Head



 

 

Giới thiệu - Bài Thơ "TRỪ TỊCH" của ĐẶNG ĐỨC SIÊU (Trần Từ Mai)

14-02-2013 | THƠ

Giới thiệu - Bài Thơ "TRỪ TỊCH" của ĐẶNG ĐỨC SIÊU

 TRẦN TỪ MAI

TRỪ TỊCH


Tháng lụn, năm cùng, sự chẳng cùng

Nửa đêm xuân, lại nửa đêm đông.

Chi lan tiệc cũ hương man mác

Đào lý vườn xưa tuyết lạnh lùng.

*Đất có bâng khuâng chờ hội ngộ ?

*Trời như thao thức đợi tao phùng.

Gà kêu, pháo nổ, năm canh trót

Mừng cội mai già gặp chúa Đông.

      Đặng Đức Siêu

      Đông Hồ


Đặng Đức Siêu sinh năm 1751, mất năm 1810, là một nhân vật lịch sử của thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Ông góp công rất đáng kể trong việc thống nhất đất nước của nhà Nguyễn, và cũng để lại một số tác phẩm có giá trị văn chương rất cao như bài Văn tế Võ Tánh và Ngô Tòng Châu. Đông Hồ Lâm Tấn Phác sinh năm 1906, mất năm 1969, là một nhà thơ của thế kỷ 20. Ông cũng là giảng sư tại Đại học Văn khoa Sàigòn, chỉ qua đời trước khi miền Nam sụp đổ có sáu năm. Hai ông sống cách nhau một thế kỷ rưỡi (155 năm). Ghi danh hiệu cả hai vị dưới một bài thơ là một hành động cực bất thường. Tuy nhiên, việc làm thoạt trông có vẻ vô lý này lại là một việc đúng và cần thiết.


Bài “Trừ tịch” của Đặng Đức Siêu là một bài thơ thật hàm súc. Không hiểu sao tới thế kỷ 20, hai câu 5 và 6 bị thất truyền. Trong Văn Đàn Bảo Giám do Trần Trung Viên sưu tập, được Á Nam Trần Tuấn Khải duyệt lại, Tuyết Huy Dương Bá Trạc và Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu cùng đề tựa, do nhà Nam Ký xuất bản lần đầu tại Hà nội năm 1926, bài này chỉ gồm bốn câu đầu và hai câu 7-8. Tới khi được Hư Chu hiệu đính và Mặc Lâm Thư Xã tái bản tại Sàigòn năm 1968-69, hai câu thiếu vẫn chưa được tìm ra. Yêu thích bài thơ và không hài lòng với tình trạng bất toàn, nhà thơ Đông Hồ đề nghị hai câu tạm thay trong thập niên 1960. Hơn 40 năm trôi qua, hai câu thiếu vẫn chưa được tìm thấy. Mặt khác, hai câu 5-6 do Đông Hồ tạm thay thế thích nghi một cách thật khéo và thật đẹp trong bài thơ. Nhân dịp cuối năm, qua việc hai câu chính vẫn còn bị thất tung, chúng tôi thuật lại tình trạng bất thường này và phổ biến sáu câu nguyên tác cùng hai câu tạm thay (mang dấu hoa thị *) để chúng ta cùng chia sẻ, sống lại với những cảm xúc của người trước.


Phần chữ Nôm do Từ Mai trình bày qua “Bàn gõ Hán-Nôm” (do một sinh viên Viện Việt Học là Hoài Hương thực hiện với sự tiếp tay của Gs. Lê Văn Đặng.) Đây là một việc làm chưa ở mức hoàn hảo vì cách viết chữ Nôm thời trước không thống nhất (một âm Nôm có thể viết ra theo nhiều cách khác nhau). Chưa chắc những chữ Nôm chúng tôi đưa ra ở đây là những chữ Nôm Đặng Đức Siêu đã dùng. Trình bày bài thơ dưới dạng chữ Nôm, chúng tôi chỉ nhằm mục đích giới thiệu một cách khái quát chữ viết của tiền nhân tới các bạn trẻ. Trong khi chưa tìm được nguyên tác của Đặng Đức Siêu, chúng tôi tạm dùng bản chữ quốc ngữ trong Văn Đàn Bảo Giám cùng bài viết của thi sĩ Đông Hồ, rồi vận dụng những chữ Nôm tìm thấy trong các bản Truyện Kiều được phổ biến cuối thế kỷ 19, sau Đặng Đức Siêu ít lâu. Với những chữ Nôm không xuất hiện trong Truyện Kiều, chúng tôi tạm dùng chữ trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của, xuất bản tại Sàigòn năm 1895.


