|
|
|
|
|
VĂN HỌC |
GIAI THOẠI | TIỂU LUÂN | THƠ | TRUYỆN | THỜI LUẬN | NHÂN VẬT | ÂM NHẠC | HỘI HỌA | KHOA HỌC | GIẢI TRÍ | TIỂU SỬ |
Thơ Văn Trần Y. Hoa & Bằng hữu
Thơ Văn Trần Yên Hoà & Bằng hữu

Nhà văn, nhà biên khảo văn học Nguyễn Vy Khanh. Hình từ FB Nguyễn Vy Khanh.
Trần Doãn Nho: Tôi vừa “order” tập “Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại”, Quyển Thượng của anh Nguyễn Vy Khanhtừ trên mạng lulu.com. Theo tôi biết, đây là Quyển đầu tiên trong bộ sách gồm ba Quyển. Xin anh tóm lược ít dòng để cho độc giả có khái niệm về nội dung của bộ sách khá đồ sộ này.
Nguyễn Vy Khanh: Tôi xin tóm lược về bộ sách “Văn Học Việt-Nam 50 Năm Hải Ngoại” gồm 3 tập.Quyển Thượng là phần Tổng quan với lược-sử từ mốc khởi đầu: ngày 30-4-1975, nền văn học hải ngoại qua 6 giai đoạn sinh hoạt và phát triển, sau đó là các nội-dung, thể-loại và hiện-tượng văn học, bổ túc thêm phần ghi nhận các sinh hoạt báo chí, xuất-bản và các nhóm tiêu biểu và cuối cùng khép lại với một số gọi là sơ kết và hướng về tương lai.
Quyển Trung và Quyển Hạ – Tác-Giả Văn Học Việt-Nam Hải Ngoại tuyển một số bài viết, xếp theo vần bút hiệu, như một dấu chứng về hiện tượng viết ở ngoài nước, một nối dài (một phần) và một có-mặt hiển nhiên, qua một số tác phẩm và người viết, qua một số dấu mốc thời gian. Đây là các tác giả mà chúng tôi yêu thích, tìm đến hoặc đã đến với chúng tôi như người đọc và quan sát. Có bài viết do cảm hứng, có bài vì nhu cầu văn học sử. Có bài viết về một tác phẩm mà cũng có nhiều bài về cả sự nghiệp. Dĩ nhiên trong đây thiếu nhiều người rất nổi tiếng mà chúng tôi thấy khó viết thêm, viết theo, vì đã có nhiều nhà khác giới thiệu, nhận định rồi – chúng tôi sẽ nói đến trong phần Tổng quan.

Trần Doãn Nho: Cầm tập sách khá dày và nặng trên tay, tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú. Các tác phẩm văn chương, dù phong phú đến đâu mà nằm rời rạc, phân tán, không được kết nối lại một cách có hệ thống thì ta sẽ không thể nào tạo được một “nền” văn học. Với gần 800 trang sách in ấn sạch, đẹp, rõ ràng, liệt kê đầy đủ các giai đoạn văn học, các thể loại văn học, các hiện tượng văn chương (tự truyện, truyện thật ngắn, miệt vườn, liên mạng, cách tân, tình dục…), các tác giả và tác phẩm, các tạp chí đủ loại, các nhà xuất bản…đi kèm với những nhận định ngắn gọn cũng như trích dẫn tiêu biểu, bộ sách là một công trình sưu tập lớn, mang lại cho người đọc nhìn thấy ngay diện mạo của một “nền” văn học hoàn chỉnh, phong phú và đa dạng, đó là “văn học hải ngoại”. Xin chúc mừng anh, và cũng chúc mừng cho văn học hải ngoại.
Xin anh cho biết anh đã sưu tập tài liệu như thế nào?
Nguyễn Vy Khanh: Chuyện sưu tập tài liệu với tôi lúc đầu thì vốn quen thói mê sách báo nên từ khi mới sang Canada đã để ý tìm, đọc và lưu trữ. Sách báo, tôi thường xuyên đến các thư viện có sách tiếng Việt ở Canada, vài thư viện ớ Hoa-Kỳ, rồi mua sách – sách các nhà xuất bản như Xuân Thu, Đại Nam, Văn Nghệ (tôi đặt qua bưu điện hoặc đến tận Nhà xuất bản khi có dịp du lịch lấy sách thay cho nhuận bút in sách), v.v. Nghề nghiệp quản thủ thư viện cũng giúp tôi tìm và tổ chức kho sách cá nhân. Rồi thêm sách ebook trên các trang mạng internet cũng giúp tôi có thêm sách báo để tham khảo. Nói chung, dù chưa nhắm viết gì nhưng tôi đã sớm để ý, nên có được sách báo từ nhiều giai đoạn hải-ngoại. Vì nếu bắt đầu bây giờ chẳng hạn, thì nhiều tiệm sách và nhà xuất bản đã ngưng hoạt động, sách báo giấy ngày càng hiếm bên cạnh khuynh hướng phát hành qua các công ty trên mạng internet, bên cạnh đó bưu phí thì nay khá cao (trung bình giá sách và bưu phí mỗi thứ nay có thể 4, 5 lần cao hơn).
