1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Từ Điển Anh Việt

       

          

       

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      Thư viện Người Việt:
      NAM PHONG
      TRI TÂN
      THANH NGHỊ
      NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
       

       

    2. Nghĩ Về Thơ Biểu Cảm Và Thơ Biện Luận Qua Thi Phẩm của Thành Tôn (Trần Văn Nam)

      15-5-2017 | VĂN HỌC

      Nghĩ Về Thơ Biểu Cảm Và Thơ Biện Luận (Qua Thi Phẩm của Thành Tôn)

       TRẦN VĂN NAM


          Nhà thơ Thành Tôn
         (Đinh Cường vẽ)

      Âm vang các bộ sách “Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến”, “Một Thời Lục Bát Miền Nam”, “Thơ Tự Do Miền Nam”, “Thơ Tình Miền Nam”“Văn Miền Nam” của nhà xuất bản Thư Ấn Quán vẫn còn đang lẩn quất, cho nên bài viết này cũng đang trong vòng liên hệ đến các bộ sách ấy. Lần này, xin đề cập đến nhà thơ Thành Tôn, một người đã có công sưu tầm thơ văn Miền Nam trước đây để cung cấp đóng góp vào 5 bộ sách đó cho nhà xuất bản Thư Ấn Quán, gắn bó bên cạnh hai người chủ trương là Trần Hoài Thư và Phạm Văn Nhàn (hai người này đã bỏ công rất nhiều khi sưu tầm thơ văn từ các bạn bè trong nước ngoài nước, mấy lần đi xa đến thư viện có dồi dào sách Việt Ngữ của Đại Học Yale tại tiểu bang Connecticut).

      Riêng về Thành Tôn, người viết bài này đã từng chứng kiến anh bỏ công copy các tập thơ “Mật Đắng” của Nguyễn Đình Toàn, “Hóa Thân” của Viên Linh, tạp chí cũ kỹ Văn Học số 80 ấn hành vào tháng 8 năm 1968 tại Sài Gòn, cả đến đôi cuốn sách dịch qua Việt Ngữ dầy độ 300/400 trang. Vậy mới biết nhà thơ Thành Tôn cũng là một người vô cùng quý sách.

      thotucoinhieunhuong.wordpress.com

      Tập thơ “Thắp Tình” của Thành Tôn do “Ngưỡng Cửa” xuất bản vào tháng 7 năm 1969, trong đó có hai bài thơ tình-cờ ở cạnh nhau (trang 67/68 và 69/70), nhưng tính chất thì lại gần như khác hẳn nhau, một nghiêng về biện luận và một nghiêng về biểu cảm. Chúng gợi hứng cho người viết bài này đề cập đến, vì đây là vấn đề người viết cũng đã từng bàn qua nơi bài “Sự giải thích trong thơ” (Trong Dòng Cảm Thức Văn Học Miền Nam, sách xb năm 2006, từ trang 15). Nhưng trước hết, xin đề cập đến những câu thơ rất đạt của nhà thơ Thành Tôn trong thi phẩm. Bốn câu thơ lục bát dưới đây của Thành Tôn thật hay, chắc hẳn ai đọc tới cũng thấy cánh dùng chữ tài tình. Những chữ khá mới trong thơ, nhưng cách-dùng-chữ không phải chưa ai có. Nổi bật trong những người khởi xướng cách dùng chữ và dùng thi-ảnh tân kỳ là Cung Trầm Tưởng. Thành Tôn sáng tác thơ trong thời kỳ manh nha thơ tân kỳ của Tạp chí Sáng Tạo (tân kỳ về đảo ngữ, tạo từ ngữ lạ, và tân kỳ trong thi ảnh), cho nên mặc dù từ ngữ khá mới riêng của Thành Tôn, nhưng cách-dùng thì có lẽ đã chịu ảnh hưởng từ người khác. Riêng mà chưa khác biệt, cũng như điệu tango riêng, điệu valse riêng, nhưng cách thức một nam một nữ gắn bó biểu diễn trên sân khấu thì vẫn giống nhau; thật khác biệt lối khiêu vũ đi hàng một của người Tây Nguyên Việt Nam hay lối khiêu vũ tập thể đi theo hàng chữ chi và tự do sáng tạọ bước đi của từng loài thú, trong điệu múa người da đỏ Mỹ Châu…. Nói có dẫn chứng, những câu thơ hay của nhà thơ Thành Tôn dưới đây có chút phảng phất từ các câu thơ “Cổ cao áo kín đi về buồn-tôi”“Buông đôi tay, rỗng sọ đầu/ Mi xuôi mắt ngủ giấc sầu cô miên” của Cung Trầm Tưởng. Một chút ảnh hưởng từ khí-hậu-sáng-tạo chung của giới trẻ Miền Nam lúc đó, do vậy thơ Thành Tôn tuy xuất sắc với “gió võng mưa dù” mà từ lâu không được nêu ra làm điển hình cho các trích dẫn thơ lục bát tân kỳ:

