1. Head_
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Khái Hưng và Trường Can Hành của Lý Bạch (Ngự Thuyết)
      1-6-2016 | VĂN HỌC

      Khái Hưng và Trường Can Hành của Lý Bạch

       NGỰ THUYẾT


          Khái Hưng (1896-1947)
      qua nét vẽ của họa sĩ Tạ Tỵ

      Lý Bạch (701-762) là đại thi hào bậc nhất thời Thịnh Đường, ra đời cách đây hơn 13 thế kỷ. Ông sống một cuộc đời phóng túng, cao ngạo, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài. Là nhà thơ, ông lại thích múa kiếm làm hiệp sĩ, thích ở ẩn, dù có một thời gian được vua Đường Minh Hoàng qúy mến vời vào cung uống rượu, làm thơ. Ông được người đời mệnh danh là “trích tiên”. Thơ của ông tự nhiên, mạnh mẽ, khoáng đạt, dào dạt, ít dụng công lựa chữ. Đề tài của thơ ông rất đa dạng, phong phú. Ông đề cập đến thú uống rượu và thưởng trăng, tình yêu thiên nhiên, ngày tháng rong chơi trên nhiều nơi của đất nước mênh mông. Tình bạn và cảnh biệt ly cũng được nhiều lần nhắc đến. Có khi ông cảm khái làm “thơ biên tái”mô tả cảnh dãi dầu, bi hùng của chiến sĩ ngoài sa trường. Ngược lại ông cũng không quên ca tụng giai nhân chốn cung đình.


      Lại cũng có khi ông quan tâm đến thân phận người con gái vừa mới về nhà chồng một vài năm thì đã phải nếm mùi chia cách. Bài Trường Can Hành thuộc về đề tài đó. Dù là một lãnh vực ít được ông chú ý, nhưng một khi ông ghé mắt vào, bài Trường Can Hành vẫn một kiệt tác.


      Thơ của ta cũng có bài chịu ảnh hưởng đôi chút của Trường Can Hành. Trong Chinh Phụ Ngâm có hai câu:


      Chàng ruổi ngựa dặm trường mây phủ

      Thiếp dạo hài lối cũ rêu in


      Câu thứ hai phải chăng lấy từ ý trong hai câu:


      Ngoài cửa thưa chân bước

      Rêu xanh mọc thành hàng

      (Khái Hưng dịch Trường Can Hành)


      Cũng thế, trong Truyện Kiều có những câu:


      Sân rêu chẳng tỏ dấu giày

      Cỏ cao hơn thước, liễu gầy vài phân


      hoặc:


      Xập xè én liệng lầu không

      Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày


      Và có thể nào Xuân Diệu đã nghĩ đến:


      Tháng tám ngoài vườn cỏ

      Nhởn nhơ đôi bướm vàng

      Tự cảm đau lòng thiếp

      Nhìn tàn tạ hồng nhan

      (Khái Hưng dịch Trường Can Hành)


      khi trong bài Đơn Sơ có những câu:


      Em viết trong thư mấy bữa rày

      Sao mà bươm bướm cứ đua bay

      Em buồn em nhớ, chao em nhớ

      Em gọi thầm anh suốt cả ngày


      Gần đây, trong một lần trò chuyện với nhà phê bình Đặng Tiến, tôi được biết ông thuộc rất nhiều thơ. Một điều đặc biệt nữa là không những thuộc thơ, ông còn biết bài thơ nào in trong báo nào, tạp chí nào, sách nào. Quả vừa là nhà phê bình, vừa là nhà văn bản học. Riêng tôi chỉ nhớ được một ít thơ và tên tác giả mà thôi. Tôi không để ý đến nhà in, nhà xuất bản.


