|
|
|
|
|
VĂN HỌC |
GIAI THOẠI | TIỂU LUÂN | THƠ | TRUYỆN | THỜI LUẬN | NHÂN VẬT | ÂM NHẠC | HỘI HỌA | KHOA HỌC | GIẢI TRÍ | TIỂU SỬ |
Thơ Văn Trần Y. Hoa & Bằng hữu
Thơ Văn Trần Yên Hoà & Bằng hữu

Nhà biên khảo Trần Bích San
Tùy bút, lối viết tùy hứng mà phóng bút, là một loại văn rất phóng khoáng. Tâm viên ý mã, lan man theo dòng tư tưởng, tiện gì viết nấy, tùy suy nghĩ mà giãi bày tâm tình.
Ý nghĩ và sự tưởng tượng miên man theo ngòi bút từ việc này lan sang chuyện khác nhẹ nhàng như làn gió thoảng, như mây trời lang thang. Một buổi chiều mưa, sương mù trên sông nước, một nơi chốn kỷ niệm, sự hối hận ray rứt hay nỗi nhớ khôn nguôi... bất kỳ cảnh vật, sự việc, hay một thoáng rung động của tâm hồn cũng có thể trở thành đề tài cho tùy bút.
Tùy bút có chiều dài như truyện ngắn, vết tích việc làm văn biến đi, mất hút trong cái tương đối và trừu tượng. Truyện ngắn cần có một câu chuyện được cấu tạo cẩn thận và thuần nhất, nhưng tùy bút không cần, nó gần như truyện không có chuyện của Katherine Mansfield. Tùy bút rất gần gũi với thơ vì văn tùy bút mang nhiều chất thơ. Chữ nghĩa trong tùy bút cô đọng, đãi lọc khó khăn như lối chọn từ trong thơ.
Tùy bút không phải là ký sự hay truyện ký. Trong tùy bút có sự việc, có thực tại giống như ký sự, nhưng lại không lý đến yếu tố thời gian. Ghi chép sự việc là điều không quan trọng với tùy bút, nó không nhằm ghi nhận thực tại mà cũng chẳng cần đi sát với thực tại. Tùy bút cũng không là phiếm luận. Nó có những lý luận như phiếm nhưng là tùy hứng mà suy luận, không chủ ý biện luận. Tóm lại, tùy bút là kết hợp của các thể phiếm, bút ký, truyện ký, nhật ký, tạp ký, tạp luận, truyện ngắn và thơ
Tùy bút phóng khoáng nhưng không dễ viết, ngược lại, tùy bút khó viết nhất trong các loại văn xuôi. Chọn viết tùy bút là việc làm phiêu lưu của nhà văn bởi chỉ có 2 mặt: thành công hay thất bại.
Tùy bút không có cốt truyện nên phải viết sao cho hấp dẫn, lôi cuốn người đọc, phải thanh nhã, tự nhiên, có duyên và ý vị. Quan trọng hơn cả, tùy bút phải có nghệ thuật cao, truyện ngắn, truyện dài không hay thì vẫn là tiểu thuyết, thơ dở vẫn là thi ca, còn tùy bút thiếu nghệ thuật thì không còn là tùy bút, cũng ví như phở không có mùi phở. Đó là lý do tại sao người viết tùy bút nước tại không nhiều.
Thể tùy bút không phải chỉ mới xuất hiện gần đây trong văn học Việt Nam. Từ hậu bán thế kỷ thứ 18, Vũ Trung Tùy Bút (tùy bút viết trong mưa) của Phạm Đình Hổ được coi là tác phẩm đầu tiên viết dưới dạng sơ khai của tùy bút, ghi chép những điều tai nghe mắt thấy, hoặc theo trí nhớ, hay theo lời kể của người khác, nội dung phong phú sinh động phản ánh nhiều khía cạnh đời sống nước ta thời kỳ loạn ly vào những năm cuối của nhà Lê Trung Hưng cho đến khi Gia Long thống nhất đất nước (cuối thế kỷ thứ 18).
