1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Tự Điển:

      Việt-Anh-Pháp
      Hán Nôm

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      NAM PHONG - TRI TÂN
      THANH NGHỊ - NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21 - BÁCH KHOA
       

      Sách Xưa

       

      QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ:
      - Lớp Sơ Đẳng - Lớp Đồng Ấu
      - Lớp Dự Bị
       

       

    2. Thi sĩ Thanh Tâm Tuyền: Một Phía Khác (Phan Thanh Tâm)

      22--3-2018 | VĂN HỌC

      Thi sĩ Thanh Tâm Tuyền: Một Phía Khác

       PHAN THANH TÂM


          Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền
           (1936-22.3.2006)


      Là người đi tiên phong cổ xúy cho thơ tự do, siêu hình, lãng mạn, muốn đập vỡ hình hài, và phá bỏ những giấc mơ quen thuộc nhưng Thi Sĩ Thanh Tâm Tuyền lại là người rất bảo thủ, nghiêm túc, có cung cách của một nhà mô phạm, từ tốn, chừng mực, tiết tháo, không thích đám đông hay ồn ào, ít giao du, muốn có một đời sống bình thường.


      Dù ông đã nói xin đừng ai gọi tôi là thi sĩ, Thanh Tâm Tuyền vẫn được giới yêu thơ Xin trao thi sĩ vòng hoa tặng. Theo nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc hai tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc (1955) và Liên-đêm-mặt trời tìm thấy (1964) đã trình bày con người và thơ của ông: "Kiêu căng, ngạo mạn, lạnh lùng, cô độc, cô đơn, cô lữ, lãng mạn, tha thiết, dằn vặt, yêu thương, khô khan, bùng cháy, mệt mỏi, hoài nghi, thất vọng, siêu hình, trong sáng, rắc rối, phức tạp, xót xa, phẫn nộ”.


      Tin ông từ giã cuộc đời đến với bằng hữu một cách đột ngột. Ngay cả em ông Dzư văn Chất cũng chỉ hay tin ông mắc bạo bệnh ung thư phổi khi ông trong cơn hấp hối. Trước đó , mọi lời đồn đoán về sức khỏe của ông đều bị phủ nhận. Đây là một Cuộc hành trình hoàn toàn cô độc. Ông đã ngủ cô đơn trên giường bệnh. Theo lời người trong gia đình, nhà thơ cho rằng nếu không có niềm vui thông báo thì thôi, không nên đưa ra tin dữ và sống hay chết vẫn chẳng có gì khác lạ.


      Khoảng 50 người thân thuộc trong gia đình và bạn bè quen biết trưa thứ bảy 24/3/06 đã tiễn đưa ông ra nằm mãi mãi ngoài nghĩa địa, ngủ giấc dài rất thơ ngây ở Roseville; ông hết còn Chiều chiều lững thững lên bãi tha ma, như những năm đầu mới qua Mỹ. Người Thi Sĩ bay vào miền đất lạ vừa lúc thời tiết bắt đầu vang vang trời vào Xuân, sau một mùa đông “tuyết đổ tơi bời trời đất sầu thảm” (1).


      Ba người bạn cố tri thuở thiếu thời ở Hà nội, cùng dạy học các trường quanh Saigon trước 1975, hiện cùng định cư ở Minnesota đều nói rằng, tinh thần giáo chức ảnh hưởng rất mạnh nơi ông Dzư văn Tâm, tên thật của cố Thi Sĩ. Ông rất đàng hoàng. Y phục, tóc tai bao giờ cũng chững chạc, không hề thất hứa. Ông dạy việt văn và toán, nghiêm khắc và tận tâm. Học trò rất khâm phục; mê nghe ông giảng về Chinh Phụ Ngâm. Ông là cha đỡ đầu cho một người con của Giáo sư thuộc nhóm Sáng Tạo Nguyễn Sỹ Tế.