      Tay không vòng giáp thân gù

      Cõi này gió võng mưa dù mộ ôi

      Kiếp nào thẩm thấu khuya tôi

      Má nheo mật lệ xẻ bồi tượng khô.

      (Trong bài Tội Đồ)

       

      Về đây nấm đất hoang đường

      Nằm nghe hơi thở côn trùng phân thây.

      (Trong bài Vào Lòng Đất)

      Cung Trâm Tưởng sáng tạo từ ngữ “buồn-tôi” đã được giới yêu chuộng thơ thời Văn Học Miền Nam tán thưởng và sau này được nhiều nhắc nhở. Thành Tôn với “khuya-tôi” và “một-ta” cũng là những điển hình cho lục bát tân kỳ, cho dù sáng tạo của anh không phải là sáng-tạo-chủ-xướng. Ở trong vòng ảnh hưởng không hẳn là điều làm hạ giá. Có ảnh hưởng của một phong trào làm thành dòng lớn (như phong trào làm thơ mới thời Tiền chiến 1932-1945), có phong trào chỉ rải rác vài người (như phong trào làm thơ toàn từ ngữ huyền ảo khó hiểu kiểu Xuân Thu Nhã Tập). Phong trào làm thơ lục bát tân kỳ là dòng-thơ-đáng-kể (không rầm rộ, cũng không lẻ tẻ). Nếu xét kỹ, ta thấy phong trào lớn của lục bát là lục-bát-tập-trung (nghĩa là trong các bài thơ lục bát ngắn, sau các câu thơ khởi đầu bình thường hay một chút khác thường, thi sĩ tập trung vào hai câu cuối làm sao cho thật ấn tượng). Ấn tượng ấy có khi hết sức lạ lẫm; có khi biền ngẫu đối xứng; có khi bàng bạc; có khi vang vọng; có khi thật trái khuấy với tiên liệu của ta… Thật ra lục bát tập trung cho thật hay ở hai câu cuối không đích thực là phong trào, mà chính là cách thức gần như quy ước chung khi sáng tác. Nhưng cũng có nhà thơ tránh không muốn chỉ tập trung vào hai câu cuối mà đặt các câu thơ ấn tượng ở vị trí giữa bài thơ. Thành Tôn là một người trong số đó. Các câu thơ hay trích dẫn dưới đây đều nằm ở giữa bài:

      Máu hồng mạch sẻ lần qua

      Bàn chân vĩa phố một ta kẻ chờ

      ……….

      Đi, về bóng lạ bàn chân

      Dòng sông nghiệp dĩ tiếp dần biển khơi

      Quanh co nghĩ rộng đất trời

      Cái tôi hiện hữu một thời vong nô.

      (Trong bài Ranh Giới).

      “Thắp Tình”, nội dung tiềm tàng qua nhan đề thi phẩm có nghĩa là làm sáng lại tình người, làm ấm lại đời, mà trong bài thơ đầu tiên “Nói Với Con Gái” được trình bày như một thông điệp gửi cho thời buổi khổ đau kéo dài quá lâu trên đất nước: “Con thức dậy với đôi mắt dịu dàng của tuổi thơ cha không có. Đôi má mủn mỉm của ấu thời mẹ đánh rơi…”. Thắp lại tình người thì biết bao nhiêu thứ tình, nên có vẻ trừu tượng bao quát, nhưng đau khổ do chiến tranh thì cụ thể rõ ràng trong bài thơ “Thư Cho Mẹ”: Trên xứ sở xanh xao từng tiếng súng/ Trong hồn người dấu đạn đã chia phe. Lúc sáng tác tập thơ này, tác giả mới 25 hay 26 tuổi, tuy ở vào lứa tuổi đã trưởng thành nhưng làm sao “thắp tình” nỗi cả một thời đại nhiễu nhương nằm vào “một phần trư thế kỷ 20” thuộc lịch sử Việt Nam, nên một mặt thì muốn thắp tình, một mặt thì cũng ý thức mình chỉ là một phần tử quay trong vòng xoáy:

