1. Head_
    Ad-25-TSu-2301360532 Ad-25-TSu-2301360532

     

     

    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Những ngựa và người đi qua đời tôi (Lê Hữu) Ad-21 Ad-21 (Google - QC3) (Học Xá)

      16-02-2026 | VĂN HỌC

      Những ngựa và người đi qua đời tôi

        LÊ HỮU
      Share File.php Share File
          

       

      Ảnh: Pixabay

      “Năm Ngọ nói chuyện ngựa”, câu này tưởng cũ mà vẫn mới, nhất là khi “ngựa quen đường cũ” cứ đến hẹn, sau một vòng 12 con Giáp, lại lộc cộc tìm về. “Chuyện ngựa” vì thế chẳng bao giờ cũ và chẳng bao giờ… hết chuyện.


      Một ông bạn cho tôi xem mấy bức tranh thủy mặc của Từ Bi Hồng (Xu Beihong), nhà danh họa Trung quốc “chuyên trị” tranh ngựa, hỏi tôi thấy thế nào.


      “Đẹp thì có đẹp,” tôi nói, “trông thật dũng mãnh, nhưng vẫn thiêu thiếu cái gì đó.”


      Tôi nhớ đã trả lời như thế, rồi quên đi. Cho đến một hôm tôi gặp một tranh ngựa khá nổi tiếng của họa sĩ người Anh, John Collier, vào đầu thế kỷ 11. Bức họa cho tôi biết cái “thiêu thiếu” ở trong những tranh ngựa là thiếu cái gì.


      Bức tranh “Lady Godiva” này có sự tích lý thú: Theo huyền sử của nước Anh gần 1.000 năm trước, bá tước Leofric, lãnh chúa xứ Mercia ban hành mức thuế cắt cổ khiến dân tình điêu đứng. Nàng Godiva, phu nhân xinh đẹp của bá tước này đã đứng về hàng ngũ nhân dân để phản kháng ông chồng mình. Vị bá tước nổi quạu, bèn đưa ra lời thách thức với vợ mình, hứa sẽ giảm thuế cho nông dân nếu nàng dám biểu diễn màn khỏa thân trên lưng ngựa đánh một vòng con phố Coventry. Ngờ đâu, bà vợ chơi luôn, cởi bỏ hoàn toàn xiêm y, leo lên lưng con ngựa bạch, lững thững dạo chơi qua những đường phố chính. Tấm thân ngà ngọc chỉ được che phủ hờ hững bằng mái tóc dài óng ả buông xõa một bên vai. Điều nghịch lý là trong lúc chủ nhân không mảnh vải che thân thì chú ngựa trắng lại được trùm lên lưng tấm áo choàng rộng màu đỏ hung in họa tiết hình sư tử, tượng trưng cho lòng dũng cảm và phẩm chất cao quý. Người họa sĩ có chủ ý tạo sự cân bằng tinh tế giữa vẻ trần trụi và nét trang trọng khiến bức họa khỏa thân không mang tính gợi dục.


      Ông bạn tôi dán mắt kỹ vào bức tranh. Tôi không rõ ông chú mục vào đâu, ngựa hay người, hay cả hai.


      “Người đẹp, ngựa cũng đẹp.” Ông bạn trầm trồ. “Ước gì mình được là chú ngựa ấy.”


      “Đừng nhìn lâu quá, hại mắt đấy.” Tôi cảnh báo. “Câu chuyện này còn có một chi tiết. Do được thông báo trước, để tỏ lòng tôn kính và cảm kích nghĩa cử của nàng Godiva, nhà nhà bảo nhau đóng kín cửa, không ai nhìn ra ngoài đường trong lúc nàng cưỡi ngựa du hành trên đường phố. Duy chỉ có anh chàng thợ may tên Tom, không nén được sự háo hức lén lút nhìn trộm qua rèm cửa sổ, lập tức bị mù cả hai mắt trước khi kịp nhìn thấy gì.”


      “Chà, căng vậy sao!?”