Bên cạnh những nhược điểm vẫn thường được nhắc tới (khó nhớ, cần biết một số chữ Hán trước, cách viết chưa thống nhất...), chữ Nôm không phải không có ưu điểm. So với chữ quốc ngữ, chữ Nôm hơn hẳn trong việc phân biệt những tiếng khác nghĩa nhưng cùng âm. Chỉ riêng với sáu câu thơ của Đặng Đức Siêu, chúng ta đã thấy:


1. Chữ thứ 3 câu 1 và chữ thứ 5 câu 7 cùng có âm là “năm.” Trong chữ quốc ngữ, hai chữ “năm” viết hệt nhau . Trong thập niên 1960, ở Sàigòn đã có một tranh luận trên báo về ý nghĩa đích thực của câu Kiều:


Năm năm hùng cứ một phương hải tần.


Một số vị tham gia cuộc thảo luận cho rằng “năm năm” ở đây là “năm này qua năm khác” chứ không chỉ một khoảng thời gian nhất định (5 năm = 60 tháng).


Cuộc tranh luận khó có thể kết thúc nếu chỉ căn cứ vào các bản chữ quốc ngữ. Khi đọc qua bản chữ Nôm, chúng ta sẽ thấy:

- Chữ “năm” trước (tương tự chữ “năm” trong câu 7 của Đặng Đức Siêu) gồm hai chữ “nam” (để chỉ âm) và “ngũ” (là “số 5,” để chỉ ý). Vậy có ý nghĩa là số 5.

- Chữ “năm” sau (tương tự trong câu 1 của Đặng Đức Siêu) gồm hai chữ “nam” (để chỉ âm) và “niên” (là “năm tháng”, để chỉ ý). Vậy có nghĩa là năm tháng.


Cuộc tranh luận được kết thúc mau chóng sau khi một bản Kiều bằng chữ Nôm được trưng ra.


2. Chữ cuối câu 2 và chữ cuối câu 8 bài thơ của Đặng Đức Siêu cùng có âm là “Đông.” Nếu chỉ căn cứ vào bản chữ quốc ngữ, nhiều độc giả có thể sẽ không nhận đúng ý nghĩa của câu 8: Tại sao cây mai gặp “chúa Đông” lại là điều đáng mừng?


Nhìn qua bản chữ Nôm, chúng ta sẽ thấy chữ “Đông” trong câu cuối có nghĩa là “phương Đông.” “Chúa Đông” là một thành ngữ dịch từ “Đông quân,” vị chúa tể của phương Đông. Theo triết lý Á Đông cổ, phương Đông tượng trưng cho mùa xuân (cũng như phương Nam tượng trưng cho mùa hạ, phương Tây cho mùa thu, và phương Bắc cho muà đông). Mừng cho cây mai (nhất là mai vàng của miền Nam Việt Nam) được gặp vị chúa của mùa Xuân, là một vui mừng rất hợp lý. Ý nghĩa này khó được nhận rõ nếu chúng ta chỉ đọc bản chữ quốc ngữ.


Người giới thiệu bài thơ thành thật cám ơn Giáo sư Lê Văn Đặng, chị Hoài Hương, cùng các anh các chị trong lớp Hán Việt và lớp chữ Nôm của Viện Việt Học đã hoàn tất một phương tiện cực hữu ích để có thể chép lại thơ qua chữ Nôm một cách thật dễ dàng .



Trần Từ Mai

Diễn Đàn Thế Kỷ, Feb 10, 2013



Cung Tac Gia

Cùng Tác Giả:

 

- Một bài thơ xuân mang nhiều ý nghĩa của thi sĩ Đông Hồ Trần Từ Mai Nhận định

- Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào? Trần Từ Mai Thơ

- Giới thiệu Bài Thơ "Trừ Tịch" của Đặng Đức Siêu Trần Từ Mai Giới thiệu

- Khai Xuân Thạch Vấn Trần Từ Mai Tiểu luận

- Trở lại bài thơ Khai Xuân Thạch vấn Trần Từ Mai Tiểu luận

 

 

Tho

 

 

  Thơ:

 

Đất Nước Của Ma Quỷ (Bùi Chí Vinh)

Thời Đại Tôi Đang Sống (Nguyễn Thị Thanh Yến)

Bài thơ độc vận “ơ” làm trong men rượu say (Trần Thoại Nguyên)

Đất nước mình ngộ quá phải không anh (Trần Thị Lam)

Những đôi mắt ngủ quên (Trương Đình Phượng)

Con đường mới | Mở cửa (Trương Đình Phượng)

Mưa lạnh trên đèo (Xuân Thao)

Ân Tình Mẹ (Trần Kiêm Đoàn)

Mùa Xuân Và Linh Hồn Mới (Trần Mộng Tú)

 

  Thơ Dịch:

 (Vietnamese Poetry translated into English)

 

Đàm Trung Pháp & Viên Linh dịch và chú giải:

 

Vịnh Hai bà Trưng (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)

Ăn Cỗ Đầu Người (Nguyễn Biểu)

Đoạt Sáo Chương Dương Độ (Trần Quang Khải)

Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

Thề Non Nước (Tản Đà)

Thi Nhiệt (Lý Đông A)