      ... Tôi chóng mặt đi theo chiều trôn ốc

      ... Thử đứng lại nhưng dòng sông vẫn chảy

      ... Tôi xa lạ như tháng ngày cuốn hút

      ... Tôi lấy trớn để thăng bằng lại.

      (Trong bài Cuộc Đuổi Bắt)

      Những ý tưởng và từ ngữ nhà thơ Thành Tôn đã sáng tác trong thi ca thể hiện như trên, đã xác nhận nhà thơ có khuynh hưóng làm thơ tân kỳ, và nội dung hơi cao vọng muốn thắp tình thời thế. Nhưng đọc bài thơ dưới đây, có thể nói đó là một trong vài bài thơ hiếm hoi nghiêng về “chân quê” hay “chơn chất”. Có lẽ tác giả muốn sáng tác thơ khác màu sắc một chút, nên đôi bài có vẻ như không đứng chung dòng thơ trong cả thi phẩm, nhưng nhờ vậy ta lại khám phá thấy tính chất nhân văn xuyên suốt cả chiều dài đất nước qua từ ngữ (cách đặt tên người và nơi chốn):

      ... Đợt khói lam chiều tương tư mái rạ

      Anh có thấy gì trong đó hay không?

      ... Sáng ra đồng những bác Tư cày cuốc

      Trong trường làng những thằng Út ê a

      Vọng từ ruộng dâu tiếng hò quen thuộc

      Giọng những cô Lài trầm bổng gần xa

      ... Trống sớm làng Trung, chuông chiều xóm Thượng

      Tiếng quê hương vang vọng tháng năm dài…

      (Trong bài Hương Đồng Phấn Nội)

      Đến đây, xin bắt đầu đề cập đến thơ biểu cảm và thơ biện luận mà ta thấy hiện diện trong hai bài thơ tình cờ đứng cạnh nhau trong thi phẩm Thắp Tình của Thành Tôn, bài “Giả Dụ Cho Một Người” và bài “Tinh Thể”. Nói một cách cường điệu thì thơ biểu cảm là “Thơ Đoạt Hồn” và thơ thiên về biện luận là “Thơ Đoạt Trí”. Nghiêng về biện luận mà thôi, ta không khẳng định tác giả hoàn toàn biện luận, vì đã là thơ thì phải dùng hình ảnh, phải có nhạc tính, không phải toàn từ ngữ trừu tượng. Nhưng khi đọc bài thơ thiên về biện luận, dù là đầy ấp hình ảnh, dù là điều hòa âm điệu, ta vẫn bận trí, cần đọc đi đọc lại vài lần để nắm bắt điều tác giả muốn diễn tả. Bận trí như vậy, ta cường điệu là thơ đoạt trí. Còn khi đọc được bài thơ biểu cảm, ta thấy lâng lâng cảm khoái hoặc chìm vào mơ hồ huyền ảo, ta không cần trí tìm hiểu điều gì cả, mà chỉ thích thú hoặc tự nhiên buồn buồn qua lời thơ, có khi chưa rõ tác giả nói cái gì. Chưa rõ điều gì tác giả muốn diễn tả mà lại rung cảm, ta cường điệu nói đó là “thơ đoạt hồn”. Ví dụ cụ thể như khi ta đọc thơ của Nguyễn Xuân Sanh trong nhóm Xuân Thu Nhã Tập thời tiền chiến 1932-1945, ta rơi vào ảo diệu của từ ngữ đầy tính thi ca, không rõ tác giả nói điều gì: “Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi/Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y… Lên mùa xuân khách vút xe hương/Vai nghiêng suối trái lạnh hồn đường”. Có dư luận nói tác giả làm thơ như vậy chỉ là lựa chọn một số từ ngữ huyền ảo cùng vần bằng, cùng vần trắc, cho vào từng hộp riêng; cứ lấy ra đủ 7 từ cho một câu và cũng theo thứ tự niêm luật hoặc đôi khi ít tuân theo niêm luật cho có vẻ phóng khoáng, rồi ráp lại một cách luân phiên tình cờ. Nhờ vậy ta có bài thơ huyền ảo, có nhạc tính do niêm luật, nhưng khó hiểu. Nếu như vậy thì đây là “thơ ảo thuật”, và ảo thuật đã làm ta quên sự đòi hỏi sáng sủa của trí hiểu. Nói như thế thì những câu thơ sau đây không thể liệt vào ảo thuật mà phải liệt vào nghệ thuật vì tính chất tuyệt vời, cũng của Nguyễn Xuân Sanh: “Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa/Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà… Nghe mạch hương, mùa khua trái giữ/Tay nao sương đất hạt lầu đời”.