      Khi tôi bảo Khái Hưng có dịch Trường Can Hành ra tiếng Việt, ông ngạc nhiên hỏi tôi bài đó đăng ở sách báo nào, lúc nào. Tôi chịu thua. Theo Đặng Tiến, Khái Hưng có dịch thơ, trong đó bài dịch Sonnet d’Arvers ra tiếng Việt được nhiều người biết đến. “Lòng ta chôn một mối tình/Tình trong giây lát mà thành thiên thâu ....”, ông đọc hai câu đầu tiên của bài thơ ấy. Nhưng đối với bài Trường Can Hành của Lý Bạch, ông chưa biết Khái Hưng có dịch hay không. Ông nói thêm có lần tạp chí Khởi Hành của Viên Linh dành nguyên một số báo viết về Khái Hưng, nhưng không thấy bài nào đề cập đến chuyện Khái Hưng dịch Trường Can Hành. Trước khi chia tay, ông bảo nếu tôi nhớ rõ bài dịch ấy, thì nên cho đăng lên báo để rộng đường dư luận.


      Sau câu chuyện nói trên, tôi trở về nhà tìm đọc trên các sách báo mà tôi có, và trên Internet. Có đến 10 tác giả đã dịch Trường Can Hành ra tiếng Việt; không thấy tên Khái Hưng. Nhưng tôi nhớ rõ đã đọc bài dịch của Khái Hưng trên một cuốn sách hay tạp chí cũ nào đó từ khi tôi còn học trung học, nghĩa là cách đây hơn nửa thế kỷ, và đã thuộc lòng vì đó là bài dịch hay. Nếu so bài ấy với 10 bài vừa kể trong đó có bài của Trần Trọng San, Trúc Khê, theo tôi, bài của Khái Hưng hay nhất.


      Bạn đọc có thể nghĩ rằng tôi nói vớ vẩn, vô căn cứ, hoặc nhớ sai. Cho nên tôi thử soát lại một loạt bài thơ Tiền Chiến tôi đã đọc, đã thích, đã nhớ, cùng một lúc. Nào một số thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, nào một số thơ của Hàn Mạc Tử, Vũ Hoàng Chương, Thâm Tâm, Đinh Hùng, vân vân, và cả bài dịch Trường Can Hành của Khái Hưng cũng theo lối thơ ngũ ngôn. Tôi nhận ra rằng tôi đã nhớ đầy đủ và gần đúng hết. Ai cũng thế, hồi còn trẻ, đầu óc gần như trang giấy trắng, những gì đã được ghi vào ký ức sẽ khó bị xoá nhoà.


      Khái Hưng, một tiểu thuyết gia biệt tài, một tấm lòng bao la, man mác, đã xây dựng nên Hồn Bướm Mơ Tiên như một bài thơ xuôi thật dài, thật duyên dáng, êm đềm, thơ mộng, và đã nhập vào hồn Trường Can Hành để chuyển thành một bài thơ tiếng Việt đầy xúc cảm dù có một vài chi tiết không theo sát với nguyên tác chữ Hán.


      Tôi xin ghi lại dưới đây bài Trường Can Hành nguyên tác chữ Hán của Lý Bạch, bài dịch nghĩa và dịch thành thơ của Trần Trọng San, và cuối cùng là bài dịch của Khái Hưng.


      Nguyên tác của Lý Bạch:

      Thiếp phát sơ phú ngạch

      Chiết hoa môn tiền kịch

      Lang kỵ trúc mã lai

      Nhiễu sàng lộng thanh mai

      Đồng cư Trường Can lý

      Lưỡng tiểu vô hiềm sai

      Thập tứ vi quân phụ

      Tu nhan vị thường khai

      Đê đầu hướng ám bích

      Thiên hoán bất nhất hồi

      Thập ngũ thủy triển mi

      Nguyện đồng trần dữ hôi

      Thường tồn bão trụ tín

      Khởi thướng Vọng Phu đài

      Thập lục quân viễn hành

      Cồ Đường Diễm Dự đôi N

      gũ nguyệt bất khả xúc

      Viên thanh thiên thượng ai

      Môn tiền cựu hành tích

      Nhất nhất sinh lục đài

      Đài thâm bất năng tảo

      Lạc diệp thu phong tảo

      Bát nguyệt hồ điệp lai

      Song phi tây viên thảo

      Cảm thử thương thiếp tâm

      Toạ sầu hồng nhan lão

      Tảo vãn há Tam Ba

      Dự tương thư báo gia

      Tương nghinh bất đạo viễn

      Trực chỉ Trường Phong sa.