      Thi sĩ có gốc tu


      Nghề gõ đầu trẻ đã vận vào ông từ khi còn dưới đôi mươi. Thi tú tài toán ông phải làm đơn xin miễn tuổi. Khi dạy ở truờng Minh Tân ở Hà Đông một vị Linh Mục thấy thầy giáo toán trẻ có “gốc tu”. Em ông, ông Dzư văn Chất cho biết nhờ nhận xét này, anh ông, Thanh Tâm Tuyền như lạc vào rừng hoa, cho dạy lớp nữ sinh Nguyễn bá Tòng ở Saigon, trái với nội qui là chỉ các thầy có gia đình mới được phụ trách. Động viên thành Sĩ Quan, Thanh Tâm Tuyền về dạy ở trường Đại Học Võ Bị Đà Lạt.


      Sang Mỹ ông theo học điện toán tại trường St Paul Technical College. Sau đó Thanh Tâm Tuyền được trường thu nhận phụ trách giúp sinh viên tìm lỗi các phương trình viết bằng Cobol; ông có biệt hiệu là “Tâm Cobol”.


      Ít ai biết ông có một người con trai bị mất tích trên đường đi tìm tự do sau 1975. Ông rất mực thước, kín đáo và đôn hậu. Trong buổi tưởng nhớ cố thi sĩ (1936-2006) tại nhà quàn ở Roseville chiều ngày 24/3/06, Ông Vũ Quang, cho hay trong gần 10 năm cùng phục vụ chung với ông tại Cục Tâm Lý Chiến và trường Cao Đẳng Quốc Phòng ông nhận thấy cố thi sĩ Thanh Tâm Tuyền âm thầm chu toàn mọi trách vụ, đã đóng góp to lớn cho nhật báo Tiền Tuyến và Nguyệt San Quốc Phòng. Ông là một quân nhân gương mẫu. Ông có bốn người con trai và một người con gái.


      Một người bạn của cố thi sĩ có quen cô Tuyền nói rằng cô Tuyền không phải là người yêu của Thanh Tâm Tuyền. Cô ta “nhỏ hơn anh Tâm bốn tuổi, ở Hà Nội nhà gần với nhau; có vào Nam rồi dọn đi đâu không ai biết”. Biệt hiệu là Thanh Tâm Tuyền là để cho khỏi trùng với biệt hiệu Thanh Tâm của một người khác. Còn tên Liên cũng là tên một cô gái láng giềng hồi nhỏ. Ông Dzư văn Chất cho biêt cô bé này ở trong Nam.


      Nhà nghèo, thân sinh mất sớm khi ông bốn tuổi. Về cái lưng hơi cong, ông cho biết "sự thật là hồi nhỏ, ở Hà Nội, phải đi gánh từng gánh nước ở phông-ten về nhà dùng, nên làm sao cái lưng nó chả gù gù” (2). Tôi chỉ quen ông trong một buổi trình diễn dương cầm của Đặng Thái Sơn tại Minnesota lúc ông về đây định cư. Tôi nhớ, ông thường nói với tôi “Tôi cũng tên Tâm có một người em cùng cỡ cậu”. Có lẽ vì khi nói chuyện với ông là cứ gọi “anh Thanh Tâm Tuyền” chăng?. Bà cụ thân sinh đã hơn 90 hiện sống ở Việt Nam với cháu nội con của người em duy nhất Dzư văn Chất người mà tôi mới biết hôm dự đám tang “anh Dzư văn Tâm”.


      Từ ngày sang Mỹ, Thanh Tâm Tuyền theo diện HO, không có liên hệ với các sinh hoạt cộng đồng, Ông chỉ lặng lẽ theo dõi, quan sát. Có một lần một người quen với người viết bài này làm ở đài BBC muốn liên lạc với ông nhưng ông tránh né. Tuy nhiên, theo tôi, điều này không có nghĩa là ông muốn ẩn dật, giã từ viết lách. Luật sư Trần Thanh Hiệp, hoạt động với ông thời sinh viên 1954-1955 và báo Sáng Tạo 1956-1960, nhận xét đúng khi cho rằng ông đã đứng sang bên lề cuộc sống trong môi trường hải ngoại để đổi mới ảnh tượng. Trong ông suối nguồn ảnh tượng đang đợi dịp tuôn trào.


