1. Head_
    Hùng Lân
    (23.6.1922-17.9.1986)
    Lê Thương
    (8.1.1913-17.9.1996)
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Một Thành Tôn khác (Trần Yên Hòa)

      5-9-2019 | VĂN HỌC

      Một Thành Tôn khác

        TRẦN YÊN HÒA
      Share File.php Share File
          

       


      Một lần, ngồi ở quán cà phê, có nhà văn Cung Tích Biền và họa sĩ Trịnh Cung, tôi nhớ, một người nói:

      - Ở đâu có Thành Tôn là có Trần Yên Hòa...


      Câu nói xác nhận là tôi và nhà thơ Thành Tôn thân thiết đến độ, đi cà phê hoặc "lai rai rai ba sợi" ở đâu, cũng có nhau.


      Câu nói này cũng chỉ đúng một nửa, vì, từ mấy năm nay, tôi sống khép mình, chỉ muốn ở nhà viết lách chút đỉnh, đọc và post bài trên Bạn Văn Nghệ, rồi đi tập thể dục ở Gym. Ít đi la cà cà phê với ai, trừ một số bạn văn thân, rất thân. Trong lúc anh Thành Tôn thì bạn bè nhiều, nhất là với các bạn học, bạn văn, xa, gần, trước, sau... Anh đều tiếp đãi cà phê, rất ngọt.


      Nhưng, nói gì thì nói, tôi với anh Thành Tôn đã kết thân từ hơn hai mươi năm qua, tôi coi Thành Tôn như người anh, vì tôi biết những tính tốt của anh đối với bạn bè. Và anh cũng coi tôi như một người em, vừa đồng môn, vì học cùng trường thời trung học, dù khác lớp, vừa cùng quê Quảng Nam, vừa là bạn văn nghệ, nên nhiều khi anh em tâm sự thật lòng.


      Nên, nhân đây, tôi cũng xin ghi lại một chút về tình thân của chúng tôi.



      Tôi "biết" anh Thành Tôn trước khi "quen", từ ngày anh học ở Tam Kỳ, làm việc ở Tam Kỳ, làm rể ở Tam Kỳ, làm thơ ở Tam Kỳ. Nhưng chỉ biết thôi. Thuở đó, anh đã có những "bài thơ" lẫm liệt, đăng ở các tạp chí văn học danh giá Sài Gòn, lại xuất bản tập thơ Thắp Tình nữa, nên tên tuổi Thành Tôn trong giới văn học, hay đọc sách, ai cũng biết.


      Cho đến mãi những tháng năm qua Mỹ, tôi mới gặp Thành Tôn bằng xương bằng thịt.


      Anh trong nhóm 5 anh em "hội cà phê" chúng tôi: Trần Văn Nam, Đạm Thạch, Phạm Phú Minh, Thành Tôn và Trần Yên Hòa...trong suốt nhiều năm... Đến khi Đạm Thạch di chuyển sang sống với con ở Arizona, Trần Văn Nam mất, Phạm Phú Minh hơi mệt, ít đi cà phê... nên chỉ còn tôi và Thành Tôn bám trụ, cầm cự hai tuần một lần, đều chi.


      *



         Nhà thơ Thành Tôn
         (HS. Đinh Cường vẽ)

      Bây giờ tôi viết về một Thành Tôn "khác", chứ không viết về Thanh Tôn Thơ, hoặc Thành Tôn Sách nữa, vì (hình như) đã có 5, 6, nhà văn, nhà thơ thân hữu viết về anh rồi. Một Thành Tôn "khác" của tôi ở đây là về một Thành Tôn đời thường: Thành Tôn với bạn bè, gia đình... và tình yêu.


      Tôi chỉ nhìn anh ở khía cạnh đó...