Từng tốt nghiệp triết học cùng văn học Việt-Nam kim cổ và nay thêm nghề thủ-thư, công việc nghiên cứu, biên khảo không phải là khó, nhất là khi chúng tôi thêm động lực phải làm gì đó cho những “mảng” văn-học (và vùng miền) đã và vẫn tiếp tục chịu nhiều thiệt thòi và oan trái. Tôi vẫn công khai quan niệm về công tác nghiên cứu, biên khảo và phê bình văn học sử này như sau: “Kiến thức cũng như nghề nghiệp chính thức và nghiệp dư, sau nhiều thập niên hoạt động, cho chúng tôi tâm niệm và ý chí, trong khả năng khiêm tốn và khả thể, đi tìm sự thực và ghi lại cho các thế hệ sau, với hy vọng rằng chỉ có thống nhất nhân tâm và địa lý khi nào những khúc mắc và vấn nạn lịch sử đã được nhìn nhận và giải tỏa”.
Cảm ơn thịnh tình anh đã mua bộ sách “Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại”, tôi biên soạn như trả nợ tinh thần các văn nghệ sĩ hải-ngoại trước sau đã góp công dựng nên nền văn-học này, và cũng không nhắm ra mắt sách, chỉ phát hành qua trang mạng toàn cầu lulu.com
Trần Doãn Nho: Đúng là thói quen nghề nghiệp đã giúp anh làm một việc không mấy ai muốn làm hay chẳng có thì giờ để làm. Phải nhận rằng Văn Học Hải Ngoại, tuy không lớn và phong phú bằng Văn Học Miền Nam trước đây hay văn học trong nước hiện nay, nhưng với địa bàn trải rộng qua nhiều quốc gia khác nhau trên khắp các châu lục trong lúc những tác phẩm văn chương đa phần có tính cách tự biên tự diễn, nên không dễ gì theo dõi để lấy số liệu. Trong bộ sách này, lượng thông tin về tác giả, tác phẩm cũng như về các sách, báo phát hành tại các địa phương hết sức phong phú. Tôi ngạc nhiên khi tìm thấy anh đã đề cập đến nhiều tác giả hay tác phẩm vốn không, hay chưa mấy nổi tiếng. Nguồn tin tức này, anh lấy ở đâu?
Nguyễn Vy Khanh: Thông tin, tài liệu về văn-học hải-ngoại nói chung, tôi lấy từ sách báo của “dòng chính” – các tạp chí như Văn Học, Hợp Lưu, Văn, Thế Kỷ 21, … các nhà xuất bản như Văn Nghệ, Văn, Sống, Người Việt, Văn Mới, Nhân Ảnh, … như từ các địa phương hoặc quốc gia. Tôi mua dài hạn và từng cộng tác với báo-chí ở Hoa-Kỳ, Canada, Pháp, Đông Âu, Úc, … đủ mọi khuynh hướng chính trị, văn hóa, tôn giáo. Ngoài văn học, tôi từng sinh hoạt cộng đồng cũng như chính trị, do đó thông tin tôi mở rộng thêm là vậy.
Bộ sách “Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại” là một công trình văn học sử về một tập thể đa dạng sinh hoạt ở nhiều quốc gia, phần của tôi chỉ gọi là “đóng góp” chứ không phải là “toàn bộ” như tôi từng xác nhận trong “Lời mở đầu” của Quyển Thượng: “ Chúng tôi không nghĩ làm công tác của một nhà phê bình văn học. Chúng tôi chỉ mạo muội ghi lại một số nhận định về một số hiện tượng văn hoá, văn học, thông qua các hiện-tượng, biến cố để tìmcốt lõi, cái có thể còn lại, về một số tác giả và tác phẩm, về khuynh hướng của một thời cũng như nhận định cổ võ những cố gắng làm mới văn học, của một số tác giả, của một vài tập thể. Trong số, có những vấn đề liên hệ đến lịch sử của một nền văn học, đến cốt lõi của sinh mạng chung, không thể không nói đến. Nhận định, thẩm định giá trị văn-chương đến từ phân tích văn bản hơn là từ thân tình cá nhân, phe nhóm. Tổng quan, tản mạn, ghi dấu, gợi ý,… nói chung, đóng góp, mà không phải là một công trình phê bình văn học hay văn học sử đúng nghĩa đòi hỏi sự tham gia thiển nghĩ của nhiều người chuyên ngành, của một tập thể hơn là của một cá nhân. Dù cố gắng, chúng tôi có thể không tránh khỏi những ý kiến, quan niệm đối với người khác là thiên kiến…”. Hơn nữa, tôi cũng nói thêm “Vì những khó khăn chung nói trên, tức sự lưu-đày thân-thế đưa đến lưu-đày thư-tịch, cho nên trong khuôn khổ một sơ thảo và tổng kết văn học sử, chúng tôi tự giới hạn trình bày những nét chính và giới thiệu những tác giả và tác phẩm tiêu biểu hoặc chúng tôi có thể biết được, với hy vọng có thể giúp bạn đọc có một cái nhìn tổng quan”.