      Lady Godiva (tranh sơn dầu, John Collier)

      Chú ngựa trong tranh trông hiền hòa, nhàn tản, không có khí thế, uy lực như những ngựa khác nhưng bức tranh lại rất thu hút. Nếu đặt ở một phòng tranh thì sẽ giữ chân người xem lâu hơn những tranh ngựa nào khác.


      “Qua bức tranh này tôi tìm ra cái thiêu thiếu trong những tranh ngựa khác,” tôi nói. “Đấy là thiếu… người. Tranh ngựa mà chỉ có ngựa thôi thì chưa đủ, cần phải có người nữa. Những con ngựa được yêu thích nhất thường là đi với người.”


      Ông bạn tôi cũng nhất trí là vậy, và sau đó chúng tôi kể ra những tên ngựa nào mình yêu thích còn nhớ được mà chúng tôi gọi đùa là “những ngựa và người đã đi qua đời mình”. Trong số này chắc chắn không có những ngựa Tàu kiểu “mã đáo thành công” hay những chiến mã như ngựa Xích Thố của Quan Công, ngựa Marengo của Napoleon Bonaparte, ngựa Nelson của George Washington…


      Nếu trong huyền sử nước Anh có câu chuyện nàng Godiva cưỡi ngựa trong trang phục Eva thì trong huyền sử Việt cũng có câu chuyện Phù Đổng Thiên Vương (hay Thánh Gióng) cưỡi con ngựa sắt thật ly kỳ. Tương truyền, đời vua Hùng Vương thứ sáu, nhà Ân xua quân xâm lấn nước Văn Lang. Vua lo lắng, sai người đi khắp nơi tìm nhân tài ra cứu nước. Khi đến làng Gióng, xã Phù Đổng tỉnh Bắc Ninh, gặp cậu bé lên 3 tuổi, nói với sứ giả “Ngươi về tâu với đức Vua đúc cho ta con ngựa sắt, áo giáp sắt và roi sắt để ta đi đánh giặc Ân”. Vua lấy làm lạ nhưng cũng đáp ứng mọi yêu cầu. Khi có đủ mọi thứ, cậu bé vươn vai biến thành chàng trai cao lớn, nhảy phóc lên lưng ngựa sắt. Ngựa hí vang lộng, thét ra lửa, lao vút ra trận. Bọn giặc hoảng loạn giẫm đạp lên nhau chạy trối chết. Roi sắt gãy, chàng trai nhổ từng bụi tre quất tơi bời lũ giặc. Sau khi truy đuổi giặc đến chân núi Sóc Sơn, ngựa và người bay thẳng lên trời mất dạng.


      Chuyện Thánh Gióng cưỡi ngựa thần ấy hẳn không phải chuyện “người thật, việc thật” mà chỉ là truyền thuyết trong lịch sử Việt Nam nhằm hun đúc tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm.


      Thánh Gióng, tranh dân gian Đông Hồ

      Câu chuyện huyền hoặc như cổ tích ấy làm tôi nhớ đến chú ngựa bạch Samson với bờm và đuôi màu đen của chàng hoàng tử đẹp trai Phillip, luôn toát lên vẻ oai phong của một chiến mã hoàng gia. Chú ngựa này từng vào sinh ra tử, hợp đồng tác chiến cùng hoàng tử Phillip vượt qua khu rừng gai góc chằng chịt, chiến đấu với mụ phù thủy độc ác trong hình dạng con rồng lửa khổng lồ, giúp hoàng tử đặt chân vào được tòa lâu đài bí mật, đặt nhẹ chiếc hôn lên môi công chúa Aurora, đánh thức người đẹp ngủ triền miên suốt trăm năm trong khu rừng cấm.


      Chú ngựa Samson này có óc hài hước, đôi lúc khá bướng bỉnh, được cái dễ bị dỗ ngọt. Chú cũng rất yêu quý công chúa Aurora, lắm lúc tỏ ra ghen tuông với hoàng tử Phillip khi chàng thể hiện tình cảm say đắm với công chúa.


      (Tranh hoạt họa Disney, 1959)

      Qua hết thời thơ ấu, những lâu đài cổ tích và loài ngựa có cánh trong thần thoại Hy Lạp bị bỏ lại sau lưng, thay bằng những chú ngựa đáng yêu của thời niên thiếu. Trong số ấy phải kể đến chú ngựa đen tuyền Tornado của hiệp sĩ Zorro.


