1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Tự Điển:

      Việt-Anh-Pháp
      Hán Nôm

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      NAM PHONG - TRI TÂN
      THANH NGHỊ - NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21 - BÁCH KHOA
       

      Sách Xưa

       

      QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ:
      - Lớp Sơ Đẳng - Lớp Đồng Ấu
      - Lớp Dự Bị
       

       

    2. Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào? (Trần Từ Mai)

      14-11-2016 | THƠ

      Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào?

      TRẦN TỪ MAI


         Nguyễn Trãi  (1380-1442)

      “Loạn hậu đáo Côn sơn cảm tác” (sau loạn tới Côn sơn, cảm xúc làm ra) là một trong những bài thơ hay của Nguyễn Trãi, được nhiều người yêu thích. Đề tài “về quê sau biến loạn” vẫn là một đề tài được ưa chuộng từ xưa đến nay. Trong bài có nhiều câu thơ hay:

      Trần thổ đê đầu chỉ tự liên

      (Cúi đầu trong đám bụi đất [của cuộc đời], chỉ tự thương mình)

      hay:

      Hà thời kết ốc vân phong hạ

      (Bao giờ làm được căn nhà dưới núi có mây che).

      Thật không đáng ngạc nhiên khi thấy cho tới nay bài thơ ấy được nhiều người dịch và chú giải. Ta có thể kể: Trúc Khê, Đào Duy Anh, Huy Cận, Lê Cao Phan, Hoàng Khôi, Mai Quốc Liên, Đông Xuyên, Duy Phi, Dương Anh Sơn, Đặng Thế Kiệt … Nhưng có một mâu thuẫn rất đáng chú ý giữa nhan đề của bài thơ và một câu trong bài. Cho tới nay, mâu thuẫn ấy chưa được giải đáp.


      Trong tất cả các tổng tập, tuyển tập thơ Nguyễn Trãi, nhan đề bài thơ đều được ghi là “Loạn hậu đáo Côn sơn cảm tác” (sau loạn tới Côn sơn …). Trong một bản chuyển ngữ sang tiếng Anh, Lê Cao Phan cũng dịch, “Back to Côn sơn after the hostilities.” Nhưng với câu thơ thứ 6 trong bài, bản nào cũng chép là, “Can qua vị tức hạnh thân tuyền” (Chiến tranh chưa chấm dứt, may được vẹn tấm thân). Vậy khi Nguyễn Trãi làm ra bài thơ này, cuộc chiến tranh (chống quân Minh) đã chấm dứt hay chưa chấm dứt?


      Tất cả các tài liệu hiện có đều không cho biết trường hợp hoặc thời điểm Nguyễn Trãi đã làm ra bài thơ. Trong Nguyễn Trãi toàn tập do Viện Sử Học xuất bản ở Hà Nội năm 1976, học giả Đào Duy Anh cũng chỉ xếp bài này vào nhóm những bài “thơ làm khi chưa thành công.” Để có thể hiểu đúng tâm trạng Nguyễn Trãi trong bài này, thiết nghĩ chúng ta cần tìm tòi và phân tích sâu hơn.


      Trước hết, xin được trình bày lại bài thơ, với nguyên tác chữ Hán, phiên âm, và dịch nghĩa.



      DỊCH NGHĨA

      Sau loạn tới Côn sơn, cảm xúc viết


      Từ giã vùng núi quê nhà vừa đúng mười năm

      Nay trở về, tùng cúc phân nửa đã tiêu điều.

      Đã hẹn với rừng và suối, sao nỡ phụ

      Cúi đầu trong đám bụi đất, chỉ tự thương mình.

      Làng quê vừa đi qua như đến trong giấc mộng

      Chiến tranh chưa hết, may được vẹn tấm thân.

      Bao giờ làm được căn nhà dưới núi có mây che

      Múc nước khe suối nấu trà, gối trên đá ngủ.

      Đọc lại một số chi tiết do Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cung cấp và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục xác nhận, ta có thể phỏng đoán một cách dè dặt như sau:


      Trong hai năm Ất Tỵ 1425 và Bính Ngọ 1426, nghĩa quân Lam sơn thu được nhiều thắng lợi đáng kể. Tháng giêng năm Ất Tỵ, quân ta vây Nghệ An. Tháng 5 năm Ất Tỵ, sau một trận thắng lớn, quân ta vây Tây Đô. Tháng 7 năm Ất Tỵ, ta khôi phục Tân Bình và Thuận Hóa. Tháng 8 năm Bính Ngọ 1426, Bình Định vương và bộ chỉ huy quyết định đem quân ra Bắc, chuẩn bị vây và tấn công Đông Đô (tức Thăng Long, người Minh gọi là Đông Quan). Ba đạo quân cùng tiến. Một đạo lấy lại Sơn Tây, Hưng Hóa … để ngăn ngừa quân Minh sang tiếp viện theo đường Vân Nam. Một đạo khôi phục vùng Hải Dương, Bắc Giang, Lạng Sơn … để phòng chặn quân Minh sang tiếp viện theo đường Quảng Tây qua Lạng Sơn. Đạo chủ lực ra thẳng Đông Đô.