Về cái gọi là “các tác giả vốn không/chưa mấy nổi tiếng” nếu có, như anh nêu ra thì tôi xin có vài nhận xét:
– Với mọi nền văn học và mọi thời đại, đều có những tác-giả “lớn” – lớn tự thân chứ không phải lớn vì được đàn anh hay người nổi tiếng trên văn đàn viết Tựa hay phê bình, giới thiệu. Tôi biết có người đã trả 100, 200 đô để có những bài “Tựa” hay “nhận định” kiểu này.
– Thứ nữa, “nổi tiếng” còn tùy theo phe nhóm, văn đoàn, thi xã, văn bút. Tôi từng được những người có chức lớn trong các thi văn đoàn đó tặng sách nhưng trong vài trường hợp tôi không ghi nhận được gì là “văn chương” cả và dĩ nhiên họ không có mặt trong bộ sách của tôi.
Trần Doãn Nho: Nhận xét về tác giả “lớn” anh vừa nêu trên đã được anh đề cập đến trong phần “Sơ Kết và Tương Lai” cuối sách, theo đó, anh cho rằng trong lúc văn học hải ngoại “có nhiều tác giả và tác phẩm rất văn chương, rất chín, rất tới, hình thức văn chương cũng được chăm sóc kỹ”, thì cũng có “hiện tượng phe phái, áo thụng vái nhau và tinh thần địa phương hãy còn đậm đà” gây thui chột cho văn nghệ. Nhưng khi đề cập đến một số tác giả “không/chưa mấy nổi tiếng” trong câu hỏi trên, tôi chỉ muốn nói về thiện chí và công khó khi sưu tầm “tin tức” của anh, chứ không ám chỉ chuyện “lớn” hay “nhỏ” của tác giả hay tác phẩm. Chả là vì có một số tác giả chỉ phổ biến tác phẩm của mình trong bạn bè hay trong địa phương, chẳng quan tâm mấy đến chuyện “đánh bóng” mình, do đó, dù là “hay” hay “lớn” cũng chẳng ai biết.
Trong lời mở đầu của bộ sách, anh cho biết là con số các nhà văn nhà thơ nhà biên khảo lên đến nhiều trăm. Bộ “44 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại” (có sự cộng tác của anh) ghi nhận con số 308 tác giả. Những tác giả này là chỉ thuần về văn chương hay bao gồm nhiều lãnh vực khác nhau (chính trị, kinh tế, hội họa…)? Nếu tính cho đến bây giờ (50 năm), thì con số tác giả và tác phẩm thuần về văn chương ước khoảng bao nhiêu, theo số liệu mà anh có được?
Nguyễn Vy Khanh: Về con số nhà văn thì thời văn-học nào cũng khó có chính xác. Con số 308 “hải ngoại” của bộ “44 Năm Văn-học Việt Nam Hải Ngoại” gồm 7 tập do nhà “Mở Nguồn” xuất bản năm 2019 chỉ có nghĩa là 308 nhà văn, nhà thơ có mặt trong bộ tuyển tập do đã tự ý gửi tiểu sử và tác-phẩm tham gia hoặc do ban biên tập bổ túc thêm hoặc sử dụng và cập nhật từ bộ “20 Năm Văn-học Việt Nam Hải-ngoại” do nhà xuất bản “Đại Nam” in năm 1995. Có vài vị đã yêu cầu rút tên dù đã góp mặt trong bộ “20 Năm Văn-học Việt Nam Hải-ngoại”
Trong 50 năm hải-ngoại, tôi dù có theo dõi nhưng không để ý có bao nhiêu nhà văn thơ, nhưng tôi nghĩ phải trên 500 tác giả. Anh tham khảo các tuyển tập thơ văn đã in của các nhà xuất bản, các nhóm thơ văn hay các tạp chí về các đề tài hoặc biến cố, sẽ thấy con số 500 là khiêm tốn.