      Chàng hiệp sĩ hay kiếm sĩ bịt mặt Zorro là nhân vật huyền thoại với hành tung bí ẩn, thoắt ẩn thoắt hiện như cơn gió lốc. Mỗi khi hành hiệp Zorro thường xuất hiện trong bộ trang phục toàn một màu đen, mũ rộng vành màu đen, tấm khăn choàng màu đen, đôi ủng da và găng tay màu đen, đeo mặt nạ đen, cưỡi trên lưng con tuấn mã cũng màu đen. Tất cả, ngoại hình đen “toàn tập” ấy giúp chàng dễ hòa lẫn vào bóng đêm… đen và biến mất.


      Dưới lớp mặt nạ bí ẩn, Zorro là hình tượng của hiệp sĩ lãng mạn, là biểu tượng của tự do và công lý, là chàng trai tốt bụng, hào hiệp, chuyên trừng phạt những kẻ độc ác và bảo vệ người yếu thế khỏi sự áp bức trong thời kỳ California còn là thuộc địa của Tây Ban Nha vào đầu thế kỷ thứ 19.


      Người hùng giấu mặt Zorro là tay kỵ sĩ điêu luyện, võ thuật tinh thông, kiếm pháp thượng thặng. Hình ảnh bắt mắt thường thấy trong phim là tấm áo choàng đen xòe rộng khi chàng phóng lên lưng ngựa hay biểu diễn những đường kiếm tuyệt luân, bay bướm. Thanh kiếm bén ngọt, mỏng như lá lúa, múa loang loáng như ánh chớp để lại dấu ấn là vết cắt hình chữ Z như “chữ ký tắt” trên ngực áo đối thủ hay bất cứ nơi nào chàng xuất hiện.


      Chú ngựa Tornado, tay trợ thủ đắc lực của Zorro, cực kỳ thông minh, hiểu được tiếng người, đọc được những tín hiệu bằng mắt của chủ mình và nhiều phen cứu thoát chủ trong tình thế nguy khốn, như ngoạm xâu chìa khóa phòng giam mang đến cho Zorro để tự giải cứu mình. Hoặc, chỉ cần nghe tiếng huýt sáo của Zorro là Tornado nhanh chóng từ đâu phóng đến, khom người cho chàng hiệp sĩ nhảy phóc lên lưng, không quên tiện tay cắp ngang hông người đẹp vắt lên yên ngựa vượt thoát vòng vây đối phương.


      Zorro (movie posters)

      Không rõ từ khi nào những phim kiếm hiệp như “The Sign of Zorro” hay “The Three Musketeers” phải nhường chỗ cho loạt phim cao-bồi cưỡi ngựa bắn súng miền viễn Tây Hoa Kỳ (do đánh gươm lằng nhằng mất thì giờ quá, chơi súng thì nhanh gọn hơn và cũng hấp dẫn hơn chăng?). Những chàng kiếm sĩ được thay thế bằng những tay súng oai hùng trừ gian diệt bạo với những màn rượt đuổi, phóng ngựa như bay trên những đồng cỏ bát ngát hay sa mạc hoang vu.


      Những chàng cao-bồi thường có cuộc sống tự do phóng khoáng, suốt ngày rong ruổi trên lưng ngựa với quần jean áo da, mũ rộng vành, súng trễ bên hông và đôi ủng da bụi bậm gắn cựa giày để thúc ngựa.


      Ngoài chuyện rút súng nhanh như chớp, một trong những kỹ năng đẹp mắt của những tay cao-bồi là màn quăng ném dây thòng lọng (cowboy’s lasso rope) thật tài tình để tóm cổ chú bò ương ngạnh, chú ngựa chưa thuần hay “bắt trói” đối thủ ngay trên mình ngựa, quăng xuống đất.


      Những chuyện phim thường có mẫu số chung, kết thúc bằng màn thư hùng, đấu súng tay đôi một mất một còn. Bắn chậm thì chết, và bao giờ thì kẻ ác cũng gục ngã dưới chân người hùng.