      Thơ tù


      Trong một dịp đi uống cá phê vời thi sĩ hồi ông còn đi học lại về điện toán, trong câu chuyện ông có đề cập đền việc muốn ra một tạp chí bất định kỳ; phát hành giới hạn, chỉ gưỉ đến cho những độc giả chọn lọc mua trước. Phải chăng lúc nào ông cũng ấp ủ “có một tờ báo của mình để viết cho sướng tay”? Tập Thơ “Ở Đâu Xa” in năm 1992 ở Cali, gồm những bài thơ đã xuất hiện trước đó ở hải ngoại với bút hiệu Trần Kha. Nhạc sĩ Cung Tiến có phổ nhạc một số. Không nghe nói có buổi ra mắt tập thơ. Hỏi ông, ông nói “tôi không làm chuyện đó”. Những vần thơ này đã phải trải qua hai lần vượt: vượt tù và vượt biên.

      "Trăng lạnh soi mái ngoài

      Lênh đênh đêm chẳng thấy

      Gió hú rợn núi đồi

      Ðêm sâu kín khắc khoải"

       

      (Trăng Tù)


      Vác bó cuốc nặng bước loạng choạng

      Về trong xây xẩm buổi tàn đông

      Lạnh lẽo nhà ai không đèn lửa

      Ảm đạm lòng ta chiều cuối năm

       

      (chiều cuối năm qua xóm nghèo)


      Đêm rét nằm co quắp

      Thân xương xẩu trơ khấc

      Bụng đói ruột ục sôi

      Đếm nhịp thở lay lắt

       

      (đêm đông ở k2 tân lập)

      Nhà văn Ninh Hạ Nguyễn Đức Tâm trong Văn Học số 193 kể lại rằng,

      “Một ngày trước khi tha, tôi và Thanh Tâm Tuyền cùng một người bạn trẻ rất khí khái, vốn là học trò của chúng tôi, có bữa ăn đạm bạc chia tay. Thanh Tâm Tuyền lại giao thêm cho tôi một trách vụ hiểm nghèo khác là đem ra những bài thơ của anh sáng tác trong thời gian ở tù, viết trên những dung giấy nhỏ. Đem lén cả hàng chục lá thư gửi về gia đình lại thêm thơ lậu của Thanh Tâm Tuyền, qua mặt cán bộ ra khỏi trại là một điệp vụ căng thẳng. Có kẻ lén báo cáo cán bộ nhân lực, tức an ninh trại, chận xét tại cổng nhưng tôi đã chuyển giao cho anh bạn trẻ Phan Cảnh Phùng trước đó không lâu. Thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc”...

      Hiếm người nói về văn thơ mình như ông; qua "Nỗi buồn trong thơ hôm nay" ông viết, "mỗi tiếng, mỗi lời viết ra tôi đều thấy nó chứa đựng những hận thù, khinh bỉ, dày vò, đớn đau, tuyệt vọng, nhơ nhuốc, dối trá, hằn học, trơ trẽn, bệnh hoạn, xấc láo, thô bạo, cục cằn, tủi hổ, yếu đuối, bất lực, chết chóc”. Vì sao vậy? Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc cho rằng vì thơ của cố Thi Sĩ: "gắn liền với ý thức, chứa đầy dằn vặt, như những tiếng thét, kéo người ta ra khỏi giấc mơ để đối diện với những đổ vỡ, những hỏa hoạn, những thiên tai ngay chính trong tâm hồn của mình”.