Đầu thế kỷ thứ 20, vào những năm 1916, 1917 Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu viết nhiều bài phiếm luận trên tờ Đông Dương Tạp Chí của Nguyễn Văn Vĩnh. Sau đó, vào thập niên 1930, Lãng Nhân Phùng Tất Đắc viết theo lối của Tản Đà nhưng sâu sắc hơn trên báo Đông Tây của Hoàng Tích Chu. Những bài văn của Tản Đà và Lãng Nhân chỉ được coi là tạp luận, tạp bút.

Phải chờ tới năm 1939, các bài tùy bút của Nguyễn Tuân với giọng tài hoa, khinh bạc xuất hiện từ số đầu tạp chí văn học Tao Đàn của nhà Tân Dân (số 1 ra ngày 01/03/1939) thì thể tùy bút mới thực sự có thế giá, chính thức trở thành thể loại riêng trong văn học Việt Nam (những bài viết này được gom lại xuất bản thành Vang Bóng Một Thời, Tùy Bút I & II).
Cùng thời với Nguyễn Tuân, trong số những tác phẩm của Thạch Lam, Hà Nội Băm Sáu Phố Phường (nxb Đời Nay, 1943) là tập tùy bút viết về sự thanh lịch những món quà của đất ngàn năm văn vật. Văn tùy bút Thạch Lam nhiều âm thanh, màu sắc, mùi vị với nhận xét tinh tế, đằm thắm của một tâm hồn lắng đọng, thiết tha, nhạy cảm và dịu dàng.
Sau hiệp định Genève 1954 ngoài Bắc vẫn chỉ có một mình Nguyễn Tuân, Phở là một bài tùy bút hiếm hoi của ông viết ở thủ đô Nga trong lúc xa nhà nhớ món ăn quên hương. Trong Nam người đọc có dịp được thưởng thức văn tùy bút của Vũ Bằng, Mai Thảo, Võ Phiến. Sau 197 lãnh vực tùy bút có thêm Hoàng Dược Thảo, Du Tử Lê,
Tùy bút Vũ Bằng thuần viết về quê hương bằng giọng nồng nàn tha thiết các món lạ trong Nam, món ngon ngoài Bắc cùng sự thương nhớ quê cũ, người vợ yêu dấu đã xa cách.
Văn tùy bút Võ Phiến chân phương, nhận xét chính xác, tỉ mỉ, tinh tế, sâu sắc pha dí dỏm, ý nhị. Võ Phiến có phong thái cẩn trọng, mực thước của một công chức, sự từng trải cũng là sự trải đời của người sống trong khuôn mẫu không phải phiêu bạt kỳ hồ.
Tùy bút Du Tử Lê mang nhiều chất thơ. Tập tùy bút Trên Ngọn Tình Sầu (nxb H.T. Productions, CA, 2011) đồng dạng với một tập thơ tự do. Sử dụng điệp văn, lập lại nhiều lần nguyên một đoạn văn dài là điểm sáng tạo của tác phẩm. Tuy nhiên, cuối cùng thì sở trường của ông vẫn là thơ, không phải tùy bút hay những thể văn khác.
Tùy bút Mai Thảo bay bướm, lãng mạn, trữ tình, đầy ắp hình ảnh, âm thanh tăng thẩm thức cảm nhận, văn phong bóng bẩy trau chuốt thấp thoáng nét làm dáng văn chương. Tùy bút Mai Thảo dạt dào nội dung siêu hình cùng những tâm thức lãng mạn, đớn đau... đọc đi đọc lại, mỗi lần đọc là mỗi lần va chạm vào một xao xuyến mới, tiếp cận với một rung động liền kề, hứng chịu một mê đắm từ những giọt mưa cường toan rát buốt sát thương hết những phiền nhung gấm, mân mê một buốt tấy mê man từ vùng yêu thương còn tưởng như gần sát ... Mai Thảo đã thả cánh bướm Trang Tử trên những nhịp nhàng chữ nghĩa, trên những cuộn xoáy ảnh hình. Sự khai phóng làm độc giả lạc lối trong một thế giới vừa thực vừa phi thực mà tác giả đã xây dựng. Đọc Mai Thảo là đi tìm lại thời gian đã mất, hay cũng có thể là chưa, là ấp ủ một cái đẹp mong manh, là “để tưởng nhớ mùi hương"…
Là người của kỷ niệm, của dĩ vãng, của "căn nhà vùng nước mặn" chợ Cồn, Hải Hậu, Mai Thảo còn là người Hà Nội, người sông Hồng, người Sài Gòn... mà lại rất Paris, rất Camus, rất Sartre.