Dĩ nhiên khi nói đến con số là ngầm đặt câu hỏi ai thực sự là nhà văn? Như khi trả lời phỏng vấn của nhà báo/nhà thơ Du Tử Lê nhân bộ “44 Năm Văn-học Việt Nam Hải Ngoại” được xuất bản, tôi đã từng phát biểu: “Đối với ban thực hiện, “văn-học” trong thực tế khá đa dạng và quan niệm “tính văn-học” vừa mở rộng theo bộ môn, thể-loại vừa tương đối trong phê phán, đành giá” và “Thứ nữa, “tính văn-học” ở bộ sách này vừa mở rộng theo bộ môn, thể-loại và “văn-học” được hiểu theo nghĩa bao gồm thơ, văn –“văn” lại gồm truyện ngắn, tiểu-thuyết (trích đoạn), kịch bản, hồi-ký, bút ký, phê-bình, nhận định, văn-học sử. Đối với Ban thực hiện, “văn-học” khác với “văn-chương” do đó có sự “mở rộng” này!” (dẫn theo nhật báo Người Việt , 27-4-2019).
Với bộ Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại, vì muốn giữ tính văn-học sử cho nên ghi nhận các nhà văn thơ sáng tác cũng như biên khảo, nghĩa là không phải tất cả là “văn-chương” – nếu chỉ “văn chương” thì bộ sách sẽ ngắn gọn hơn nhiều.
Mặt khác, nếu nói đến nhà văn được ghi nhận trong bộ ”:Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại” thì tôi xin thêm quan điểm của tôi về “Ai là thành viên của nền văn-học hải-ngoại?”:
“Sự việc xuất-bản sách, có tác phẩm đăng báo-chí ở hải-ngoại chỉ là một yếu tố – nhiều nhà văn trước sau 1975 đã cộng tác và xuất bản tại hải ngoại … tức những người sinh sống trong nước và không định cư chính thức ở nước ngoài. Thứ nữa thành viên đó sinh sống ở hải-ngoại lâu mau, đầu đời, cuối đời hồi hương về Việt-Nam, nhưng quan-trọng nhất là thành viên đó không phải là tiếng nói hoặc viết theo Nhà nước Cộng-sản ở trong nước. Chúng tôi ghi nhận các nhà văn thơ hải ngoại với các sinh hoạt báo chí và tác phẩm xuất bản ở ngoài nước. Nếu sống ở ngoài mà sinh hoạt và in ấn ở trong nước hoặc phần người này xuất bản ở trong nước sẽ không được ghi nhận cũng như phân tích, cũng như nhà văn nhà thơ lớn, có thể nổi tiếng đáng ghi nhận hơn nhưng nói chung tất cả không thuộc về nội-hàm hải ngoại của biên khảo của chúng tôi” (Trích từ Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại , Quyển Thượng, tr. 18).
Trần Doãn Nho: Xin ghi nhận sự tách bạch rạch ròi của anh về “thành viên” của văn học hải ngoại.
“Hình như” anh chủ yếu chỉ ghi nhận/chọn lựa tác giả cũng như tác phẩm qua sách in. Anh có quan tâm đến những tác giả sáng tác và công bố tác phẩm của mình trên các tạp chí mạng hay trên trang mạng riêng của mình (weblog/personal blog), nhưng chưa hề in thành sách không? Hoặc tác giả của các “sách điện tử” (ebooks)?
Nguyễn Vy Khanh: Đa phần tôi ghi nhận những tác-phẩm đã xuất bản dưới hình thức giấy, và từ 15, 20 năm gần đây tôi cũng chú tâm đến những ebook, còn những tác-phẩm trên các trang mạng thì tôi không đủ sức để theo dõi (ngoại trừ vẫn tham khảo và sử dụng thay cho các ấn phẩm tôi không có).
Trần Doãn Nho: Tôi có tìm đọc một số bài nghiên cứu về văn học hải ngoại do một số tác giả trong nước viết. Trong số đó, hai ý kiến sau đây không tán đồng nhóm chữ “văn học hải ngoại” mà chúng ta hiện đang sử dụng:
– Tao Đàn: “Nhìn chung, thuật ngữ “văn học hải ngoại” vừa không đủ sức bao gộp cả một cộng đồng văn học Việt Nam rộng lớn ở nước ngoài, lại vừa gắn với những đối tượng, thời điểm, quan điểm chính trị cụ thể. Thuật ngữ ấy chủ yếu nhằm chỉ những thế hệ nhà văn có gốc gác hoặc dính dáng đến chế độ miền Nam trước 1975, ra đi trên những tàu viễn dương, vượt biên hay dạng H.O. Đích đến và không gian sống/viết mới của họ cũng chỉ gói gọn ở (Tây) Âu và (Bắc) Mỹ.”