      Với bạn văn


      Với Thành Tôn, ai cầm bút viết được, ở mọi lãnh vực, anh đều trân quý... Đã là người viết, tác phẩm có giá trị hay không, nếu có Thư Mời anh tham dự Ra Mắt Sách, anh đều đến tham dự, và mua sách ủng hộ. Anh nói, mua để giữ làm tài liệu, nhưng thật ra thì anh mua ủng hộ thôi, để tác giả thu lại tiền in ấn.


      Còn những quyển sách giá trị, bằng bất cứ giá nào, dù ở VN hay ở Pháp, Úc, anh đều tìm mua cho bằng được, nếu khó quá, anh biết ai có sách, anh mượn về copy toàn quyển sách để cất giữ, còn bản chính trả lại cho chủ nhân.



          Trần Yên Hòa, Thành Tôn
          Khánh Trường (ngồi)

      Đối với các bạn văn lớn tuổi hơn, hiện sống ở Little Sài Gòn, như nhà văn Nguyễn Đình Toàn, Viên Linh (trước đây), họa sĩ Hồ Thành Đức, Khánh Trường... anh thường đến thăm và sẳn sàng giúp đỡ, như chở đi bác sĩ, hướng dẫn về việc xin phúc lợi An Sinh Xã Hội, Ngân Hàng... hay đi cà phê. Đã nhờ anh giúp đỡ là anh không từ chối...Dù bận bịu anh cũng dành thì giờ để đến giúp với lòng vui vẻ...


      Còn các bạn văn ở xa, đồng thời với anh như Song Thao, Trần Doãn Nho, Trần Hoài Thư, Luân Hoán, Hoàng Lộc... thì anh điện thoại thăm hỏi thường xuyên, có thể hàng tuần... Các bạn văn ở xa, nhiều khi xa Little SG, Nam Cali, muốn biết sinh hoạt văn học nghệ thuật ở thủ đô nhỏ này ra sao, anh đều vui vẻ kể cho bạn nghe, hay nghe bạn kể, có lúc cuộc trò chuyện, tâm sự lên đến cả ba chục phút hay cả tiếng đồng hồ.


      Cho nên các bạn văn ở xa về thủ đô nhỏ, thường đều "hú" Thành Tôn, anh rất vui vẻ, hạnh phúc gặp lại bạn và thường hẹn nhau chiêu đãi cà phê hay "lai rai ba sợi" ở quán hay ở nhà anh. Anh rất hào phóng với tất cả anh em văn nghệ, dù có "hao".


      Hình trái: Tại nhà Thành Tôn, nhân Song Thao qua thăm
      từ trái: Đạm Thạch, Trần Văn Nam, Trần Yên Hòa, Song Thao, Đặng Hiền, Thành Tôn và Phan Thị Trinh.

       

      Hình phải: Tại nhà Thành Tôn, nhân gia đình Luân Hoán qua thăm
      từ trái: Thành Tôn, Thái Tú Hạp, Luân Hoán, Trần Yên Hòa, Phạm Phú Minh
      đứng: Ái Cầm, chị Lý (vợ LH), chị Phan Thị Trinh (chị TT)

      Phan Xuân Sinh từ Houston qua gọi Thành Tôn, Đức Phổ từ Georgia qua gọi Thành Tôn, Luân Hoán, Hoàng Xuân Sơn, Nam Dao... từ Canada qua gọi Thành Tôn, Nguyễn Xuân Thiệp, Trần Doãn Nho từ Dallas qua gọi Thành Tôn, Nguyễn Thanh Châu (nhờ tôi) gọi Thành Tôn, Đông Nghi (nhờ tôi) gọi Thành Tôn, Phan Nguyên, Từ Hoài Tấn, Lữ Kiều, Hạ Đình Thao, từ VN qua Mỹ, cũng gọi Thành Tôn.