Văn phong Mai Thảo dào dạt, mãnh liệt, đau đớn, thiết tha, đó là những chân dung: chân dung kỷ niệm, chân dung sao trời, chân dung Hà Nội, chân dung bạn văn, chân dung nụ hôn, chân dung ngọn cỏ, chân dung Cửu Long, chân dung sông Hồng, chân dung cuộc tình... Đó là những bức họa, ấn tượng, trừu tượng, siêu thực ẩn hiện trong những điệu nhạc jazz trầm uất.. Nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc nhận định về văn chương Mai Thảo:
Tôi đã bắt gặp một cái hôn thật đẹp, thật đầy, thật táo bạo, và thật quê hương, nở ra ở giữa lòng xứ Huế cổ kính, trong vườn chùa Linh Mụ, cùng với mùa mưa dầm dã đã bắt đầu. Xứ Huế của thành quách cổ cũ, của núi non lăng tẩm nghìn đời, của dòng sông thơ lờ lững. Cái hôn nở ra như một đóa mộng ướt mưa, chấp chới. Trong văn chương Việt Nam, nói riêng, và thế giới, nói chung, tôi chưa từng thấy một chiếc hỗn nào dài và đẹp đến thế, Mai Thảo cho cái hôn này kéo dài 5 trang chữ nhỏ. Ở đây, tôi chỉ trích vài đoạn đẹp và sinh động nhất. Đọc đoạn văn này, trí ta như nghe thấy khúc nhạc Tổ Khúc Bốn Mùa (The Four Seasons) của Antonio Vivaldi oà lấp trong hồn. Và hiển hiện trước mắt ta là bức tranh tuyệt đẹp Cái Hôn (The Kiss) của người hoạ sĩ tài hoa nước Áo Gustav Klimt mà nhà An Tiêm, Saigon, ngày xưa đã dùng làm mẫu bìa cho cuốn Một Thời Để Yêu và Một Thời Để Chết của E. M. Remarque. Chẳng biết bây giờ, trên nửa đời người rồi, Mai Thảo có còn nhớ đến đóa mộng cũ, ngời ướt sương mưa đó không:
"Qua hàng mi dài vút của nàng, tầm mắt Linh đụng vào một hình thể yêu dấu ở gần. Tất cả bát ngát lớn lên. Đôi mắt Phủ cũng là đôi mắt nàng long lanh vô bờ. Khoảng trũng bên sóng mũi cao của chàng như một thung lũng ngon chạy dọc theo một triền núi đẹp, miệng chàng mở hé, môi hồng sắc máu rung động. Linh thấy nở lên như một đài hoa hàm răng chàng óng ánh. Rồi tất cả bặt đi và bị nuốt chửng. Linh không nhìn thấy gì nữa. Cái hôn bắt đầu và nàng đã nhắm mắt lại. Trong một khoảng khắc thần tiên, trời đất tối đen như đêm, nàng nồng nàn hồn trả Phủ, hai người nồng nàn hôn nhau, mọi lời nói mọi ý nghĩ bị ngăn chặn lại, và trong hòa hợp truyền thấm mê đắm, trong cái hôn trao gửi khít khao kỳ diệu, Linh sống một cảm giác tột đỉnh bàng hoàng. Những hoa sao nhảy múa trong đầu nàng. Trong đầu nàng như có bóng Ngự Bình nghiêng xuống, giòng Hương Giang chảy qua, nó chảy trong một đêm ngà ngọc, kín kín, thầm thầm, nó chảy trong cái thiên đường bé nhỏ kiêu hãnh, những lớp sóng đỡ nàng lênh đênh thành một vòng hoa, những lớp sóng bao trùm nàng cho cả một rừng tóc lướt thướt chết đuối, trong đầu nàng có sự im lặng thành kính say say lả lả, có tiếng chim hót vui như tiếng hót ánh sáng ở một cửa rừng, có sự thức tỉnh sáng suốt và trong vắt của cả một đời người mà cái hôn đầu là tấm gương lớn cho nàng soi ngắm hình thù của rung động, lại có sự mê thiếp sượng sần tối tăm như nàng sắp ngã, đang ngất, nàng đang bị giết chết, giết chết bằng cái chết của men, của đường của mật nấu cất ngất ngư trong nắng. Từ miệng nàng tới