1. Head_
    Hùng Lân
    (23.6.1922-17.9.1986)
    Lê Thương
    (8.1.1913-17.9.1996)
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Trần Trọng San, hải âu phi xứ (Viên Linh)

      18-8-2019 | VĂN HỌC

      Trần Trọng San, hải âu phi xứ

       VIÊN LINH
      Share File.php Share File
          

       


         Giáo sư Trần Trọng San
         (29.10.1930 - 19.8.1998)

      Giảng viên tất cả các Đại học Việt Nam, giáo sư Trần Trọng San sinh ngày 29.10.1930 tại Hà Nam, Bắc Việt, vốn là giáo sư Triết học và Văn chương trường Chu Văn An Sài gòn, tác giả nhiều biên khảo giá trị về luận lý học, Kinh Thi Trung hoa và Hán văn. Năm 1969 cuốn Văn học Trung quốc đời Chu Tần của ông được trao giải nhì Giải Văn học Toàn quốc bộ môn biên khảo. Từng là bỉnh bút cho tạp chí Thời Tập tại Sài gòn và tạp chí Khởi Hành ở hải ngoại do tác giả Viên Linh làm chủ nhiệm chủ bút.

      I. Vào một ngày tháng tám, 19.8.1998, tác giả Việt Văn Độc Bản do Bộ Quốc Gia Giáo Dục xuất bản từ 1961, dịch giả ba bộ "Đường Thi, I, II, III,” cũng là tác giả cuốn sách “Thi Pháp Thơ Chữ Hán," và bộ “Hán Việt tự điển,” giáo sư Trần Trọng San qua đời tại Canada. Ông sinh ngày 29.10.1930 ở Hà Nam, Bắc Việt Nam, lớn lên ở Hải Dương. Ông dáng người nhỏ, nơi các giảng đường Đại Học Văn Khoa, Sư Phạm, Sài Gòn, Cần Thơ, Đà Lạt, Huế (ông là giảng viên tất cả các Đại học Việt Nam), ông dễ lẫn vào với đám sinh viên. Con người ấy dung dị đến mức và âm thầm quá mức. Người ấy, đối với tôi, là một người có sức sống nội tâm vô vàn phong phú, bay bằng cánh lớn trên bao la, đêm ngày tâm sự với Thiên Cổ, đàm đạo với Thánh Hiền. Tầm mắt anh lúc nhìn cùng Đào Tiềm, khi ngó với Khuất Nguyên. (Khuất Nguyên nước Sở thời Chiến Quốc, ông vua của thơ lục ngôn. Có những ai làm thơ 6 chữ trong các thi sĩ Việt Nam?). Trưởng nam của giáo sư, anh Trần Trọng Tuyên nói sẽ chuyển cho tôi một bài khẩu thi chưa in của thân phụ anh. Tôi nóng lòng chờ đợi. Anh Trần Trọng Tuyên nói bố cháu làm bài thơ này, không có nhan đề, có thể coi là di chúc.


      Dường như rất ít khi Trần Trọng San đăng thơ mình. Anh dịch thơ người có cả nghìn bài, thơ của anh, hầu như chưa ai được đọc. Vì sao? Phải chăng, như Lý Bạch ở lầu Hoàng Hạc, thấy thơ Thôi Hiệu vịnh hạc vàng ở trên tường, anh ngại đưa thơ mình cho bá tánh? Phải chăng dịch thơ nhiều quá, anh ngại thơ mình so với thơ nghìn xưa? Nhìn cùng Khuất Nguyên với Ly Tao, anh còn nhìn cùng các thi sĩ Đời Đường, để thấy mon men với thơ là tới với miếu đền nhân loại, không phải trò múa bút của đám văn đinh. Một chữ của anh viết ra, là năm, mười chữ đã so sánh gạn lọc mà thành. Dịch cả ngàn bài, nhưng làm, chỉ rất lơ thơ. Người ấy, vào năm 1957 cho xuất bản Thơ Đường, quyển I, (Bắc Đẩu Sài Gòn xuất bản, 208 trang, đã tái bản ít nhất 5 lần), năm 1962 cho xuất bản Thơ Đường II (Bắc Đẩu, 238 trang, tái bản nhiều lần), và năm 1973 in Thơ Đường III, (Bắc Đẩu, 300 trang), là người vào lúc cuối đời, viết một cuốn sách ít ai có thể viết: “Thi Pháp Thơ Chữ Hán,” (Bắc Đẩu, Scarborough, 148 trang, 1998). Giáo sư Trần Trọng San chỉ viết cuốn sách về thơ, và kỹ thuật làm thơ, 41 năm sau khi đã dịch vài ngàn bài thơ, và làm chắc chỉ vài chục bài.


      Tôi giữ được nhiều lá thư nhỏ, ngắn gọn, viết trên giấy có kẻ dòng. Bìa thư, bao giờ giáo sư cũng lấy bút chì và thước kẻ, kẻ 3, 4 dòng mờ mờ, rồi mới lấy bút mực, viết tên và địa chỉ, như lá thư cuối cùng gửi cho tôi, đề ngày 18 tháng 6.1998. Trong ngày 17.3.1998, anh tặng tôi cuốn biên khảo mỏng, nhưng cực kỳ công phu về thơ: cuốn sách chỉ có 148 trang, nếu bỏ phần dẫn nhập 2 trang và phần lý lịch sách, thì nó chỉ còn có 128 trang nhưng tác giả đã tham khảo tới 44 tác phẩm, cả Hán văn, Pháp, Anh và Việt ngữ, để viết ra 128 trang đó. Hai ngày sau lá thư đó, là ngày 19.3.98, tác giả làm một bài thơ, chẳng khác gì một di chúc, bài Hải Âu Bên Thác Niagara Fall. Và 5 tháng sau anh trở thành Hải Âu Phi Xứ:


      Nếu như còn có kiếp mai sau

      Tôi chỉ mong làm kiếp hải âu.