      Được ngồi cà phê hay "lai rai" với anh đều rất vui, đều nhận thấy cái thực lòng ở anh.... Nghĩa là tiếng lành đồn xa... như ngày xưa bên Tàu, có ông Mạnh Thường Quân, ông là một người giàu có, lại có lòng nghĩa hiệp, thích chiêu hiền đãi sĩ, văn cũng như võ trong nhà lúc nào cũng tiếp đãi đến vài nghìn tân khách (theo wikipedia). Thành Tôn thì không giàu, anh đã về hưu, nhưng tấm lòng anh cũng na ná như vậy. Không biết Mạnh Thường Quân xưa có cầu cho được "tiếng" hay không, nhưng với Thành Tôn, tôi biết, anh chỉ mong mọi bạn bè "vui thôi mà" (lời Bùi Giáng).


      Những ngày trước, khi nhóm năm người chúng tôi còn sinh hoạt, trước khi cà phê, thường lai rai ba sợi, ở quán Hợp hay đâu đó, rồi mới qua cà phê. Khi đã có chút "hơi cay" vào, Thành Tôn ăn nói cũng "lớn tiếng" lắm. Lớn tiếng chỉ thuần theo nghĩa đen, nghĩa là giọng anh còn rặt giọng Quảng Nam, nên anh nói thường to hơn người khác. Những lúc đó, anh vui kể chuyện, những giai thoại Bùi Giáng ở quê, ngày còn nhỏ. Bùi Giáng là lứa tuổi với cha anh, nhưng lại muốn kết bạn với anh. Rồi những "tật" của Bùi Giáng, trong đời thường và trong thơ văn, anh lại đọc mấy câu thơ của Bùi Giáng... Giọng Thành Tôn to, lớn, câu chuyện kể khá hấp dẫn khiến ai cũng muốn nghe...Nhiều người ngồi bàn bên, có thể không hiểu, tưởng là anh đang cải lộn. Nhưng không, đó là anh thể hiện tính ăn to nói lớn của người Quảng Nam thôi.


      Anh hiền, rất hiền. Anh chơi với ai cũng được, chưa bao giờ làm mất lòng ai. Đã nhiều lần anh nói: "Chơi với bạn, mình chỉ nhìn vào cái tốt của bạn đó thôi." Nên anh hoàn toàn là bạn của tất cả anh em văn nghệ.


      Nhiều lúc ngồi với nhau cà phê hay "lai rai ba sợi", Thành Tôn kể về những ngày lính tráng của anh.

      Tôi đã nghe và xin ghi lại sau:

      Chuyện đi lính của anh cũng rất hấp dẫn, hồi hộp và mang tính giai thoại.


      Hồi đó khoảng những năm 1965, 66... Thành Tôn đang dạy học ở trường Phan Thanh Giản, Đà Nẵng. Đi dạy nhưng anh cư trú không ổn định, thường thay đổi địa chỉ nên Giấy Gọi Đi Thủ Đức theo lệnh Động Viên không đến tay anh. Một hôm xong buổi dạy ra về, thì anh gặp một toán cảnh sát đang đón đường hỏi giấy tờ quân dịch của thanh niên. Thành Tôn bị chận hỏi và bị "hốt" ngay, vì lứa tuổi anh đúng ra là phải bị động viên vào Thủ Đức khóa trước, sao còn ở ngoài đi dạy tà tà vậy. Anh bị đưa vào trại Nhập Ngũ số 1, để đi thụ huấn tân binh quân dịch, vì anh thuộc diện không tuân hành lệnh Tổng Động Viên.


      Anh bị đưa vào Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, thụ huấn 9 tuần để ra làm tân binh, deuxieme cùi bắp (binh nhì). May nhờ có nhà văn Trần Phong Giao, lúc này làm Tổng Thơ Ký Tạp chí Văn, khi biết tin Thành Tôn "bị nạn", liền viết đơn lên Nha Động Viên Bộ Quốc Phòng, giải thích sự việc, là vì địa chỉ anh thay đổi nên không nhận được lệnh gọi đi Thủ Đức, chứ không phải anh trốn lính. Lúc này Nha Động Viên do Thiếu tướng Bùi Đình Đạm làm Tổng Giám Đốc, biết được nỗi oan ức của Thành Tôn, nên ra lệnh chuyển anh qua tiếp tục Khóa 2... Thủ Đức... Thế là Thành Tôn trở thành Sĩ Quan, và khi ra trường, xin về phục vụ tại Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng Tín. Thành Tôn làm ở đây đến tháng 3.1975.