      Tháng 10 năm Bính Ngọ, sau một trận thua thật lớn ở Tốt Động (cũng gọi là Tụy Động), quân Minh rút về cố thủ và bị vây trong thành Đông Quan. Bình Định vương chia đất Bắc làm 4 đạo, đặt quan trấn giữ, tuần phòng. Tháng giêng năm sau, Đinh Mùi 1427, quân ta tu bổ đền thờ Hưng Đạo Đại Vương trên núi Vạn Kiếp. Tuy mãi đến tháng 12 năm Đinh Mùi, sau khi hai đạo viện binh của Liễu Thăng và Mộc Thạnh đã bị phá tan, bọn Vương Thông mới chịu ra hàng và rút quân về, nhưng từ tháng 8 năm Bính Ngọ trở đi, tình hình mạn Hải Dương đã tạm ổn định để Nguyễn Trãi có thể ghé qua Côn sơn (cũng trong huyện Chí Linh, không xa núi Vạn Kiếp). Tuy sử không chép rõ, cũng có thể ông được cử đi trong một kỳ hạn rất ngắn để quan sát địa thế và phủ dụ dân chúng vùng Hải Dương, nơi ông lớn lên và thông thạo hơn các võ tướng gốc Lam sơn. Mấy chữ “hương lý tài qua” (làng quê vừa đi qua) và “đáo Côn sơn” (đến Côn sơn) cho thấy Nguyễn Trãi cũng chỉ ghé qua Côn sơn rất nhanh. Bài “Loạn hậu đáo Côn sơn cảm tác” có thể đã được sáng tác trong giai đoạn này (từ tháng 8 năm Bính Ngọ 1426 tới đầu năm Đinh Mùi 1427).


      Tuy đang ở thế ưu thắng, quân ta vẫn phải tích cực chuẩn bị để đối phó với các đạo viện binh sắp từ Trung Hoa kéo sang. Nhiệm vụ của Nguyễn Trãi trong cuộc vây Đông Đô cũng rất nặng: ở cạnh Bình Định vương để định kế hoạch, thảo rất nhiều văn thư khuyên dụ Vương Thông ra hàng, vào tận trại giặc ở trong thành cho giặc thấy sự thành tín mà yên tâm rút quân. Khi ông làm bài này, đối với vùng Hải Dương, Côn sơn, hai tiếng “loạn hậu” coi như khá chính xác vì đã do nghĩa quân Lam sơn làm chủ, nhưng can qua vẫn chưa hết (“vị tức”) trong toàn cuộc kháng Minh.


      Qua bài thơ, ta thấy được phần nào tâm tư của Nguyễn Trãi. Một bên là niềm xót xa trước cảnh tiêu điều của Côn sơn, nơi ông lớn lên cùng có bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu. Một bên là nỗi buồn thấm thía vì ý thức rõ rằng giữa bụi đất cuộc đời (“trần thổ đê đầu”), ngày được về hưởng cuộc sống yên bình bên núi cũ vẫn còn rất xa. Ước mơ của ông thật đơn giản, đồng thời cũng là ước mơ của bao thế hệ người Việt, hậu bối của ông từ đó tới nay:

      Hà thời kết ốc vân phong hạ

      Cấp giản phanh trà, chẩm thạch miên.

      Nguyễn Trãi gọi Côn sơn là “gia sơn” (núi nhà) vì đó là nơi ẩn dật của ông ngoại ông, Băng Hồ tướng công Trần Nguyên Đán. Nguyễn Trãi đã lớn lên dưới sự chăm sóc của ông ngoại trong khu núi này.


      DỊCH THƠ



      Trình bày các bài thơ và minh họa: Ngọc Dung


      Trần Từ Mai

      diendantheky.net



      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Thử Tìm Hiểu Ý Tưởng Vũ Hoàng Chương Trong Bài "Đọc Lại Người Xưa: Bành Ngọc Lân Trần Từ Mai Nhận định

      - Thử Tìm Hiểu Ý Tưởng Vũ Hoàng Chương Trong Bài "Đọc Lại Người Xưa: Trần Đào" Trần Từ Mai Nhận định

      - Một bài thơ xuân mang nhiều ý nghĩa của thi sĩ Đông Hồ Trần Từ Mai Nhận định

      - Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào? Trần Từ Mai Thơ

      - Giới thiệu Bài Thơ "Trừ Tịch" của Đặng Đức Siêu Trần Từ Mai Giới thiệu

      - Khai Xuân Thạch Vấn Trần Từ Mai Tiểu luận

      - Trở lại bài thơ Khai Xuân Thạch vấn Trần Từ Mai Tiểu luận

    3. Tho

       