      Có bài thơ không làm ta quên hẳn trí, mà chỉ như yêu cầu tạm gác qua sự tìm hiểu, ngay lúc “chạm trán” với bài thơ. Thoạt tiên ta “chìm vào” tịch lặng trước đã, sau đó “hồi tỉnh” mà tìm hiểu sau. Nói tóm, thơ “đoạt trí” thì phần “logic” chặn ta trước cửa khi bước vào căn nhà thơ, “thơ đoạt hồn” (không phải là thơ ảo thuật) thì mở toang cửa cho ta vào ngay, sau đó phơi bày cho ta biết đã qua cửa nhờ vào đâu, nghĩa là nó vẫn tiềm tàng “logic” nếu ta muốn biết. Ta thử đọc bài thơ “Ao cũ” của Thiền sư Basho để minh thị phần “logic” đi sau phần hồn cảm: “Ao cũ/Con ếch nhảy vào/Vang tiếng nước xao.” (Nhật Chiêu dịch, kèm theo lời bàn như sau: Một con ếch đã đánh thức vũ trụ bằng bước nhảy của mình, giống như một tiếng gõ cửa có thể mở cả vũ trũ… Ta là chiếc ao cũ, và là tiếng vang của chính ta, là tiếng vang của vũ trụ. Sau phần hồn cảm mà tác giả Nhật Chiêu đã đại diện cho ta mà phát biểu như trên, dĩ nhiên ta cũng “hồn cảm” như vậy (nên mới nói Nhật Chiêu là đại diện). Và sau đó là phần “logic” ta xét thấy như sau: Những sự kiện trong bài thơ tiềm ẩn lời giải thích về liên hệ nhân quả; có con ếch nhảy vào thì mới có nước xao; có hoàn toàn vắng ngắt chung quanh thì mới có vang dội vào tâm hồn; có trong vườn cũ 500/600 năm thì mới nhận ra thời gian và không gian đã thuộc về vũ trụ thăm thẳm. Bây giờ ta đọc đoạn thơ dưới đây của Thành Tôn, ta chạm trán với những “giả dụ hình tượng”, chúng bắt trí ta phải tìm hiểu tác giả muốn liên hệ điều gì mà hình tượng đó có thể là đại diện, có khi đại diện cho hai điều chứ không phải một. Hai điều làm con người không biết điều nào là đúng, hoặc cả hai đều đúng. Tương tự như trong lời hát nói về một nhạc sĩ tấu nhạc quá hay làm cho người đẹp rơi vào tình trường, và nhạc sĩ phân vân: “Nàng yêu tôi hay yêu đàn?” Thành Tôn cũng bắt trí ta phân vân như vậy, cái nào cũng đúng, và có khi cả hai đều đúng:

      ... Giả dụ tôi, hình nhân canh ruộng lúa

      Áo quần mang, mũ đội, đứng dang tay

      Chim chóc sợ tôi hay thằng người giả

      ... Giả dụ tôi, tượng trưng bày triển lãm

      Để bị nhìn, thay vì được hỏi han

      Người ca tụng tôi, hay thiên tài nghệ thuật

      ...Giả dụ tôi, ngai thờ ngôi linh tượng

      Ý tưởng người, hay tôi hiển linh.