      Thành Tôn làm ở Khối CTCT/TK Quảng Tín, sau đó vì tính cần mẫn, thật thà và uy tín, rất được mọi người nễ phục.


      Đại tá tiểu khu trưởng kiêm tỉnh trưởng Quảng Tín, biết anh, nên bổ nhiệm anh làm bí thư. Anh làm chức vụ này trong hai đời tỉnh trưởng... Với vị đại tá sau, có lần Thành Tôn, đã đập bàn cải lộn với xếp vì khác ý kiến, và Thành Tôn tự xin phép rời khỏi chức vụ bí thư, với đơn xin sẽ làm việc ở bất kỳ đơn vị nào...

      Cuối cùng Thành Tôn trở về lại Khối CTCT/TK Quảng Tín.


      Thời gian này, ngoài công việc là sĩ quan quân đội, Thành Tôn còn là người đứng ra phát hành sách cho các nhà xuất bản như Lá Bối, An Tiêm, Giữ Thơm Quê Mẹ...


      Anh là người yêu sách, và là bạn với các chủ nhà xuất bản trên, anh đã đứng ra phát hành sách đến các tiệm sách ở Tam Kỳ, Quảng Tín, Quảng Nam, Hội An, Đà Nẵng... nhiều khi ra đến tận Huế. Những chủ nhà xuất bản này đều tin cậy Thành Tôn.


      Sau này, qua Mỹ, anh có gặp lại các ông Thanh Tuệ (chủ nhà xuất bản An Tiêm... từ Pháp qua, và bị bịnh mất ở Mỹ), ông Võ Thắng Tiết, chủ nhà xuất bản Lá Bối trước 1975, và Văn Nghệ ở Mỹ (Nam Cali). Tình thân của anh với ông Võ Thắng Tiết rất đậm đà. Những buổi cà phê của chúng tôi, đôi khi Thành Tôn mời ông Võ Thắng Tiết cùng tham dự. Nhưng sau, ông Tiết vốn trước là một tu sĩ Phật giáo, nên ông ít cà phê, ít la cà, nên những buổi cà phê với ông cũng ít dần. Tuy nhiên, khi ông Võ Thắng Tiết bịnh nằm ở bịnh viện viện Fountain Valley, thì Thành Tôn cũng rủ tôi và anh Phạm Phú Minh đến thăm... tình cảm rất chân thành. Sự liên lạc, thăm hỏi nhau với ông Võ Thắng Tiết, Thành Tôn vẫn giữ đến tận bây giờ.



      Đến nhà Thành Tôn, một căn Apt nhỏ, 1 phòng, cho hai vợ chồng. Nhà anh đúng là một thư viện sách. Ngoài sách ra, trên kệ cao, anh còn lập một bàn thờ, thờ ba người bạn văn quá cố, đã có một thời gắn bó với Thành Tôn. Đó là nhà thơ Bùi Giáng, nhà văn Võ Phiến và Họa sĩ Đinh Cường.


      Chuyện tình.


      Phải nói là chuyện vợ chồng của Thành Tôn và chị Phan Thị Trinh đã hơn sáu mươi năm qua, một tình yêu, một người yêu... suốt trong thời gian dài như vậy, không suy suyển. Trung Thành và Duy Nhất. Một và chỉ Một mà thôi.


      Chuyện này, nói thì dễ, nhưng thực hành rất khó, nhất là đàn ông ở tuổi thanh niên, trung niên... có chức có quyền một tí, lại là nhà thơ nổi tiếng nữa... ai cũng có chút tình ngoài luồng... Nhưng với Thành Tôn và Phan Thị Trinh thì đúng là một và chỉ một mà thôi.