– Vũ Thành Sơn: “Duy trì danh xưng văn học hải ngoại là một hành động có màu sắc chính trị, để rồi sau đó tiến hành cái gọi là hòa hợp, hòa giải văn học, lại là một hành động chính trị khác. Hãy trả lại cho văn học những gì thuộc về văn học.”
Là một nhà nghiên cứu khá tỉ mỉ quá trình hình thành nền văn học hải ngoại từ những ngày đầu cho đến nay, anh có ý kiến gì về hai nhận xét nói trên?
Nguyễn Vy Khanh: Về vấn đề định nghĩa và phân chia “hải ngoại” và “văn học hải ngoại”, đã hình thành hai đường lối ghi nhận. Tất cả các cây bút và nhận định ở hải ngoại gần như cùng quan điểm về “văn học hải ngoại”. Văn học cũng như cộng đồng người Việt ngoài Việt Nam trở nên đôi đường khi người trong nước định cư ở ngoài, trong số ban đầu từng thoải mái sinh hoạt văn học với hải ngoại rồi cuối cùng qui hồi cố hương và cũng thoải mái in sách. Hai nhận xét anh trích đến từ những người như vậy hoặc từ những người làm công tác … văn hóa vận. Họ và trong nước còn chưa chấp nhận Thanh Tâm Tuyền, Nhã Ca, Võ Phiến thời 1954–1975 cũng như văn học hải ngoại – họ chỉ mới chấp nhận cụm từ “văn học hải ngoại” khá lâu sau khi ông Nguyễn Huệ Chi đề nghị trên vài tạp chí trong và ngoài nước thời 1994, thì có gì để thảo luận… Đây cũng là kinh nghiệm mà sau này thở phào vì hóa ra có lý khi tôi soạn bộ “Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại” cũng như trước đó, chung soạn bộ “44 Năm Văn-học Việt Nam Hải Ngoại”. Xin ghi lại đây vài nhận định về vấn đề này:
“… gần đây một số biên khảo và luận văn đại học của trong nước thường dùng cụm-từ “văn học di dân” khi nói đến văn học hải ngoại. Theo thiển ý đây mang tính “ngụy sử” và tránh sự thực lịch sử như-đã-xảy-ra – làn sóng người dân bỏ miền Bắc cộng sản vào miền Nam tự do đã gọi là “di cư” và chuyển động của người Việt ra ngoài nước phải gọi là “tị nạn”, “lưu vong” cho đến nay gần 50 năm sau. “Di dân” hay “di trú” chỉ đúng cho một thiểu số người Việt thiên cư ra ngoài nước chứ không có di dân và di trú trong số thuyền nhân đến được bờ và nhất là gần nửa triệu người đã chết trong lòng biển cả cũng như những cựu tù “cải tạo”!
Những người nghiên cứu trong nước – dù có ra nước ngoài để tìm hiểu, thường vẫn kiêng kỵ nói đến tính chất lưu vong, di tản và phản kháng của văn học hải ngoại. Từ đó, luận văn và “diễn ngôn” của họ kết thúc lửng lơ kiểu gọi nền văn học ấy là “văn học di dân”! (Nguyễn Duy, Nguyễn Thanh Sơn, Vũ Thị Hạnh, Lê Thị Bích Hạnh, v.v.) (“Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại” . Q. Thượng, tr. 546).
Trần Doãn Nho: Theo tôi thì thực tế cho thấy, nhóm chữ “văn học hải ngoại” đã “chết tên” rồi. Báo chí trong nước hiện nay sử dụng nhóm chữ này… một cách hồn nhiên. Chẳng hạn như “Văn học hải ngoại 20 năm đầu thế kỷ 21” (trang mạng Văn Chương Việt), “Các nhà phê bình bàn về văn học hải ngoại” (VNExpress), “Văn học hải ngoại – một VN khác nhìn từ thế giới” (tạp chí Thái Nguyên), “Văn học hải ngoại cũng là máu thịt của dân tộc” (Tuổi Trẻ), vân vân. Ngay cả Sứ quán nước CHXHCNVN ở Hoa Thịnh Đốn cũng thế: “Các nhà phê bình bàn về văn học hải ngoại”.
Trở về với thực tế. Theo anh, với tình hình tà tà, tầm tầm, vắng vẻ… như hiện nay, liệu văn chương hải ngoại sẽ như thế nào, đi đến đâu, hay như có người bi quan nói “nó đang hấp hối”, chỉ đợi chờ ngày “tự biến mất”?