      Dịch nghĩa:

      Nhớ lại ngày còn nhỏ, tóc thiếp mới rủ xuống trán. Thiếp bẻ hoa chơi trước cổng. Chàng cưỡi con ngựa tre chạy lại, vòng quanh giường nghịch cành mai xanh.


      Chàng và thiếp cùng ở làng Trường Can, vì cùng còn nhỏ tuổi nên việc giao du không có sự nghi ngờ. Khi mười bốn tuổi, thiếp về làm vợ chàng, mặt thẹn thùng chưa từng hé mở.


      Thiếp ngượng ngùng quay đầu vào vách tối. Chàng gọi trăm nghìn lần, thiếp không một lần quay lại. Năm mười lăm tuổi, lông mày mới bắt đầu giải rộng, thiếp nguyện cùng chàng gian khổ có nhau.


      Thiếp thường giữ vững lòng tin như Vĩ sinh ôm cột ngày xưa. Có bao giờ nghĩ rằng phải lên đài Vọng Phu. Khi thiếp mười sáu tuổi, chàng phải đi xa đến mãi Cồ Đường và Diễm Dự đôi.


      Tháng năm, không đến được miền đó. Trên trời, tiếng vượn kêu bi ai. Trước cổng, rêu đã mọc xanh trên những vết chân xưa.


      Rêu mọc dày, không sao quét hết. Năm nay, gió thu thổi, lá vàng rơi sớm hơn mọi năm. Tháng tám, những con bướm lại, bay đôi trên cỏ vườn tây.


      Cảm xúc trước cảnh ấy, lòng thiếp đau thương. Thiếp ngồi buồn thấy hồng nhan thêm già. Sớm muộn chàng sẽ xuống miền Tam Ba, xin hãy báo tin về nhà.


      Thiếp không ngại đường sá xa xôi, sẽ thẳng tới Trường Phong sa gặp chàng.

      Dịch thơ của Trần Trọng San:

      Tóc thiếp vừa buông trán,

      Hái hoa trước cổng ngoài.

      Chàng cưỡi ngựa tre đến,

      Quanh giường đùa nhánh mai.

      Trường Ca cùng một xóm,

      Hai trẻ đều thơ ngây.

      Mười bốn về làm vợ,

      Thiếp còn e lệ hoài.

      Cúi đầu vào vách tối,

      Gọi mãi chẳng buồn quay.

      Mười lăm vừa hết thẹn,

      Thề cát bụi không dời.

      Bền vững niềm son sắt,

      Há lên Vọng phu đài.

      Chàng đi năm mười sáu,

      Cồ Đường, Diễm Dự đôi.

      Tháng năm không đến được,

      Tiếng vượn kêu vang trời.

      Dấu chân ngoài cổng trước,

      Rêu biếc mọc xanh tươi.

      Rêu đầy không quét hết,

      Gió thổi lá vàng rơi.

      Tháng tám đàn bươm bướm,

      Trên cỏ vườn bay đôi.

      Cảm xúc đau lòng thiếp,

      Má hồng sầu pha phôi.

      Tam Ba chàng sẽ đến,

      Xin báo tin về nhà.

      Đón chàng thiếp chẳng ngại,

      Thẳng đến Trường Phong sa.