      Hai người yêu nhau từ ngày còn là học sinh, cùng lớp, cùng trường. Yêu nhau rồi lấy nhau và gắn bó với nhau suốt gần sáu mươi năm. Khi đi lính, chàng đóng ở một phương, Tam Kỳ, nàng làm công chức ở Đà Nẵng, nên chỉ gặp nhau cuối tuần hay một, hai tuần mới về thăm nhau một lần. Rồi đến ngày chàng đi cải tạo, chàng ở tù ròng rả suốt gần chín năm ngoài Bắc, còn nàng ở nhà lo làm ăn, nuôi con, nuôi chồng, cơm đùm cơm gói thăm nuôi. Mãi sau 9 năm xa cách, vợ chồng mới đoàn tụ. (theo Thành Tôn, những ngày đi tù ngoài Bắc, đi đốn gỗ, anh bị cây ngã đè bị thương ở đầu và tay, nên bây giờ tay anh viết bị run, đầu anh không tập trung, nhớ cái được cái mất, nên anh không làm thơ nữa là vì vậy).


      Anh chị có ba người con, hai gái, một trai. Cô con gái đầu tốt nghiệp bác sĩ Nhi Khoa thuộc loại xuất sắc ở VN, và đi tu nghiệp ở Pháp, với những công trình nghiên cứu lâm sàng, được giới y khoa Pháp công nhận và được báo chí Pháp viết bài khen ngợi.

      Hai người con còn lại cũng tốt nghiệp đại học và hiện đang có công việc tốt, hiện cư ngụ gần anh (Nam CA).


      Viết bài này tôi muốn không đề cập đến chuyện Thơ, nhưng khi nói đến tình yêu, thì cũng nên nói chuyện thơ của chàng một tí.


      Bài thơ Nói Với Cô Bé Ngồi Quán của Thành Tôn, trong tập Thắp Tình như sau:

      Vào đây, ghế quạnh, khuya người

      Quán như địa phủ, nhạc đời nhân gian

      Quầy trơ, mắt bé ngỡ ngàng

      Thuyền ai đổ bến, lòng nàng bâng khuâng


      Hồn ta trải gió đầy sân

      Tình ta, mây cũng mấy lần thu nao

      Vào đây bàn nhẵn, câu chào

      Quen như thân thể, lạ nào chén ly


      Đời nhau, khói thuốc quên đi

      Bên tai cổ nhạc lầm lỳ canh tân

      Trên kia dáng bé tần ngần

      Lời yêu chậm nói, tình gần tay trao


      Vào đây đèn đủ hanh hao

      Bóng ai theo đến kẻ nào quay lui

      Cúi đời trên chén ly, khuya

      Mắt nhau một hướng, tình chia mấy trùng


      Ngồi thầm, góc quán mông lung

      Xa nghe lời kẻ, gần chùng dáng ai

      Vào đây nhạc đĩa đầy vai

      Vòng quay nhịp lặp, kim mài giọng quen


      Mòn hao sợi tóc trăm năm

      Khuya, mưng máu chậm. Tình, bầm tim mau

      Ngậm lòng, quán vắng, ơn nhau

      Ly trơ ghế nóng, bé chau mắt nhìn


      Vào đây như một đức tin

      Khói tan đốm thuốc, đời vin tay nào

      Miệng cười kín nụ lao đao

      Tình chia nghĩa sớt, câu chào riêng ai


      Trách gì ý lỡ, lời sai

      Cho nhau góc quán đêm dài dung thân

      Thôi em trả đó tình gần

      Ta xin bóng chiếc, đời cần nhau, đâu?


      Vào đây, ghế quạnh, khuya nhàu

      Tình như cổ tích đời sau kể thầm.