Nguyễn Vy Khanh: Theo thiển ý, văn học hải ngoại đang biến dạng nhưng vẫn hiện diện, thay vì biến mất như có người mong đợi. Đã “lão hóa” từ hơn hai thập niên, nay vẫn còn đó với những hình thức sinh hoạt và xuất bản theo thời đại, hội nhập hơn, dễ dàng hơn dù gạn lọc khó hơn. Tôi xin ghi lại một số suy nghĩ đã trình bày ở phần cuối Quyển Tổng quan của bộ “Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại” :
“… 50 năm sau thì không còn ai còn có thể đặt nghi vấn rằng có chăng một nền văn-học hải-ngoại! … Văn học người Việt ở ngoài nước sau 50 năm đã và vẫn chứng tỏ sức sống và sự phong phú đa dạng nhất là về kỹ thuật! Nhưng rồi hải-ngoại đã và sẽ dần yếu, theo nhân sự và khuynh hướng cùng sở thích của thời thượng, bớt đa dạng và sẽ dồn về một số thể-loại trội bật hoặc còn hơi sức. Ngọn đèn sẽ tỏa dịu lại, không thoi thóp thì cũng chỉ lóe ở một vài hướng gió thuận, được chờ đợi và chấp nhận như là hy-vọng, thực tại!
Không ai có thể tiên đoán tương lai văn hoá ở hải ngoại đứng (vững) hay nằm (xuống)? Khó trả lời những câu hỏi nền tảng như “Ta là ai? Tại sao ta lại ở đây?”. Chuyện kiểm thảo, tự vấn tự xét là chuyện bình thường!”;
“… Văn học dù ở ngoài nước đã gắn liền với vận mạng dân tộc. Ngoài những hoa hoè hình thức, thử nghiệm, những tác phẩm đánh động lòng người vẫn là những tác phẩm mạch lạc, dân tộc! Vấn đề sáng tạo, cái Mới đã thường xuyên được đặt ra, có khi nhẹ nhàng, có khi cấp thiết và tàn nhẫn. Văn chương tồn tại và sống động phải có mới và phải có tính sáng tạo, dĩ nhiên sáng tạo có nghĩa là làm nên, đem lại cái mới chứ không phải chỉ xuất bản nhiều, viết nhiều hay khác người! Cái mới, sáng tạo còn có nghĩa là đổi mới văn chương, làm mới tiếng nói thơ văn.
” … Nền văn-học hải-ngoại này được kiến dựng với một lịch-sử và nhiều thành quả và được đón nhận kể cả người trong nước. Dù hơi bi quan nhưng thiển nghĩ dòng văn học Việt-Nam ở ngoài nước nếu đã là những tác phẩm sáng tạo đích thực sẽ nhập dòng chung lịch sử văn học, sẽ đóng góp và trở thành văn-học của một Việt-Nam tương lai. Con người làm nên lịch sử văn học, không biên giới trong ngoài và Internet không gian ảo nhưng là phương tiện thông tin thực hữu. Không sợ mạng giết sách in, chi sợ không còn ai đọc văn-chương, in ấn cũng như mạng. Internet là phương tiện, nhưng đồng thời đã tầm thường hoá văn-chương, cơ hội trẻ trung hoá nhưng thường dừng ở bề nổi, thử nghiệm, thiếu chiều sâu. Các tác phẩm có giá trị nghệ thuật vẫn hiếm hoi. Văn-chương không còn biên giới, những hình thức làm và phổ-biến tác-phẩm mới, độc giả mới và phương tiện đến với độc giả cũng mới. Và còn phải mở ra với thế-giới, nội dung, tư tưởng cũng như văn bản văn chương!…” (“Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại” . Q. Thượng, tr. 753, 754, 771).
Trần Doãn Nho: Từ khá lâu, trên các trang mạng hải ngoại như Talawas (2001-2009), Tiền Vệ (2002-2019), Gió-O, Da Màu hay mới đây, Thế Kỷ Mới (nối tiếp Diễn Đàn Thế Kỷ), chúng ta thấy một số cây bút trong nước xuất hiện khá thường xuyên qua các bài viết về văn chương nghệ thuật; ngược lại, một số tác giả hải ngoại cũng xuất hiện trên vài trang mạng xuất phát từ trong nước như “Văn chương Việt” hay “Văn Việt”. Anh có ý kiến gì về hiện tượng này? Phải chăng đó là một hình thức “hợp lưu” như chủ trương của tạp chí Hợp Lưu ngày nào? Ngoài tác động của tình trạng “lão hóa”, liệu hiện tượng này có làm cho văn học hải ngoại mất đi ưu thế mà nó từng có trước đây?