Vịnh Tranh Gà Lợn (Vũ Hoàng Chương)

 

Huỳnh Sanh Thông dịch:

 

Thăng Long (Nguyễn Du)

Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du)

Hồ Hoàn Kiếm (Vô Danh)

Thăng Long Thành Hoài Cổ

 (Bà Huyện Thanh Quan)

Chiều Hôm Nhớ Nhà (Bà Huyện Thanh Quan)

Lên Đèo Hải Vân (Huỳnh Mẫn Đạt)

Vịnh Bức Dư Đồ Rách (Tản Đà)

Màu Tím Hoa Sim (Hữu Loan)

Nhà tôi (Yên Thao)

Sóng (Xuân Quỳnh)

Hai Sắc Hoa Tigôn (T.T.Kh.)

 

Lê Đình Nhất-Lang & Nguyễn Tiến Văn dịch:

 

Cùng khổ (Bùi Chát)

Hoa sữa (Bùi Chát)

Bài thơ một vần (Bùi Chát)

Đèn đỏ (Bùi Chát)

Ai? (Bùi Chát)

Những người đáng trọng & những kẻ đáng khinh

 (Lý Đợi)

 

Các tác giả khác dịch:

 

Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi (Nguyễn Đình Toàn)

 (Do Dinh Tuan dịch)

Bữa Tiệc Hòa Bình (Nguyễn Thị Thanh Bình)

 (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

Từ Một Cuốn Rún (Nguyễn Thị Thanh Bình)

 (Đinh Từ Bích Thúy dịch)

Vì Người Ta Cần Ánh Mặt Trời (Nguyễn Đắc Kiên)

 (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

 

  Thơ Cổ:

 

Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào? (Trần Từ Mai)

Đọc lại một số thi phẩm của Phan Châu Trinh (Phan Thành Khương)

Nhất Chi Mai - Chất Người Muôn Thuở (Phan Trang Hy)

Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

Nguyễn Trãi Huyễn-Thực và Sắc-Không (Trần Ngọc Ninh)

Quá Phong Khê, Một Bài Thơ Kỳ Tuyệt (Phạm Khắc Hàm)

Giới thiệu Bài Thơ "Trừ Tịch" của Đặng Đức Siêu (Trần Từ Mai)

Xuân Xưa Thơ Trước, Hồn Ngàn Mùa (Viên Linh)

Bạch Đằng Giang Phú (Trương Hán Siêu)

Thuật Hoài (Phạm Ngũ Lão)

Thuật Hoài (Đặng Dung)

Lâm Cảng Dạ Bạc (Nguyễn Trãi)

Ngày Xuân Đọc "Đào Hoa Thi" của Nguyễn Trãi (Trần Uyên Thi)

Thơ Lý Bạch (Đàm Trung Pháp)

 

  Thơ Tuyển:

 

Khởi Hành (Trần Thúc Vũ)

Quà Tặng Trong Chiến Tranh (Trần Mộng Tú)

Mã Viện (tác giả: Vô Danh) (Nguyễn Văn Ngọc)

Mẹ và sự lặng im (Trần Mộng Tú)

Thơ Về Mẹ (Nhiều tác giả)

Hai Chữ Nước Nhà (Trần Tuấn Khải)

Đói (Bàng Bá Lân)

Lời Mẹ Dặn (Phùng Quán)

Nước Tôi (Nguyễn Văn Cổn)

Thơ Tưởng Niệm Ngày 30 Tháng Tư (Nhiều tác giả)

Thơ Tình Ngày Valentine (Nhiều tác giả)

Kỷ Niệm Chiến Thắng Đống Đa (Hoàng Phong Linh)

Thơ và Câu Đối Mừng Xuân (Nhiều tác giả)

Quốc Nam, Quốc Việt (Hồ Bạch Thảo)

Bài Thơ Vô Đề Viết Trong Trại Tù Tập Trung (Tú Kếu)

Thơ Tưởng Niệm Các Anh Hùng Tử Sĩ ở Hoàng Sa (Nhiều tác giả)

Bình Giảng: Đời Đáng Chán và Tống Biệt của Tản Đà (Thạch Trung Giả)

Thơ Tiền Chiến (Nhiều tác giả)

Tây Tiến (Quang Dũng)

Đêm Liên Hoan (Hoàng Cầm)

Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Cao Tiêu)

Biên Cương Hành (Phạm Ngọc Lư)

Thơ Xuân (Nhiều tác giả)

Đồng Lầy (Nguyễn Chí Thiện)

Ta Về (Tô Thùy Yên)

Trường Sa Hành (Tô Thùy Yên)

Kịch thơ: Hận Nam Quan (Hoàng Cầm)

 

  Tục ngữ (Proverbs)

 

Tre già măng mọc

Đục nước béo cò

Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng

Gà một mẹ đá nhau

 

  Danh Ngôn

  Đố vui (Puzzles)

 
 

 

© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@hotmail.com)