      (Trong bài Giả Dụ Cho Một Người)

      Còn vài giả dụ hình tượng nữa trong bài thơ, xin nêu ra luôn cho dễ nhận ra sự “nghiêng về trí” của bài thơ, như tác giả hỏi khi khấn vái phù thủy là do sự thành ý của người sùng bái hay chỉ nói ra lời giả dối của thầy cúng. Thơ nghiêng về trí, nên nó có thể mang tính đa dạng do trí ta săm soi, lắm khi làm ta diễn sai ý tác giả, vì ta không trực cảm gần kề với đồng điệu cùng tác giả như khi đọc thơ biểu cảm. Trường hợp “giả dụ tôi là phù thủy” trình bày như trên, nhưng không chắc ý tác giả muốn nói như vậy. Và “giả dụ tôi là tượng trưng bày triển lãm”, ta có thể đoán tác giả muốn phát biểu về tính phức tạp trong tình cảm người khi yêu thích pho tượng. Họ ca tụng điêu khắc gia hay đúng ra là ngợi khen kiệt tác nghệ thuật mà không kể gì đến người tạo ra? Hay là họ chỉ trầm trồ thiên tài nghệ thuật (một giới siêu đẳng nói chung chứ không phải cụ thể con người tôi). Đến giả dụ thứ năm, giả dụ sau hết của bài thơ: “Giả dụ tôi là anh chẳng hạn” thì thật khó hiểu ý tác giả muốn nói gì với những câu tiếp theo “Thử rờ xem mặt mũi tay chân/ Có phải chúng ta là dụng cụ”. Ta nghĩ tác giả nói về thời thế phân tranh tận dụng con người vào cuộc chiến; hoặc nghĩ tác giả nói về triết lý siêu hình ta nhìn tha nhân như một đồ vật chứ không phải như một hiện sinh. Cả hai đều có thể đúng vì lúc tác giả xuất bản tập thơ ở vào thời chiến tại Miền Nam Việt Nam; và ở vào thời triết lý hiện sinh của Sartre (phổ biến trong giới văn nghệ Miền Nam) nói về cái nhìn làm người khác bị nhốt trong thức giác của kẻ nhìn. Nghĩ xa nghĩ gần, có khi theo thời thượng triết lý, ta cứ loanh quanh tra tìm ý, vì thơ bắt độc giả bận trí.


      Bây giờ đến lượt ta đọc thơ nghiêng về biểu cảm của nhà thơ Thành Tôn trong bài “Tinh Thể”. Cũng vậy, chỉ thiên về mà thôi, không hẳn hoàn toàn biểu cảm, vì cũng có một chút biện giải ở trong thơ. Nhưng chạm trán đến bài thơ này, ta hứng thú trong dòng hình tượng, trong dòng nhạc tính, trong dòng tình cảm nỗi niềm trôi giạt của thân phận con người (về Địa Ngục hay Thiên Đường đều ngoài tầm biết rõ của ta, thiếu Đức Tin làm ta phân vân). Hình, nhạc, tình, ba thứ hòa quyện vào nhau làm ta thấy hay. Nhạc tính quen thuộc của lục bát, nhạc tính do từng đôi biền ngẫu nhưng từ ngữ khá mới nên làm mất đi tính khuôn khổ cổ điển. Khi đọc bài thơ, ta trôi theo lời thơ nên chưa kịp bận trí, sau đó mới bận trí hỏi tác giả tại sao “lên cao” thì tan tành, và tại sao “xuống sâu” thì không nỡ. Phải chăng lúc ấy (thập niên 1960) nhà thơ muốn nói đến kiến thức khoa học du hành không gian (bay bằng tốc độ quá cao, nếu không có trang phục phi hành thì không thể chịu nổi áp lực khi tàu vũ trụ vượt sức hút trọng lực của Trái Đất). Và phải chăng “xuống sâu không nỡ” là do từ những kiến thức triết lý phổ biến thời ấy (như Hữu-Tại-Thế của Heidegger, Hiện-Sinh-Phi-Lý của Sartre). Ta trôi trong những hình tượng thi ca nhuốm màu Phật Giáo “cát bụi trùng trùng diệt sinh”, và sau khi qua phút rung cảm ta mới bận trí hỏi nhà thơ Thành Tôn có phải ý tứ trong bài cũng nhuốm màu sắc Thiên Chúa Giáo (quỹ dữ, thần linh, bay bổng, trì lôi) trong bài Tinh Thể:

