễ. Chữ nghĩa tinh khôi, hình ảnh dồn dập, lung linh, đa dạng, nhạc điệu phong phú, nhưng bài thơ muốn nói gì? Kiếp người ví như kiếp chim chăng, con người trong cuộc lữ có khác gì cánh én cô đơn bay mải miết trong thời gian và không gian, thời gian là đêm giao thừa của thế kỷ, không gian là vô vàn hình ảnh, sự kiện, xuất hiện ngổn ngang, là bão tố, là “mưa rơi sao”. Và kết cục, như được mô tả trong dòng cuối cùng của bài thơ, “chim bay vào trận mưa sao”.


      Về sau, khi cuộc chiến khốc liệt vượt lên trên mọi nỗi băn khoăn, khắc khoải của thời đại, Thơ Thanh Tâm Tuyền lại chuyển biến:

      Ta nhớ sau lưng núi thanh thản

      Biếc mây như lệ của đêm điên

      Ta nhớ rằng ta không nhớ nữa

      Như cây trơ trụi mùa hưu miên


      Như phiến gỗ nặng thả theo nước

      Bập bềnh trôi nổi ta về xuôi

      Như lau lách mọc chen bờ bãi

      Phất phơ tóc bạc lả theo trời

      (Đỉnh Non Xa, Giai PhẩmVăn 9/1974)

      Phải chăng Thanh Tâm Tuyền đang “về xuôi”, về với các thể thơ dễ dãi đã có, về với những sôi nổi của tuổi trẻ đang lắng dần, những giấc mơ đang tan vỡ, về với đám đông lau lách dưới kia, khi mái tóc không còn xanh, khi “tóc bạc lả theo trời”. Nhưng dù với thể thơ nào, Thanh Tâm Tuyền vẫn tỏ ra có biệt tài. Xin dẫn một đoạn ngắn của bài Ngôi Nhà Đỏ, Trăng Hồng thật dài làm ví dụ, trong đó những chấm câu bất ngờ, những ngôn từ quấy động, vần thì âm trắc, hình ảnh đa dạng, dữ dội, ý tứ cuồng nộ, khiến lời thơ trở nên dồn dập, khúc khuỷu, gắt gỏng:

      Ngôi nhà đỏ trên đồi trăng hồng khỏa.

      Trời sương lam. Núi ngây rừng gió lạ.

      Cây ngà say. Đêm heo hút lặng khơi.

      Mùa trở gió. Rười rượi buồn cỏ lá.


      Mùa ngã độc. Nhà nín hơi lẩn lút

      Đồi sượng sần. Cây lìa cành, lá trút.

      Đừng ngoái nhìn. Phơ phất khói sương thu.

      Đừng ngoái nhìn. Trăng khỏa thân xanh mướt

      Sau Tháng tư 1975, trong nhà tù Cộng Sản, Thanh Tâm Tuyền vẫn làm thơ. Khi định cư tại Mỹ, ông gom góp những bài thơ làm trong tù in thành tập thơ cuối cùng, Thơ Ở Đâu Xa rất giá trị.


      Xin trích trong tập thơ cuối cùng ấy bài chiều cuối năm qua xóm nghèo viết vào năm 1978 mà bất cứ một ai từng ở tù cải tạo của Cộng Sản đều tìm thấy mình trong đó. Bài thơ hắt hiu, chữ nghĩa buồn tênh từ đầu đến cuối như một bức tranh sử dụng toàn gam màu lạnh mà dưới lớp băng giá đó âm ỉ vài tia lửa ấm, vài giao thoa của đời sống tối tăm. Đây một chút nhớ, đâu lũ trẻ co ro đứng trông tù qua thôn; kia một chút thương, nhà ai lạnh lẽo khiến lòng ta ảm đạm. Vâng, lũ trẻ không theo lời xúi giục của người lớn ném đá vào đoàn tù đi qua như đã xẩy ra, mà đứng co ro nhìn; đoàn tù thì nhớ lũ trẻ cũng là nhớ lũ con của mình không biết hiện ở phương trời nào. Và nhà ai năm hết Tết đến tuy ở bên ngoài nhà tù cũng thê lương tăm tối không đèn lửa chẳng khác gì bên trong trại tù. Đây không phải so sánh để tự an ủi, mà là thương cảm. Bài thơ làm theo lối 7 chữ 8 câu, cách tân, chia thành hai đoạn:

      "Mưa bay lất phất gió căm căm

      Đường lầy trơn nhà cửa tối tăm

      Trốn đâu lũ trẻ mặt lem luốc

      Co ro đứng xem tù qua thôn


      Vác bó cuốc nặng bước loạng choạng

      Về trong xây xẩm buổi tàn đông

      Lạnh lẽo nhà ai không đèn lửa

      Ảm đạm lòng ta chiều cuối năm”

      KTQV, những đóng góp của Thanh Tâm Tuyền cho văn học Việt Nam thật lớn lao. Ông là nhà thơ tiên phong mở ra những chân trời mới lạ cho thơ Việt Nam, mang lại nhiều khám phá độc đáo, và đạt được những thành quả ít ai sánh kịp. Cho đến nay, nói như Báo Mạng Tiền Vệ khi ông vừa mới qua đời (22-3-2006), Thơ Thanh Tâm Tuyền “vẫn còn là một nguồn cảm hứng lớn đối với nhiều nhà thơ có khát vọng đổi mới”. Trong thời kỳ cực thịnh của văn học Việt Nam, Thanh Tâm Tuyền vượt lên như một trong những đỉnh cao nhất. Có thể nói rằng Thanh Tâm Tuyền là một trong một số ít nhà thơ lớn nhất không phải chỉ riêng đối với Miền Nam mà cho cả nước.