      những vần thơ tình


      Theo nhà văn Thụy Khuê, Thanh Tâm Tuyền

      "là một trong những nhà thơ giàu hình ảnh nhất Việt Nam; văn thơ ông là sự đãi lọc, khai phá chữ nghĩa; không gieo lối đồng âm, đồng thanh mà là nhịp điệu của ý thức; dùng những từ lạ và mới hơn. Ông là một tác giả phức tạp, tương phản. Một đặc trưng hiếm hoi trong văn học Việt Nam từ trước đến giờ. Báo điện tử Tiền Vệ nhận định rằng cố Thi Sĩ là một trong vài nhà thơ lớn nhất và có ảnh hưởng nhất không những ở miền Nam từ 1954 đến 1975 mà còn của cả nước thời kỳ hậu Geneva nói chung"

      Hồi ở Saigon năm 1972, Báo Văn số 199 trong bài “Thơ Mừng Năm Tuổi”, ông đã tự họa về một người sinh ở Nghệ An (Vinh) năm con chuột:

      "Được chê bai, được khen ngợi,

      được công kích, được tán dương,

      được choàng hoa, được lăng mạ. Ồn ào.

      Được gọi nhà văn, nhà thơ miền Nam. Tuỳ tiện.

      Tiền phong, độc lập với người này. Phản động, tay sai với kẻ nọ. múa gậy vườn hoang với đám kia (Cũng vui.)

      Không thẻ hội viên văn nghệ. Không chân đoàn thể hay đảng phái. Không thế lực Nhà Thờ (La Mã hoặc Tin Lành) hay Chùa Chiền (Ấn Quang hoặc Quốc Tự).

      Không thiết Tả, Hữu, Trung, Siêu. Mòng mòng. Hoan hỉ mòng mòng. Nghiêm túc mòng mòng.

      Chưa một ngày rời chân khỏi nước. Mê nhớ Paris, mọi thủ phủ, mọi thành phố, chốn đám đông tụ tập chen chúc và hiu quạnh — chưa quen như đã thông tỏ.

      Phiêu lưu xó nhà xó bếp, tửu quán trà đình, phường phố ngao du.

      Ngớ ngẩn dăm ba mối tình còm. Tuyệt vọng."

      Nhà phê bình Đặng Tiến sau khi ông qua đời đã viết: "Trong truyện Bếp lửa, sáng tác năm hai mươi tuổi, Thanh Tâm Tuyền đã hạ một câu kết, để đời, – khi hiu hắt, khi ngời sáng, trong tâm thức thế hệ chúng tôi: Anh yêu quê hương vô cùng và anh yêu em vô cùng. Đời người, vô cùng rồi cũng đến vậy thôi”.


      Và mấy ai trong chúng ta không mềm lòng khi đọc thơ tình yêu của Thanh Tâm Tuyền:

      "ngoài đời chỉ có trời sao là đáng kể

      mà bên những vì sao lấp lánh đôi mắt em"

      hay:

      "Em là lá biếc là mây cao là tiếng hát

      sớm mai khuya thức nhiều nhớ thương"

      hoặc:

      "Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới..."

      Thi Sĩ Thanh Tâm Tuyền quả thật là một người độc đáo vì chẳng những thơ ông đã “vượt khỏi hoàn cảnh và là vòng tay bát ngát ôm được những nỗi đau của nhân thế, ở mọi nơi, mọi thời" (3) mà còn là vì ông có một nhân cách rất đáng kính nể.


      Saint Paul, Minesota

      04/01/06

      Phan Thanh Tâm

      Nguồn: gio-o.com

      * những chữ xiên trích trong văn thơ Thanh Tâm Tuyền; (1) Võ Phiến;

      (2) Nguyễn Đạt; (3) Quỳnh Giao.



      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Thông cáo: Giải Văn Học Phan Thanh Giản Phan Thanh Tâm Thông cáo

      - Thi sĩ Thanh Tâm Tuyền: Một Phía Khác Phan Thanh Tâm Nhận định

      - Nguyễn Ngọc Bích: Một Cái Chết Rất Đẹp Phan Thanh Tâm Nhận định

    3. Link (Thanh Tam Tuyen)

       

      Bài viết về Thanh Tâm Tuyền

       

      Thanh Tâm Tuyền, người khởi xướng thơ tự do ...