đầu, bốc thoát ra một nghìn chân tóc. Từ miệng nàng tới cổ họng xuống thân thể nhẹ bổng và tay chân hững hờ không biết đặt vào đâu là sự truyền lan cực kỳ mãnh liệt của một cảm giác xa lạ, cảm giác đó như một trái chín nàng vừa rướn người hái xuống, cắn đầy miệng, ngửa cổ nuốt đầy cuống họng, nàng thở không được nữa, nàng không muốn thở mà, nàng sống không được nữa, em muốn chết mà, cái chết nghẹt thở trong hôn anh, em muốn nhìn niềm vui lạ thường oà sáng trong em, giữa anh và em. Và Linh lim dim mở mắt nhìn nàng đang hôn. Cái nhìn e dè không rõ như có mưa dầm làm mờ mờ cảnh trí hư ảo, nàng chỉ nhìn thấy những sợi mi của nàng, những sợi mi dài đang ngây ngất chết, đang mê mải nhìn nàng và Phủ hôn nhau (...) Cái hôn bất tận, kéo nàng ngã vào vùng phiêu lưu quay cuồng của cảm giác vừa tiếp nhận, vừa khám phá. Cái hôn dẫn đi. Trên những cánh đồng cỏ mùa xuân, cỏ thơm nõn như chuốt lọc ánh sáng, cỏ mềm mại như nõn nà da thịt, cỏ cao bồng tới ngực, tới đầu, đôi chân son hồng của Linh chạy mải miết, cánh đồng mùa xuân chấp chới muôn ngàn màu sắc, của bướm, của sương đang tan của nắng đang dấy, của suối chảy róc rách thành sóng vỗ hiền hoà, của trời cao mênh mông với đất dưới này được nối liền bằng thân thể nàng vươn lên thành chiếc cầu vồng bảy sắc kỳ diệu, cánh đồng mùa xuân là một hội vui vĩ đại hân hoan, Linh muốn tham lam ôm đầy tay, uống đầy hồn, nàng chỉ có một nhưng nàng muốn muôn nghìn, nàng đòi tình yêu cho nàng một đôi cánh, tình yêu cho nàng liền, nàng đòi tình yêu đi vào đôi chân cuống quýt của nàng đôi hài bảy dặm, tình yêu cũng cho nàng liền, thế là Linh bay đi, bay tới đâu cũng gặp nàng đang ra đời, đang lớn, đang yêu và đang sung sướng. Cái hôn dẫn Linh đi. Trên những con đường tình tự. Những khoảng tối ẩn ẩn hiện hiện có lợi cho những cặp tình nhân, những khoảng tối làm cho những mái tóc được kề liền, những bờ vai được tựa vào những bờ vai, những ngón tay bỗng đan thêm một vòng khăng khít. Con đường nhỏ, biệt lập với đời sống, chỉ những kẻ yêu nhau được phép đi vào. Đất thật mềm, lá thật xanh, yên lặng thật đầy, cái đẹp lắng đọng và lớn. Vừa đi Linh vừa biết, bằng những khám phá kỳ ảo. Biết thân thể không phải chỉ là cái bất động của hình hài trống không mà thân thể chỉ là giới hạn chứa đựng những cảm giác phá vỡ nó như một nhà ngục. Biết cuộc đời không phải là cái thản nhiên tháng tháng cái dửng dưng ngày ngày, nhạt nhạt đời đời kiếp kiếp và cuộc đời làm bằng những đỉnh cao vút choáng váng, những vực thẳm hun hút ghê hồn, nhưng người ta không có quyền sợ, người ta sống nghĩa là người ta dám. (Khi Mùa Mưa Tới, tr. 126-130)
Đoạn văn trên chính là biểu tượng đẹp và rõ nhất về dòng văn của Mai Thảo. Cảm xúc tràn lấp và hình ảnh thì hết sức chuốt lọc. Văn chương Mai Thảo chính là một thứ văn chương ấn tượng. Tấm gương duy mỹ và duy cảm kia, để chéo đi một chút, với một vạt nắng chiếu qua, hay với một cơn mưa phủ xuống, đã để lại những hình ảnh rất rõ nét trong mắt nhìn, trong tâm trí và trong cảm nhận người đọc.