      Quẩn quanh tháng tận năm cùng

      Hai vai cát bụi trùng trùng diệt sinh

      Về đâu quỹ dữ thần linh

      Nửa thân bay bổng nửa mình trì lôi

      Dấn thân lại muốn thu hồi

      Đã nghe cát lở sông bồi loanh quanh

      Lên cao nghĩ sẽ tan tành

      Xuống sâu không nỡ thôi đành ở đây…

      Walnut, California, tháng 10 năm 2009


      Trần Văn Nam

      Nguồn: Tiếp Nối Dòng Cảm Thức Văn Học Sau 1975
      Tác giả xuất bản, 2016




      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Tứ Thơ Và Chiến Tranh: Chiến-Sự Dù Nhỏ, Cũng Đã Lưu-Dấu Trong Thơ Trần Văn Nam Thơ

      - Nghĩ Về Thơ Biểu Cảm Và Thơ Biện Luận (Qua Thi Phẩm của Thành Tôn) Trần Văn Nam Nhận định

      - Những Dời Đổi Địa Hình và Mối Hoài Cảm Thi Ca Trần Văn Nam Thơ

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975 Của Nguyễn Vy Khanh: Động Cơ Thực Hiện Trần Văn Nam Nhận định

      - Thơ Tình Tám Chữ Theo Lối Nhà Thơ Nguyên Sa Trần Văn Nam Thơ

      - Nguyên văn bài thơ “KHOÁC KÍN” của Cung Trầm Tưởng Trần Văn Nam Bổ túc

      - Bài Phát Biểu Nhân Dịp Nhà Thơ Cung Trầm Tưởng Ra Mắt Sách Ở Quận Cam Trần Văn Nam Phát biểu

      - Hình Dung Một Vòm Trời Nước Pháp Qua Thơ Cung Trầm Tưởng Trần Văn Nam Nhận định

      - Chiến-Ðấu-Ca Và Bi-Hoài-Ca Song Hành Trong Bài Thơ Tây-Tiến Trần Văn Nam Nhận định

      - Văn Chương và Thời Sự: Một Đóng Góp Về Thể Loại Tiểu Thuyết Của Đỗ Quyên Trần Văn Nam Nhận định

    3. Bài viết về Thành Tôn

       

      Bài viết về Thành Tôn

       

      Thành Tôn, nhà thơ... ‘sống đẹp’ (Du Tử Lê)

      Nghĩ Về Thơ Biểu Cảm Và Thơ Biện Luận (Qua Thi Phẩm của Thành Tôn) (Trần Văn Nam)

      Nhà thơ Thành Tôn và những hình ảnh tận tụy với văn học. (Trần Văn Nam)

      Thành Tôn: Một thời làm thơ, một đời mê sách (Trần Yên Hòa)

      Đọc một bài thơ "lục bát mới" trước 1975 của thành tôn (Trần Hoài Thư)

      Nhà thơ Thành Tôn tặng lại tập thơ "Con Đường Tình Nhân" cho Hải Phương (Nguyên Minh)

      Một hình ảnh của Thành Tôn (Phố Văn)

      Nhà thơ Thành Tôn và những quyển sách thủ công (T. Vấn)

       

      Tác phẩm

       

      Thơ Thành Tôn (banvannghe.com)


       

      Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Nhớ Phạm Ngọc Lư (Nguyễn Lệ Uyên)

      - Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt Của Lưu Quang Vũ

      (Xuân Vũ)

      - Một bài thơ của Minh Đức Hoài Trinh (Nguyễn Liệu)

      - Cho một kiếp mơ được yêu nhau (Tuấn Khanh)

      - Phỏng vấn nhà văn Thảo Trường (Đặng Phú Phong)

      - Thử Tìm Hiểu Ý Tưởng Vũ Hoàng Chương Trong Bài "Đọc Lại Người Xưa: Bành Ngọc Lân (Trần Từ Mai)

      - Số báo cuối cùng của Ba Tạp Chí Văn Học Miền Nam (Trần Hoài Thư)

      - Vài kỷ niệm viết lách với Thanh Nam

      (Bình Nguyên Lộc)

      - Lần thăm cuối cùng (Mai Thảo)

      - Hà Thúc Sinh, Cuộc Hành Trình Dài Nửa Thế Kỷ Thơ (Trần Văn Sơn)

      - Hành trang Việt ngữ: Sổ Tay Chính Tả và bộ Việt Sử Bằng Tranh (Trangđài Glassey)