      Bài thơ này, theo như chị Phan Thị Trinh, (chị Thành Tôn) nói là, anh làm cho một người con gái nữ sinh Tam Kỳ, sắc nước hương trời thời đó, là cô T. Cô vừa là nữ sinh, vừa là con chủ quán cà phê và Mì LK. Cô này đẹp nổi tiếng ở TK. Cô có đôi mắt đẹp như thuyền, đôi môi không thoa son mà luôn đỏ như son. Cô là "cây đinh" ở đây, nên nhiều nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, sĩ quan quân đội đi hành quân về Tam Kỳ, thường ghé quán cô ăn mì, uống cà phê, để được diện kiến dung nhan cô.


      Nhưng theo Thành Tôn, là không phải, đây chỉ là hình ảnh cô bé bán quán cà phê ở gần Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng Tín, nơi anh làm việc thôi. Đó là những buổi trực khuya cùng bạn lính, rủ nhau đi cà phê, vào ngồi quán này. Cái rung động với cô bé ngồi quán trong bài thơ, chỉ là rung động tự nhiên về vẻ đẹp của thiếu nữ... Chứ không phải cho một người con gái nào hiện thực cả...


      Đây là một bài lục bát hay, rất hay, theo tôi. Thành Tôn dùng từ lạ, ý lạ (ghế quạnh, khuya người, nhạc đời nhân gian, quày trơ, trải gió, đủ hanh hao, cúi đời, mưng máu chậm, bừng tim gan, khuya nhàu...). Cách chấm câu, dấu phết, rất mới (vào những năm 1968 - 1969... mà dùng từ như thế này thì quá mới).


      Tôi rất thích bài thơ này, và có thể nói rằng, đây là một trong những bài lục bát hay nhất VN.


      *


      Dài dòng quá cũng đến lúc dừng lại. Tôi xin kết ở đây.


      Chúc mừng nhà thơ Thành Tôn, nay là thời điểm cuối tháng 8 - 2019, anh suýt soát tám mươi, qua một trận bịnh trầm kha, anh đã khỏe lại, da thịt anh hồng hào, lời nói sang sảng, đi đứng vững vàng, tai còn nghe rất rõ, mắt còn nhìn rất tinh tường...


      Anh lại (còn) làm việc chuyên cần, là hằng ngày, đọc các Web văn nghệ, tin tức, sách, và Facebook của bạn bè, (dù anh không có Fb), nên có tin gì của anh em văn nghệ, anh đều biết... Rồi anh bỏ thời gian scan, copy hàng chục ngàn trang sách. Tất cả những số của tạp chí Thế Kỷ 21, Hợp Lưu đều do một tay anh làm, rồi chuyển cho Nguyễn Vũ bỏ lên ebooks...


      Anh cũng vì thương bạn bè, nên anh đã tự thực hiện những tác phẩm về Thơ của bạn, như tập thơ Con Cá Lưu Vong của Đạm Thạch, Thơ Trần Văn Nam... Những bạn văn ở xa thích đọc sách, như Lưu Vỹ Bửu ở OH, bạn văn cùng quê, anh đã scan và đóng thành tập cuốn "Những truyện ngắn hay nhất quê hương ta (cả trên 6, 7 trăm trang)" do Nguyễn Đông Ngạc sưu tầm và xuất bản, gởi biếu Lưu Vỹ Bửu. Huy Tưởng tận bên Úc cũng nhận được sách do Thành Tôn thực hiện và gởi biếu.

      (Rất nhiều bạn văn được anh biếu sách... không kể hết được.)


      Hay là sách của tôi, tôi nhờ anh là anh gật đầu đồng ý giúp ngay, anh scan cả 5 tác phẩm, truyện ngắn, truyện dài, thơ, của tôi lên cả hơn ngàn trang... để đưa lên ebooks, cực thế mà anh vẫn vui vẻ làm...


      Xin anh chân cứng đá mềm, sức khỏe mãi, để vui cùng với tình bạn văn, cùng sách vở, và cùng với gia đình anh, vợ, con, cháu anh...