       

        Thơ:

       

       

        Thơ Dịch:

       (Vietnamese Poetry translated into English)

       

      Đàm Trung Pháp & Viên Linh dịch và chú giải:

       

      Vịnh Hai bà Trưng (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)

      Ăn Cỗ Đầu Người (Nguyễn Biểu)

      Đoạt Sáo Chương Dương Độ (Trần Quang Khải)

      Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

      Thề Non Nước (Tản Đà)

      Thi Nhiệt (Lý Đông A)

      Vịnh Tranh Gà Lợn (Vũ Hoàng Chương)

      Gọi Hồn (Viên Linh)

       

      Huỳnh Sanh Thông dịch:

       

      Thăng Long (Nguyễn Du)

      Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du)

      Hồ Hoàn Kiếm (Vô Danh)

      Thăng Long Thành Hoài Cổ

       (Bà Huyện Thanh Quan)

      Chiều Hôm Nhớ Nhà (Bà Huyện Thanh Quan)

      Lên Đèo Hải Vân (Huỳnh Mẫn Đạt)

      Vịnh Bức Dư Đồ Rách (Tản Đà)

      Màu Tím Hoa Sim (Hữu Loan)

      Nhà tôi (Yên Thao)

      Sóng (Xuân Quỳnh)

      Hai Sắc Hoa Tigôn (T.T.Kh.)

       

      Lê Đình Nhất-Lang & Nguyễn Tiến Văn dịch:

       

      Cùng khổ (Bùi Chát)

      Hoa sữa (Bùi Chát)

      Bài thơ một vần (Bùi Chát)

      Đèn đỏ (Bùi Chát)

      Ai? (Bùi Chát)

      Những người đáng trọng & những kẻ đáng khinh

       (Lý Đợi)

       

      Các tác giả khác dịch:

       

      Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi (Nguyễn Đình Toàn)

       (Do Dinh Tuan dịch)

      Bữa Tiệc Hòa Bình (Nguyễn Thị Thanh Bình)

       (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

      Từ Một Cuốn Rún (Nguyễn Thị Thanh Bình)

       (Đinh Từ Bích Thúy dịch)

      Vì Người Ta Cần Ánh Mặt Trời (Nguyễn Đắc Kiên)

       (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

       

        Thơ Cổ:

       

      Những Vần Thơ Xuân Của Vua Trần Nhân Tông (Tạ Quốc Tuấn)

      Về một bài thơ dạy học vào mùa xuân của Trần Quý Cáp (Ngô Thời Đôn)

      Cảnh Đẹp Thành Thăng Long Thời Tây Sơn Qua Thi Ca Đoàn Nguyễn Tuấn (Phạm Trọng Chánh)

      Chinh Phụ Ngâm diễn nôm, một dịch phẩm thần kỳ (Đàm Trung Pháp)

      Các Bài Thơ Nôm Đầu Tiên Trong Văn Học Chữ Nôm (Tuệ Chương)

      Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào? (Trần Từ Mai)

      Đọc lại một số thi phẩm của Phan Châu Trinh (Phan Thành Khương)

      Nhất Chi Mai - Chất Người Muôn Thuở (Phan Trang Hy)

      Ba bài thơ mùa thu của Trần Nhân Tông (Nguyễn Lương Vỵ)

      Ba bài thơ mùa thu của Nguyễn Trãi (Nguyễn Lương Vỵ)

      Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

      Nguyễn Trãi Huyễn-Thực và Sắc-Không (Trần Ngọc Ninh)

      Quá Phong Khê, Một Bài Thơ Kỳ Tuyệt (Phạm Khắc Hàm)

      Giới thiệu Bài Thơ "Trừ Tịch" của Đặng Đức Siêu (Trần Từ Mai)

      Xuân Xưa Thơ Trước, Hồn Ngàn Mùa (Nhiều tác giả)

      Bạch Đằng Giang Phú (Trương Hán Siêu)

      Thuật Hoài (Phạm Ngũ Lão)

      Thuật Hoài (Đặng Dung)

      Lâm Cảng Dạ Bạc (Nguyễn Trãi)

      Ngày Xuân Đọc "Đào Hoa Thi" của Nguyễn Trãi (Trần Uyên Thi)

      Thơ Lý Bạch (Đàm Trung Pháp)

       

        Thơ Tuyển:

       

      Đêm Liên Hoan (Hoàng Cầm)

      Đồng Lầy (Nguyễn Chí Thiện)

      Kịch thơ: Hận Nam Quan (Hoàng Cầm)

       

        Tục ngữ (Proverbs)

       

      Tre già măng mọc

      Đục nước béo cò

      Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng

      Gà một mẹ đá nhau

       

        Danh Ngôn

        Đố vui (Puzzles)

       
       
  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)