      Một trong những phim cao-bồi đầu tiên mà tôi được xem là phim “The Lone Ranger” (1956) dẫn đưa cậu bé mới lớn vào thế giới phim cao-bồi hấp dẫn với những mẫu người hùng nghĩa hiệp, khí phách ngang tàng. Trong phim, Lone Ranger đeo mặt nạ đen, đội mũ rộng vành trắng, cưỡi trên lưng con ngựa trắng Silver, và người bạn đồng hành da đỏ Tonto, cưỡi con ngựa đốm Scout hai màu nâu và trắng, đều là những chú ngựa khôn ngoan và trung thành.


      Chú ngựa Silver cao lớn, khỏe mạnh, nổi tiếng với tiếng hí dài vang lộng, ngẩng cao đầu rất phấn khích khi chủ nhân thúc vào hông hô lớn “Hi-Yo, Silver! Away!”, tiếng gọi giục giã lên đường. Hoặc những lúc chồm lên, vươn cao hai vó trước xông tới khiến đối phương hoảng sợ ngã lăn ra đất. Chú ngựa Scout cũng tạo thành tích vượt thoát vòng vây chạy đi tìm Lone Ranger, vừa dậm mạnh hai chân xuống đất vừa hí liên hồi, báo tin khẩn cấp ông bạn da đỏ lâm nạn. Chàng cao-bồi đeo mặt nạ lập tức thúc ngựa chạy như bay đến “cứu bồ”, từ xa bắn một phát súng đứt giây treo thòng lọng, giải cứu bạn mình.


      Lone Ranger - True Grit (movie scènes)

      Ông bạn tôi thì nhắc đến chú ngựa Dollor của John Wayne, diễn viên điện ảnh chuyên trị dòng phim cao-bồi miền Tây Hoa Kỳ. John Wayne từng cưỡi nhiều ngựa khác nhau trong nhiều cuốn phim và trong đời mình, tiết lộ rằng ông yêu nhất Dollor, chú ngựa màu nâu hạt dẻ với một vệt trắng lớn từ trán chạy dọc trên mặt. Dollor nhờ vậy được “ăn theo”, xuất hiện cùng John Wayne trong nhiều bộ phim qua lối “diễn xuất” thoải mái, tự tin, phô diễn đầy vẻ uy lực như sải rộng bốn vó, bờm tung gió, phi nước đại hay trổ tài nhảy cao, phóng xa vượt qua những hàng rào cao nhất.


      Trong một scène khá “ấn tượng”, chàng cao-bồi John Wayne biểu diễn màn thúc ngựa đi giật lùi trong lúc mũi súng lăm lăm chĩa vào những tay anh chị đang gườm gườm chực chờ rút súng, cho đến một quãng xa mới quay đầu ngựa phóng vụt đi.


      Dollor được John Wayne yêu quý đến mức muốn giữ độc quyền chú ngựa này và đưa vào hợp đồng đóng phim điều khoản không ai ngoài ông được cưỡi chú Dollor cho đến khi ông qua đời. Chú ngựa này được kể là người bạn đồng hành thân thiết và bạn đồng diễn ăn ý nhất của John Wayne cho đến bộ phim cuối cùng, “The Shootist” (1976), kết thúc sự nghiệp điện ảnh lẫy lừng của chàng diễn viên cao-bồi nổi tiếng này.


      Hơn thế nữa, John Wayne và chú ngựa Dollor từng được vinh danh trong bức tượng đồng “Chàng Kỵ Sĩ” với kích cỡ người thật, ngựa thật cao 21 feet của nhà điêu khắc Harry Jackson trên hè phố lớn tại Beverly Hills, Nam California. John Wayne lừng lững ngồi trên lưng ngựa, tay nắm dây cương buông lỏng, mắt nhìn cuộc sống trôi qua mỗi ngày.


      Cao-bồi thì không thể nào thiếu ngựa. Cao-bồi mà không có ngựa hoặc cưỡi con thú gì khác thì… không ra cao-bồi, chẳng làm ăn gì được.