Nguyễn Vy Khanh: Theo tôi, đây trước hết là hiện tượng khởi từ chính sách “mở cửa” của trong nước sau năm 1987 và được tiếp tay với thái độ văn nghệ “hợp lưu” của vài tạp chí hải ngoại như Hợp Lưu, Trăm Con, Văn Học, …: người trong nước “khởi sắc” ra – dù ngắn hạn, với tương đối tự do tư duy và sáng tác, hợp với thái độ khai phóng của một số nhà văn nhà báo hải ngoại. Hai yếu tố đó làm nên hiện tượng “hợp lưu” từ thập niên 1990.
Rồi hiện tượng “hợp lưu”, “mở cửa” trở thành khuynh hướng văn nghệ vô tình hợp với tình trạng “lão hóa” cùa hải ngoại, bài và truyện thơ của người trong nước xuất hiện ngày càng nhiều trên báo chí và cả xuất bản sách ở ngoài nước. Xin mở ngoặc để ghi nhận sự tham gia cộng tác với các tạp chí hải ngoại của một số nhà văn trong nước từng sinh hoạt ở miền Nam trước biến cố tháng Tư 1975, không phải ai trong họ cũng có thể đưa tác phẩm đến với người đọc trong nước.
Anh hỏi “liệu hiện tượng này có làm cho văn học hải ngoại mất đi ưu thế mà nó từng có trước đây?”. Tôi thì nghĩ trong-ngoài trước sau cũng sẽ phải như nhau, nhất là mảng văn nghệ “thuần túy” hoặc không-chính-trị. Văn học trong-ngoài rồi sẽ phải là một – văn học Việt Nam, và sẽ có tác phẩm được người đọc trong-ngoài đón nhận, sống lâu, trong khi phần lớn sẽ biến mất theo thời gian và văn-học-sử.
Trần Doãn Nho: Trước khi chấm dứt, mời anh cho thêm một vài nhận định về các khía cạnh khác của văn học hải ngoại mà chúng ta đã bỏ qua hay chưa đề cập đến?
Nguyễn Vy Khanh: Chúng ta đã nhìn lại 50 năm văn học hải ngoại một cách tổng quát. Muốn hiểu rõ hơn, cần đi vào nội-dung, các thể-loại văn chương và hiện-tượng văn học, cũng như nhìn lại các giai đoạn sinh hoạt và phát triển. Nền văn học đó hiện-đại hóa như thế nào? Đâu là những ảnh-hưởng và đã giải quyết những chuyện ngoại thuộc rồi hội nhập ra sao cũng như đã làm mới văn-chương đến đâu?
Nhìn chung, theo thiển ý, cái còn lại của 50 năm văn học hải-ngoại vửa qua là tính cách dân tộc, hiện đại, khai phóng và nhân bản cũng như hội nhập mà một số tác giả đã thành công để lại qua tác-phẩm! Hành trình của văn học hải-ngoại cũng là hành trình của người Việt nói chung đứng trước hiểm họa vong thân và ngoại xâm, lãnh thổ cũng như tâm hồn, đã đi từ kiếm tìm căn bản dân tộc đến với hiện đại, nhân bản, từ cái lõi chung dân tộc đến lõi phổ quát chung của gia tài văn hoá nhân loại!
Sau 50 năm, đã có nhiều hiện tượng văn chương có tính-một-thời, tính giai đoạn, “sớm nở tối tàn”, nhưng đã có những hiện tượng và tác-phẩm văn chương đã đánh dấu, khoanh vùng, để lại cho mai sau. Sống và viết ở ngoài nước hay trong nước, điểm chung là quê-hương đất nước, cái chung của tất cả, đó là qua ngôn-ngữ, qua tiếng Việt!
Từ những năm đầu thế kỷ XXI, văn học hải ngoại đã khởi động cuộc vận động cho những khuynh hướng văn-chương hiện đại hơn nữa cũng như cho những dự phóng văn học mới. Cuộc vận động này đã gây khởi sắc và hy vọng cho sinh hoạt văn chương thời này, nhưng tiếc thay vận hội này đã không kéo dài lâu hơn và các sinh hoạt văn học, báo chí đã phải rơi vào tình trạng lão-hóa chung của cộng đồng người Việt hải ngoại tuy vẫn đang sinh hoạt có khi rất mạnh. Có thể nói văn-học hải-ngoại đã để lại những tác-phẩm ghi dấu ấn của cộng đồng người Việt hải-ngoại, và làm nên gia tài văn-hóa chung của Việt-Nam, có thể tự hào để lại cho nhiều thế hệ độc giả.