      Xin nói thêm chút xíu, là anh có những đứa con rất ngoan, rất hiếu thảo, nhất là có cô con dâu rất tốt, rất thương anh. Cô con dâu thường đem đồ ăn, rượu, bia, đến cho ba uống trong những buổi chiều. Nhiều buổi chiều, nhìn thấy anh ngồi uống một mình, buồn, nên cô con dâu cũng xin cụng ly với ba, vài ngụm... để ba vui.


      Mong anh sẽ còn thời gian... mười, hai mươi, ba mươi năm vui nữa, nhé anh.


      Trần Yên Hòa

      Nguồn: banvannghe.com



      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Phan Nhự Thức và Quán Quảng Nam Trần Yên Hòa Hồi ức

      - Một Thành Tôn khác Trần Yên Hòa Nhận định

      - Tô Thùy Yên. Thi Sĩ Lạ Trần Yên Hòa Nhận định

      - Tình Yêu... thăng hoa Trần Yên Hòa Truyện ngắn

      - Đạm Thạch, Người Làm Thơ Miền Nam Trần Yên Hòa Nhận định

      - Khuôn Mặt Trần Yên Hòa Truyện ngắn

      - Bài Tình, Ngày Tình Nhân Trần Yên Hòa Thơ

      - Mẹ và Em Trần Yên Hòa Truyện ngắn

      - Xuân Hoài Trần Yên Hòa Thơ

      - Bài tình, ngày tình nhân Trần Yên Hòa Thơ

    3. Bài viết về Thành Tôn

       

      Bài viết về Thành Tôn

       

      Một Thành Tôn khác (Trần Yên Hòa)

      Thành Tôn, Một Đời Mê Sách (Song Thao)

      Thơ Thành Tôn, thân xác như một ám ảnh hiện sinh (Trần Doãn Nho)

      Thành Tôn, chàng ‘thư si’ (Trần Doãn Nho)

      Nhà Thơ Thành Tôn Và Những Hình Ảnh Tận Tụy Với Văn Học (Trần Văn Nam)

      Thành Tôn, nhà thơ... ‘sống đẹp’ (Du Tử Lê)

      Nghĩ Về Thơ Biểu Cảm Và Thơ Biện Luận (Qua Thi Phẩm của Thành Tôn) (Trần Văn Nam)

      Thành Tôn, Người Đi Tìm Dĩ Vãng (Cung Tích Biền)

      Thành Tôn: Một thời làm thơ, một đời mê sách (Trần Yên Hòa)

      Đọc một bài thơ "lục bát mới" trước 1975 của thành tôn (Trần Hoài Thư)

      Nhà thơ Thành Tôn tặng lại tập thơ "Con Đường Tình Nhân" cho Hải Phương (Nguyên Minh)

      Một hình ảnh của Thành Tôn (Phố Văn)

      Nhà thơ Thành Tôn và những quyển sách thủ công (T. Vấn)

       

      Tác phẩm

       

      Thơ Thành Tôn (banvannghe.com)


       

      Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Tô Đình Sự, Người Ngoài Chân Mây Thênh Thang

      (Ngô Nguyên Nghiễm)

      - Tô Đình Sự, Một Người Bạn (Phạm Nhã Dự)

      - Phan Nhự Thức và Quán Quảng Nam (Trần Yên Hòa)

      - Đi Tìm Thạch Trung Giả (Trùng Dương)

      - Văn-Học Việt-Nam Trong-Ngoài (Nguyễn Vy Khanh)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Tạp Văn (Nguyễn Kim Phượng)

      - Văn học miền Nam ở hải ngoại (Viên Linh)

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975: Nhận Định, Biên Khảo, Thư Tịch (Nguyễn Vy Khanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Vĩnh Phúc,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Tiêu,  Cao Đông Khánh,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Chu Tử,  Diễm Phượng,  Diên Nghị,  Doãn Dân,  Du Tử Lê,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)