      Đến đây bỗng nhớ mẩu chuyện vui, một tay cao-bồi mặt mũi bậm trợn bước vào quán rượu chơi hết mấy ly whisky đến sật sừ. Lúc trở ra, tìm quanh quất không thấy con ngựa của mình đâu cả, anh chàng giận quá, trở vào quán trợn mắt gằn giọng, “Tên nào chôm mất con ngựa của tao, lập tức mang trả ngay. Nếu không, sau 5 phút, tao sẽ làm đúng y chang những gì bố tao đã làm cách đây 10 năm.” Năm phút sau, chàng cao-bồi bước ra cửa trông thấy lại chú ngựa của mình, được cột dây cẩn thận.


      “Có thế chứ,” anh chàng gật gù, leo lên mình ngựa.


      “Thế 10 năm trước bố anh làm gì?” chủ quán rượu đứng bên, rụt rè hỏi.


      “Thì ổng đi bộ về nhà chứ còn làm gì nữa,” chàng cao-bồi trả lời, “thế mà cũng hỏi.”


      Lucky Luke, tranh Morris

      Cao-bồi mà không có ngựa thì chán ngắt. Điều này càng đúng với loạt truyện tranh nhiều tập của họa sĩ người Bỉ Morris (1946). Nếu chỉ có nhân vật Lucky Luke thôi mà thiếu đi chú ngựa Jolly Jumper thì chắc đấy không phải là bộ truyện tranh nổi tiếng, được dịch ra hơn 30 thứ tiếng và bán chạy nhất Âu châu.


      Loạt truyện này lấy bối cảnh miền viễn Tây Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ 19. Lucky Luke, nhân vật chính trong truyện là anh chàng cao-bồi độc thân vui tính và là tay súng thần sầu, nổi tiếng với tước hiệu giang hồ “Kẻ bắn nhanh hơn cái bóng của mình”. Anh chàng từng thử đi thử lại, mười lần như một đều rút súng nhanh hơn và để một phát trúng ngay tim chiếc bóng lung linh ấy.


      Hình ảnh quen thuộc của Lucky Luke là chàng lãng tử ốm nhom, cao nhòng, tóc tém, mặt dài ngoằng, mũ cao-bồi trắng, áo ghi-lê đen, sơ-mi vàng, khăn phu-la đỏ và điếu thuốc luôn vắt vẻo trên môi (về sau được thay bằng cọng cỏ, do phong trào… phòng chống ung thư). Về tài bắn súng thì khỏi chê, chàng cao-bồi rút súng nhanh như chớp bằng cả hai tay, trăm phát trăm trúng. Lại còn màn quay súng như chong chóng rất điệu nghệ trong lúc nòng súng còn đang bốc khói.


      Jolly Jumper là chú ngựa trắng, bờm vàng, đuôi vàng, cổ cao chân dài, là chú ngựa độc đáo có một không hai. Nói “độc đáo” vì ngoài chuyện nghe và hiểu được tiếng người chú còn có nhiều tài vặt khác, như thổi khẩu cầm, chơi cờ vua, biểu diễn môn đi dây thăng bằng hay đấu vật tay với Lucky Luke để xem ai khỏe hơn ai.


      Chàng Lucky Luke một mình một ngựa lang bạt khắp miền viễn Tây để thực thi công lý, đối đầu với nhiều kẻ cướp, băng đảng dữ dằn sống ngoài vòng pháp luật vào thời khai hoang của nước Mỹ. Điều đáng nói, loạt truyện này được xem là truyện tranh cao-bồi lành mạnh nhất, có đấm đá, có súng nổ nhưng tuyệt nhiên không hề có xác người hay cảnh giết chóc tàn bạo nào.


      Đôi bạn Lucky Luke và Jolly Jumper từng có những phút thư giãn sau mỗi chiến tích như dạo chơi trên những cánh đồng cỏ mênh mông hay những sa mạc đầy những cây xương rồng xù xì gai nhọn trong những đêm có ánh trăng thơ mộng. Anh chàng Lucky Luke thường nằm ngửa vắt vẻo trên lưng chú Jolly Jumper, miệng huýt sáo điệu nhạc… cao-bồi hay dừng chân trên sườn đồi, nhóm củi đốt lửa pha chế cà-phê không đường và cùng nhấm nháp, đối ẩm như hai bạn đường tri kỷ.