50 năm, đã có nhiều thế hệ văn-học hải-ngoại tiếp nối nhau hiện diện, ban đầu và đa phần hướng về quá khứ, nhưng “quá khứ” trong trường hợp Việt Nam sẽ là “tương lai”, vì văn học, văn hoá nước Việt trong tương lai sẽ bao gồm cái “quá khứ” đa dạng của văn học và con người hải ngoại.
Nhân đây, trân trọng cảm ơn anh Trần Doãn Nho đã để ý đến bộ biên khảo và tạo cơ hội cho chúng ta trao đổi về sinh hoạt văn học hải ngoại.
Trần Doãn Nho: Cám ơn anh đã dành thì giờ cho cuộc trò chuyện lý thú này.
Trần Doãn Nho (thực hiện)
- Trò chuyện với nhà biên khảo văn học Nguyễn Vy Khanh Trần Doãn Nho Phỏng vấn
- Vài cảm nghĩ về truyện ngắn của một cây bút mới: Ái Điểu Trần Doãn Nho Nhận định
- Vài cảm nghĩ về ‘Đời Thủy Thủ 2’ của Vũ Thất Trần Doãn Nho Nhận định
- Trò chuyện với nhà văn Nguyễn Lệ Uyên Trần Doãn Nho Phỏng vấn
- Đọc tập sách “Viết bên dòng Potomac” Trần Doãn Nho Điểm sách
- Đọc tuyển tập “Seattle, xanh mãi ngàn năm” Trần Doãn Nho Điểm sách
- Tình bạn trong văn chương Trần Doãn Nho Phiếm luận
- Tưởng nhớ Phan Xuân Sinh Trần Doãn Nho Nhận định
- Một cái gì rất Nguyễn Xuân Hoàng: Sổ tay Trần Doãn Nho Nhận định
- ‘Nghiệp’ thơ của Trần Yên Hòa Trần Doãn Nho Nhận định
• Trò chuyện với nhà biên khảo văn học Nguyễn Vy Khanh (Trần Doãn Nho)
• Nguyễn Vy Khanh: Đã Từng Có Một Nền Văn Học Việt Nam Cộng Hòa (Nguyễn Văn Sâm)
• Thử Tìm Hiểu Văn Học Từ Bên Trong Và Bên Ngoài Tổ Quốc! (Triều Hoa Đại)
• Phỏng vấn nhà văn Nguyễn Vy Khanh v/v bộ 44 Năm VHVN Hải Ngoại (Du Tử Lê)
• Văn Học Miền Nam 1954-1975 Của Nguyễn Vy Khanh: Động Cơ Thực Hiện (Trần Văn Nam)
• Nguyễn Vy Khanh (Học Xá)
- Nguyễn Vy Khanh học và viết (Luân Hoán)
- Đối Thoại với Nhà Biên Khảo Nguyễn Vy Khanh (Cát Biển)
- Văn Học Miền Nam Tự Do 1954-1975 - Nguyễn Vy Khanh (tongphuochiep.com)
• Nhà văn Trịnh Y Thư (Nguyễn Vy Khanh)
• Văn-Học Việt-Nam Hải Ngoại Đã 50 Năm
(Nguyễn Vy Khanh)
• Nguyễn Minh Nữu (Nguyễn Vy Khanh)
• Lê Hân, Nhà Thơ (Nguyễn Vy Khanh)
• Lê Hoằng Mưu, nhà tiểu thuyết tiên phong
- Văn Học Miền Nam Tự-Do 1954-1975
Bài viết đăng trên mạng:
- Học Xá - Sáng Tạo - damau.org,
• Trò chuyện với nhà biên khảo văn học Nguyễn Vy Khanh (Trần Doãn Nho)
• Câu chuyện về Giáng Sinh đầu tiên trên đất Mỹ (Nguyễn Tường Thiết)
• Viết từ hồ Sammamish (Trần Mộng Tú)
• Đời Thủy Thủ 2: Chương 13: Hải Phận Bình Thuận (Vũ Thất)
• Đời Thủy Thủ 2: Chương 12: Hải Phận Bình Thuận (Vũ Thất)![]()
Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)
Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng, Quyển Hạ
Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)
Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)
Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)
Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)
Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):
Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)
Sách Xưa (Quán Ven Đường)
Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)
(Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)
Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)
Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)
Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?
(Trùng Dương)
Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)
Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục
Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến
Đặng Tiến
20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975
Nguyễn Văn Lục
Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)
Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)
Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)
Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)
Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)
Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)
Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)
Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)
Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)
Dương Quảng Hàm (Viên Linh)
Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)
Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)
Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)
Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)
Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)
Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)
Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn
Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)
Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)
Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)
Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)
Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)
Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)
Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh
(Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)
Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)
Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn
Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)
Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An
Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)
|
© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com) |