Tùy bút Mai Thảo với những ánh văn diễm tuyệt nhất trong văn học Việt Nam, nó có thể mở ra những bãi bờ hồi tưởng, khơi lại những chói sáng hạnh phúc, đánh thức những rung động kỷ niệm cần thiết, mà trong một thu hẹp nào đó, chúng ta có thể gọi là tình yêu...và mơ mơ hồ hồ...lãng đãng chiêm bao...một áng văn để thấy lại một trời ta, biển ta, để sống lại hết thảy những vang bóng và những dư âm của một thời...
Mỗi tác gia mang phong cách riêng biệt, nhân cách của từng người rất rõ nét. Văn tùy bút có những biến thái, lúc nhẹ nhàng vắn tắt, lúc quanh co dài dòng phô diễn tư tưởng phức tạp bằng một thứ ngôn ngữ độc đáo, mới lạ.
Văn tùy bút chất chứa nhiều lôi cuốn, mê hoặc, chiều sâu các con chữ mang hình tượng, ẩn dụ luôn luôn mời gọi khám phá thích thú của người đọc.
Như thú uống trà trong sương sớm đòi hỏi từ tốn nhàn tản, văn tùy bút không thể đọc nhanh như các loại khác. Không những cần chậm rãi thư thả, người đọc còn phải đọc đi đọc lại nhiều lần mới cảm nhận đến tận cùng chữ nghĩa nghệ thuật tùy bút.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phạm Đình Hổ, Vũ Trung Tùy Bút, Nguyễn Hữu Tiến dịch và chú thích, nxb Văn Học, Hà Nội, 2001
Võ Phiến, Tùy Bút I & II, nxb Văn Nghệ, California, Hoa Kỳ 1986 & 1987
Võ Phiến, Văn Học Miền Nam, Tổng Quan, nxb Văn Nghệ tái bản lần 3, California, Hoa Kỳ, 2000
- Tùy Bút Trần Bích San Khảo luận
- Giáo Dục Quốc Gia (1945 - 1975) Trần Bích San Khảo luận
- Các Nhà Văn Nữ Chữ Việt (Chữ Nôm Và Chữ Quốc Ngữ) Trần Bích San Khảo luận
- Bài "Tựa" trong Việt Nam Văn Học Sử Trần Bích San Khảo luận
- Nguyễn Bá Trác (1881-1945) Trần Bích San Khảo luận
- Tự Lực Văn Đoàn Tập Đại Thành Chữ Văn Quốc Ngữ Trần Bích San Khảo luận
• Tùy Bút (Trần Bích San)
• Thơ - Niềm Bí Mật Một Di Sản (Nguyễn Nhã Tiên)
• Đọc Hiền Như Bụt của Hạ Long Bụt Sĩ (Đào Văn Bình)
• Cancion Triste, giai điệu nửa đêm (Cao Hoàng)
• Tiễn nhà văn Trà Lũ (Song Thao)![]()
Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)
Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng, Quyển Hạ
Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)
Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)
Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)
Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)
Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):
Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)
Sách Xưa (Quán Ven Đường)
Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)
(Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)
Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)
Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)
Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?
(Trùng Dương)
Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)
Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục
Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến
Đặng Tiến
20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975
Nguyễn Văn Lục
Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)
Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)
Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)
Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)
Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)
Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)
Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)
Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)
Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)
Dương Quảng Hàm (Viên Linh)
Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)
Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)
Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)
Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)
Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)
Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)
Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn
Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)
Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)
Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)
Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)
Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)
Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)
Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh
(Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)
Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)
Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn
Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)
Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An
Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)
|
© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com) |