      Dịch thơ của Khái Hưng:

      Thiếp ngắt hoa trước cửa

      Tóc chấm trán vừa ngang

      Chàng cưỡi ngựa trúc đến

      Tung hoa chạy quanh giường

      Làng Trường Can cùng ở

      Hai trẻ một lòng thương

      Mười bốn về làm vợ

      Thiếp e thẹn bẽ bàng

      Cúi đầu vào vách tối

      Gọi mãi chẳng quay sang

      Mười lăm mi mới nở

      Nguyện ghi tạc đá vàng

      Chàng không hề lỗi hẹn

      Thiếp rất được yêu thương

      Mười sáu chàng ra đi

      Trơ vơ lối Cồ Đường

      Tháng năm ai dám tới

      Tiếng vượn kêu thảm thương

      Ngoài cửa thưa chân bước

      Rêu xanh mọc thành hàng

      Rêu đầy không thể quét

      Lá rụng gió thu mang

      Tháng tám ngoài vườn cỏ

      Nhởn nhơ đôi bướm vàng

      Tự cảm đau lòng thiếp

      Nhìn tàn tạ hồng nhan

      Sớm chiều đến Ba Quận

      Mong ngóng đợi tin chàng

      Xa xôi đâu dám ngại

      Trường Phong bao dặm đàng.

      Nếu quý vị nào tìm được trên báo chí, sách vở cũ bài Trường Can Hành do Khái Hưng dịch, tôi xin được chỉ giáo, và xin vô cùng cảm tạ.


      5/2016


      Ngự Thuyết

      Nguồn: diendantheky.net



      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Khái Hưng và Trường Can Hành của Lý Bạch Ngự Thuyết Giới thiệu

      - Thanh Tâm Tuyền, Nhà Thơ Tiên Phong Ngự Thuyết Nhận định

      - Mối Tình Đầu hay Thử Nhìn Lại "Đây Thôn Vỹ" của Hàn Mặc Tử Ngự Thuyết Bình luận

      - Thử đánh giá lại Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng Ngự Thuyết Tham luận

      -

      -

      -

    3. Link (Khai Hung)

       

      Bài viết về Khái Hưng

       

      - Khái Hưng Trong Tù (Mai Chi)

      - Khái Hưng (Nguyễn Vỹ)

      - Khái Hưng và Trường Can Hành của Lý Bạch (Ngự Thuyết)

      - Khái Hưng, Cuộc đời và tác phẩm ... (Lê Quang Thông)

      - Khái Hưng Trần Khánh Giư (1896-1947) (Hoàng Trúc)

      - Tưởng nhớ Khái Hưng (Nguyễn Tường Bách)

      - Khái Hưng, qua nhận xét người cùng thời (Nhiều tác giả)

      - Khái Hưng và Nhất Linh trong thơ Huyền Kiêu (Quốc Nam)

      - Hoài Niệm (Võ Doãn Nhẫn)

      Khái Hưng (Thụy Khuê)

      Khái Hưng Trần Khánh Giư (1896-1947?): Nỗi Buồn Người Trí Thức Trong Cuộc Đổi Đời Đầy Bạo Lực, Xương Máu (Nguyên Vũ)

      Nhân Nghĩ Về Khái Hưng (Dương Nghiễm Mậu)

      Papa tòa báo (Trần Khánh Triệu)

       

      Tác phẩm

       

      Trang thơ dịch

       Tác phẩm có trên mạng:

      Đặc Trưng, Việt Nam Thư Quán, Chim Việt Cành Nam, vietmessenger.com

       

       

       

      Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Những lần gặp (ít ỏi) Du Tử Lê (Trần Yên Hòa)

      - Tiễn Trần Tuấn Kiệt, nhớ chuyện viết văn làm báo (Viên Linh)

      - Du Tử Lê (Nguyễn Vy Khanh)

      - Sa Giang Trần Tuấn Kiệt, người làm thơ lãng tử (Trần Yên Hòa)

      - Viết về Trần Phong Giao qua những sách báo sưu tập (Trần Hoài Thư)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Tạp Văn (Nguyễn Kim Phượng)

      - Văn học miền Nam ở hải ngoại (Viên Linh)

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975: Nhận Định, Biên Khảo, Thư Tịch (Nguyễn Vy Khanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Bàng Bá Lân,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Vĩnh Phúc,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Tiêu,  Cao Đông Khánh,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Chu Tử,  Diễm Phượng,  Diên Nghị,  Doãn Dân,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)