      - Vài suy nghĩ Về Tập Truyện Sợi Khói Bay Vòng Của Phạm Ngọc Lư (Đỗ Trường)

      - Tự Lực Văn Đoàn Tập Đại Thành Chữ Văn Quốc Ngữ (Trần Bích San)

      - Làm Sao Để Bắt Được Một Nhà Thơ (Huyền Chiêu)

      - Nguyễn Đình Toàn (Võ Phiến)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Một chuyến đi (Trăm lần vui. Vạn lần buồn) (Phạm Văn Nhàn)

      - Viết về Duyên (Đỗ Xuân Tê)

      - Hình như cây súng con lạ lắm (Trần Hoài Thư)

      - Đôi mắt La Ronda (Trần Hoài Thư)

      - Bằng Hữu, Thật Sống Đủ Ngay Đây (Phan Nhật Nam)

      - Gặp anh Đặng Tiến và đi thăm Trần Hoài Thư (Phạm Văn Nhàn)

      - Những Giải Thưởng Văn Chương Trên Nước Việt (Nguiễn Hữu Ngư)

      - Đứng Trước Thực Tại (Lý Hoàng Phong)

      - Tản Mạn Về Tính Nhân Bản Trong Thi Ca Miền Nam Thời Chiến (Trần Hoài Thư)

      - Nhận Định Về Thơ Hậu Chiến (Lê Huy Oanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      - Cuộc Phỏng Vấn Văn Nghệ (Nguyễn Ngu Í)

      - Đi tìm nguồn cội (Nguyễn Xuân Hoàng)

      - "Chúng ta đi mang theo Văn học Miền Nam": Trường hợp tạp chí Khởi Hành Bộ Mới... (Nguyễn Tà Cúc)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Du Tử Lê,  Dương Nghiễm Mậu,  Hà Thúc Sinh,  Hà Thượng Nhân,  Hàn Mặc Tử,  Hoài Khanh,  Hoàng Khởi Phong,  Hoàng Ngọc Hiển,  Hoàng Xuân Sơn,  Huỳnh Hữu Ủy,  Khoa Hữu,  Lâm Chương,  Lâm Hảo Dũng,  Lâm Vị Thủy,  Lê Hữu,  Lê Văn Trung,  Luân Hoán,  Mặc Đỗ,  Mai Thảo,  Minh Đức Hoài Trinh,  Ngô Nguyên Nghiễm,  Nguyễn Âu Hồng,  Nguyễn Bắc Sơn,  Nguyễn Lệ Uyên,  Nguyễn Mạnh Côn,  Nguyễn Ngọc Tư,  Nguyễn Phan Thịnh,  Nguyên Sa,  Nguyễn Tất Nhiên,  Nguyễn Thị Hoàng,  Nguyễn Thị Thanh Bình,  Nguyễn Thị Thuỵ Vũ,  Nguyễn Văn Sâm,  Nguyễn Vỹ,  Nguyễn Vy Khanh,  Nguyễn Xuân Hoàng,  Nguyễn Xuân Thiệp,  Nguyễn Đình Toàn,  Nguyễn Đức Sơn,  Nhật Tiến,  Nhất Tuấn,  Phạm Cao Hoàng,  Phạm Ngọc Lư,  Phạm Phú Minh,  Phan Lạc Phúc,  Phan Nhật Nam,  Phan Trang Hy,  Phùng Cung,  Phùng Thăng,  Sơn Nam,  Tâm Thanh,  TchyA,  Thái Văn Kiểm,  Thanh Nam,  Thanh Tâm Tuyền,  Thành Tôn,  Thảo Ca,  Thảo Trường,  Tiểu Tử,  Tô Thùy Yên,  Trần Hoài Thư,  Trần Mộng Tú,  Trần Phù Thế,  Trần Thúc Vũ,  Trần Tuấn Kiệt,  Trần Văn Nam,  Trần Yên Hòa,  Trịnh Y Thư,  Từ Thế Mộng,  Tuệ Sỹ,  Viên Linh,  Võ Phiến,  Vũ Hữu Định,  Vũ Khắc Khoan,  Xuân Thao,  Xuân Vũ,  Y Uyên,  Đặng Phú Phong,  Đào Anh Dũng,  Đỗ Quyên,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)