      [1] Anh sợ những cột đèn đổ xuống

      Rồi dây điện cuốn lấy chúng ta

      Bóp chết mọi hy vọng

      Nên anh dìu em đi xa


      Đi đi chúng ta đến công viên

      Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối

      Ôi môi em như mật đắng

      Như móng sắt thương đau

      Đi đi anh đưa em vào quán rượu

      Có một chút Paris

      Để anh được làm thi sĩ

      Hay nửa đêm Hà Nội

      Anh là thằng điên khùng

      Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới


      Tiếng kèn đồng cứ mãi than van

      Điệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng

      Sao tuổi trẻ quá buồn

      như con mắt giận dữ

      Sao tuổi trẻ quá buồn

      như bàn ghế không bày


      Thôi em hãy đứng dậy

      người bán hàng đã ngủ sau quầy

      anh đưa em đi trốn

      những dày vò ngày mai

      Ngự Thuyết

      Nguồn: vietbao.com



      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Khái Hưng và Trường Can Hành của Lý Bạch Ngự Thuyết Giới thiệu

      - Thanh Tâm Tuyền, Nhà Thơ Tiên Phong Ngự Thuyết Nhận định

      - Mối Tình Đầu hay Thử Nhìn Lại "Đây Thôn Vỹ" của Hàn Mặc Tử Ngự Thuyết Bình luận

      - Thử đánh giá lại Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng Ngự Thuyết Tham luận

      -

      -

      -

    3. Link (Thanh Tam Tuyen)

       

      Bài viết về Thanh Tâm Tuyền

       

      Thanh Tâm Tuyền, người khởi xướng thơ tự do ...

        (T. V. Phê)

      Thanh Tâm Tuyền Và Những Người Bạn ...

        (Dương Nghiễm Mậu, Hợp Lưu)

      Thanh Tâm Tuyền, người thi sĩ ấy

        (Bùi Vĩnh Phúc, Talawas)

      Thanh Tâm Tuyền (Đặng Tiến, Talawas)

      Văn, số đặc biệt về TTT (Thư Quán Bản Thảo)

       

      Tác phẩm

       

      Tôi không còn cô độc, Liên Đêm Mặt trời tìm thấy,

      Bếp lửa, Mù khơi, Tiếng động, Khuôn mặt,

      Nghệ thuật đen, Tiếng nói một người (Talawas)

      Thơ Thanh Tâm Tuyền (Đặc Trưng)

       

       

       

      Hội Thảo 20 Năm văn Học Miền Nam 1954-1975

       

      Hội Thảo 20 Năm Văn Học Miền Nam

       

      Vị Trí Của Sáng Tạo Trong Sự Phát Triển Văn Học Miền Nam Sau 1954 (Trương Vũ)

      40 Năm Văn Học Miền Nam Thất Thủ: Thế hệ Hậu Chiến khước từ Thân phận mồ côi (Trangđài Glassey)

      Văn Học Miền Nam 54-75 'chỉ 20 năm, nhưng vô cùng quan trọng' (Kalynh Ngô)

      Số phận của văn học miền Nam sau 1975 (Nguyễn Hưng Quốc)

      Đặng Thơ Thơ Nói Về 20 Năm Văn Học Miền Nam (1954-1975) (Đặng Thơ Thơ)

      Ðặt lại giá trị văn học miền Nam trong lịch sử văn học Việt Nam (Phạm Phú Minh)

      Văn chương miền Nam thời chiến qua mắt nhìn của những bạn trẻ (Nguyệt Mai)

      Văn Học Miền Nam Tự-Do 1954-1975 (Nguyễn Vy Khanh)

      Tính “văn học” trong văn học Miền Nam (Trần Doãn Nho)

      Hội Thảo 20 Năm Văn Học Miền Nam (Phần tiếp theo vào ngày 7/12/14) (Đặng Phú Phong)

      Hội Thảo 20 Năm Văn Học Miền Nam

       (Đặng Phú Phong)

      Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam (1954 – 1975): Phẩm Tính và Ý Nghĩa (Bùi Vĩnh Phúc)

      Trang Chuyên Ðề: Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam 1954-1975 (diendantheky.net)

      Ai bất hạnh hơn ai? (Nguyễn Hưng Quốc)

      Về nhận định của nhà phê bình Vương Trí Nhàn (Bùi Vĩnh Phúc)

      Nhân một cuộc hội thảo về văn học miền Nam 1954-75 (Vương Trí Nhàn)

       

       

      Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Tiễn Trần Tuấn Kiệt, nhớ chuyện viết văn làm báo (Viên Linh)

      - Du Tử Lê (Nguyễn Vy Khanh)

      - Sa Giang Trần Tuấn Kiệt, người làm thơ lãng tử (Trần Yên Hòa)

      - Viết về Trần Phong Giao qua những sách báo sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tô Đình Sự, Người Ngoài Chân Mây Thênh Thang

      (Ngô Nguyên Nghiễm)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Tạp Văn (Nguyễn Kim Phượng)

      - Văn học miền Nam ở hải ngoại (Viên Linh)

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975: Nhận Định, Biên Khảo, Thư Tịch (Nguyễn Vy Khanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Bàng Bá Lân,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Vĩnh Phúc,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Tiêu,  Cao Đông Khánh,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Chu Tử,  Diễm Phượng,  Diên Nghị,  Doãn Dân,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)