      Phần kết mỗi tập truyện đều có cùng mẫu số chung, tranh cuối cùng bao giờ cũng là hình ảnh chàng Lucky Luke vẫn một mình một ngựa, cưỡi trên lưng chú Jolly Jumper vừa lững thững đi về phía mặt trời lặn vừa hát nghêu ngao, “Tôi là gã cao-bồi nghèo đơn độc, mà quê nhà thì xa quá xa...” (I’m a poor lonesome cowboy / and a long way from home…)


      Lucky Luke, tranh Morris

      Những ngựa và người nào đã đi qua đời mình, thật khó mà nhớ hết được. Nếu phải kể thêm, lại còn nàng ngựa Giáp Ngọ nữa chứ. Một lần đi là đi biệt, đi không ngoảnh lại, đi “không nhớ gì sao người?” như câu hát quen thuộc nào. Ông bạn tôi cũng hứng chí kể ra đến mấy nàng ngựa đi qua đời mình, nàng nào tên cũng đẹp cả, nào là Trúc Mai, Thu Yến, Mỹ Phương, Hoàng Dung… Tưởng anh chàng có số đào hoa, hóa ra chàng thú nhận đấy là những tên ngựa ở trường đua Phú Thọ mà chàng từng có thời kỳ chết mê chết mệt môn cá cược đến mất ăn mất ngủ.


      “Cũng còn là may đấy,” tôi nói. “Có lắm người không chỉ mất ăn mất ngủ thôi mà còn tán gia bại sản cũng vì máu đỏ đen ấy, gọi là ‘chết vì ngựa’.”


      “Ông yêu con ngựa nào nhất trong số những ngựa ấy”, ông bạn hỏi.


      Thật khó mà trả lời, mỗi thời kỳ mỗi khác. Bỗng dưng, tôi nhớ đến bức vẽ cuối cùng trong loạt truyện tranh Lucky Luke ấy. Chàng cao-bồi lãng tử một mình một ngựa lững thững đi về phía hoàng hôn cuối chân trời. Bây giờ tôi mới hiểu ra ý nghĩa của tranh cuối ấy. Bao giờ cũng là tranh ấy. Có chọc trời khuấy nước, có bôn ba xuôi ngược đến đâu thì rồi con đường nào cũng dẫn về phía ấy, phía chân trời hoàng hôn.


      “Chú ngựa Jolly Jumper,” tôi trả lời.


      Chàng Lucky Luke không đến nỗi cô đơn vì còn có chú Jolly Jumper bầu bạn; hơn thế nữa, còn là bạn đồng hành khắn khít bên nhau mãi đến cuối đường. Một tình bạn ấm áp và cảm động.


      Ra đời năm 1946, tính đến nay bộ truyện tranh từng làm say mê bao thế hệ độc giả ấy vừa tròn 80 tuổi. Anh chàng Lucky Luke và chú ngựa Jolly Jumper có vẻ vẫn không già đi chút nào, trong lúc ông bạn tôi và tôi, những chú bé ngày nào còn cất giấu những trang báo hoạt họa ấy trong cặp sách tuổi học trò của mình nay đã bước vào tuổi hoàng hôn của đời người.


      Bao nhiêu mùa xuân đã đi qua, khi tuổi đã về chiều, ngoảnh lại mới thấy cuộc sống ngắn ngủi hơn bao giờ. Thời gian vun vút như “bóng câu qua thềm”. Hơn một nửa bạn bè, anh em và những người thân tôi đã như những chiến binh ngã ngựa, nếu không rời bỏ thế gian thì cũng chẳng còn sức nào để leo lên lưng ngựa.


      Đầu năm Ngựa, ngồi ôn chuyện cũ, hát nhại câu hát của chàng lãng tử cao-bồi ấy mà lòng gợn lên một mối cảm hoài.