        (T. V. Phê)

      Thanh Tâm Tuyền Và Những Người Bạn ...

        (Dương Nghiễm Mậu, Hợp Lưu)

      Thanh Tâm Tuyền, người thi sĩ ấy

        (Bùi Vĩnh Phúc, Talawas)

      Thanh Tâm Tuyền (Đặng Tiến, Talawas)

      Văn, số đặc biệt về TTT (Thư Quán Bản Thảo)

       

      Tác phẩm

       

      Tôi không còn cô độc, Liên Đêm Mặt trời tìm thấy,

      Bếp lửa, Mù khơi, Tiếng động, Khuôn mặt,

      Nghệ thuật đen, Tiếng nói một người (Talawas)

      Thơ Thanh Tâm Tuyền (Đặc Trưng)

       

       

       

      Hội Thảo 20 Năm văn Học Miền Nam 1954-1975

       

      Hội Thảo 20 Năm Văn Học Miền Nam

       

      Vị Trí Của Sáng Tạo Trong Sự Phát Triển Văn Học Miền Nam Sau 1954 (Trương Vũ)

      40 Năm Văn Học Miền Nam Thất Thủ: Thế hệ Hậu Chiến khước từ Thân phận mồ côi (Trangđài Glassey)

      Văn Học Miền Nam 54-75 'chỉ 20 năm, nhưng vô cùng quan trọng' (Kalynh Ngô)

      Số phận của văn học miền Nam sau 1975 (Nguyễn Hưng Quốc)

      Đặng Thơ Thơ Nói Về 20 Năm Văn Học Miền Nam (1954-1975) (Đặng Thơ Thơ)

      Ðặt lại giá trị văn học miền Nam trong lịch sử văn học Việt Nam (Phạm Phú Minh)

      Văn chương miền Nam thời chiến qua mắt nhìn của những bạn trẻ (Nguyệt Mai)

      Văn Học Miền Nam Tự-Do 1954-1975 (Nguyễn Vy Khanh)

      Tính “văn học” trong văn học Miền Nam (Trần Doãn Nho)

      Hội Thảo 20 Năm Văn Học Miền Nam (Phần tiếp theo vào ngày 7/12/14) (Đặng Phú Phong)

      Hội Thảo 20 Năm Văn Học Miền Nam

       (Đặng Phú Phong)

      Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam (1954 – 1975): Phẩm Tính và Ý Nghĩa (Bùi Vĩnh Phúc)

      Trang Chuyên Ðề: Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam 1954-1975 (diendantheky.net)

      Ai bất hạnh hơn ai? (Nguyễn Hưng Quốc)

      Về nhận định của nhà phê bình Vương Trí Nhàn (Bùi Vĩnh Phúc)

      Nhân một cuộc hội thảo về văn học miền Nam 1954-75 (Vương Trí Nhàn)

       

       

      Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Giáo Sư Đặng Ngọc Thiềm (Nguyễn Duy Chính)

      - Thông cáo: Giải Văn Học Phan Thanh Giản

      (Phan Thanh Tâm)

      - Đọc Hiểu Văn Bản Nghệ Thuật & Sự Tương Tác Nhà Văn Với Người Đọc (Nguyễn Minh Triết)

      - Viết Ðể Làm Gì? Tại Sao Viết? (Trương Anh Thụy)

      - Sách có linh hồn không? (Bùi Bích Hà)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Tạp Văn (Nguyễn Kim Phượng)

      - Văn học miền Nam ở hải ngoại (Viên Linh)

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975: Nhận Định, Biên Khảo, Thư Tịch (Nguyễn Vy Khanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Đông Khánh,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Chu Tử,  Doãn Dân,  Du Tử Lê,  Dương Nghiễm Mậu,  Dương Quảng Hàm,  Giang Hữu Tuyên,  Hà Thúc Sinh,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)