      Tôi là tay cao-bồi già đơn độc / rong ruổi trên những dặm đường hun hút / mà quê nhà vẫn xa biền biệt…


      Lê Hữu

      Tác giả gởi

      Ad-22-A_Newest-Feb25-2022 Ad-22-A_Newest-Feb25-2022


      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Những ngựa và người đi qua đời tôi Lê Hữu Phiếm luận

      - Chúa sẽ đến trong đêm nay Lê Hữu Truyện ngắn

      - Xem Tranh, Nhớ Người Lê Hữu Tưởng niệm

      - Tìm con nơi Thiên Đường Lê Hữu Phóng tác

      - Hoa anh đào nở rộ Lê Hữu Phóng tác

      - Nhạc Việt miền Nam, di sản văn hóa bất diệt của chính thể Việt Nam Cộng Hòa Lê Hữu Khảo luận

      - Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, “người lính già không bao giờ chết” Lê Hữu Nhận định

      - Ngày xuân, dạo chơi Phố Ông Đồ Lê Hữu Tản văn

      - Ông già Noel vô tích sự Lê Hữu Truyện ngắn

      - Một tách cà-phê cho hai người Lê HỮu Tùy bút

    3. Bài viết về nhà văn Lê Hữu (Học Xá) Ad-31 Ad-31 = QC_250-250 (Học Xá)

       

      Bài viết về Lê Hữu

        Cùng Tác Giả (Link-1)

      Lê Hữu, Người Tìm Ngọc Trong Đá (Hoàng Lan Chi)

      Giới Thiệu Tác Phẩm Mới: Quà Tặng Giữa Mùa Dịch (Học Xá)

      Lê Hữu: Âm Nhạc Của Một Thời (T. Vấn)

      Lê Hữu và Một Thời Âm Nhạc (Phạm Xuân Đài)

      Nhạc phổ thơ, thơ phổ nhạc (Bích Huyền)

      Chút Duyên Văn Nghệ (Bích Huyền)

      Lê Hữu (Học Xá)

      - Lê Hữu: Ngôn Ngữ Ngậm Ngùi (T.Vấn)

      - Lê Hữu- Âm Nhạc của một thời

        (hoanglanchi.com)

      - Tiểu sử tóm tắt (hocxa.com)

       

      Tác phẩm của Lê Hữu

        Cùng Tác Giả (Link-2)

      Những ngựa và người đi qua đời tôi (Lê Hữu)

      Chúa sẽ đến trong đêm nay (Lê Hữu)

      Xem Tranh, Nhớ Người (Lê Hữu)

      Tìm con nơi Thiên Đường (Lê Hữu)

      Hoa anh đào nở rộ (Lê Hữu)

      - Người lính trong nhạc Nguyễn Văn Đông

      - Bài viết, bài gõ, bài vẽ

      - Bản di chúc 71 chữ

      Tác phẩm của Lê Hữu trên mạng:

      damau.org,     • t-van.net,

      diendantheky.net

       (hoanglanchi.com)

       

      Văn Học (Học Xá)

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Danh Mục Tác Giả: Cùng Chỉ Số (Link-2) Ai Điểu,  An Khê,  Andrew Lâm,  Andrew X. Phạm,  Au Thị Phục An,  Bà Bút Trà,  Bà Tùng Long,  Bắc Phong,  Bàng Bá Lân,  Bảo Vân,  Bích Huyền,  Bích Khê,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Bích Hà,  

       

      Bài Viết về Văn Học (Học Xá)

       

      Bài viết về Văn Học

        Cùng Mục (Link)

      Những ngựa và người đi qua đời tôi (Lê Hữu)

      Nguyễn Kiến Thiết - Nguời Giữ Ngọn Lửa Tri Thức Nam Bộ (Vũ Khắc Tế)

      Mùa Xuân Vĩnh Viễn (Tiểu Lục Thần Phong)

      Thế giới thơ mộng Đinh Cường: Đi Vào Cõi Tạo Hình II (Phan Tấn Hải)

      Ái Điểu, Cõi Lạ Văn Chương (Nguyễn Lệ Uyên)


       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

       

      Văn Học Miền Nam (Học Xá)
  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)