      (Trần Trọng San, Hải Âu Bên Thác Niagara Fall, di cảo)


      II. Lúc này là 2 giờ chiều thứ bảy, 21.8, tức là 5 giờ chiều, giờ Gia Nã Đại. Trưởng nam của giáo sư Trần Trọng San nói với tôi đêm hôm trước:

      "Theo ý bố cháu, xác sẽ được hỏa thiêu, rồi mang tro cốt thả xuống thác Niagara. Bố cháu muốn làm chim hải âu ở đó. Ngày mai, tang lễ cử hành lúc 10 giờ sáng.”


      Bài thơ được thận trọng mở đầu bằng chữ Nếu:

      Nếu như còn có kiếp mai sau

      Tôi chỉ mong làm kiếp hải âu.


      Giáo sư Trần Trọng San vốn người thận trọng, chữ “nếu” là một từ giả định. Ngay khi viết chữ ấy, ông đã tin rằng đương nhiên đời “còn có kiếp mai sau,” tôi tin như thế. Nhưng biết đâu, ... Hơn mười ngày sau, người đi hẳn đã toại nguyện: hôm thứ tư mồng 2 tháng 9.98, nhằm ngày 12 tháng 7 âm lịch Mậu dần, tro cốt giáo sư đã được thả xuống dòng sông Niagara. Tuần trước hỏi anh Tuyên sẽ thả tro ra sao, anh Tuyên nói tro sẽ thả xuống khúc sông này, và dòng sông nhập vào thác Niagara ở quãng dưới. Khi tôi viết tiếp những dòng này, hẳn cánh chim hải âu ấy đang lượn lờ giữa khoảng mênh mông của bụi nước, tiếng thác, giữa trời mây tần thủy, ca hát với thinh không.

      KIẾP MAI SAU

      Thơ Trần Trọng San


      Nếu như còn có kiếp mai sau

      Tôi chỉ mong làm kiếp hải âu

      Sống nhởn nhơ trên dòng thác nước

      Nhìn thế gian chất ngất lo sầu


      Làm sao cho bằng kiếp hải âu

      Chẳng phải lo, phải nghĩ, phải sầu.


      Thế gian ơi!

      Vĩnh biệt mi trong kiếp mai sau.

      Hải âu ơi!

      Hẹn cùng mi ríu rít bên nhau.

      (Làm trong mơ đêm 19.3.1998)

      "Làm trong mơ” là chữ của tác giả ghi dưới bài thơ.


      III. Khoảng 1973, giáo sư Trần Trọng San viết bài Văn Học Hiện Đại Trung Quốc, Thơ Mới Trung Hoa cho tạp chí Thời Tập. Chính bài viết đó cho thấy người viết không chỉ là một giáo sư, một học giả hán văn, ông còn là một người đi sát với thời sự, ít ra là thời sự văn hóa. Không theo dõi thời sự, không thể viết được một bài như thế. “Trước lồng lộng không thời gian,” câu thơ ấy của anh, trong bài thơ khẩu khí, cũng là các tác phẩm của anh trong Văn Học Việt Nam cuối thế kỷ XX.


      IV. Các sách Trần Trọng San đã in, một số ở hải ngoại có thể tìm được, gồm có:

      - HÁN VĂN:

      Sách Tự Học Tiếng Hán Cổ (văn ngôn), Hệ Thống Chữ Hán - Lục Thư - Quy Tắc Viết Chữ - Cách tra từ điển - Các Bộ Chữ - “Tân Quốc Văn”- Trung Quốc Văn Tuyến - Trung Quốc Văn Phạm - Bảng Tra Chữ Giản Thể - (giá bán gồm cả bưu phí 24 mỹ kim)

      - BẠCH THOẠI:

      SáchTự Học Tiếng Hán Hiện Đại. Hệ Thống Thanh Âm Của Tiếng Quan Thoại (phổ thông) - Các Bài Học Cơ Bản - Đàm Thoại - Trung Quốc Hiện Đại Văn Tuyển - Ngữ Pháp Bạch Thoại. (như trên, 24 mỹ kim)

      - THƠ ĐƯỜNG:

      Tìm hiểu nguyên nhân hưng thịnh, trình bày quá trình diễn biến của thi ca đời Đường. Lược thuật tiểu truyện, tuyển dịch 274 bài thơ của 98 thi nhân thời này.

      - LÝ BẠCH, ĐỔ PHỦ, BẠCH CƯ DỊ:

      Tường thuật tiểu truyện, phẩm bình phong cách, tuyển dịch 184 bài thơ của ba thi hào đời Đường

      - THƠ TỔNG:

      Trình bày quá trình diễn biến của thơ đời Tống. Lược thuật tiểu truyện, tuyển dịch 123 bài thơ của 48 thi nhân thời này.

      - ĐƯỜNG TỐNG TỪ TUYỂN:

      Từ là lời ca của điệu nhạc, thường làm theo thể thơ trường-đoản cú. Sách trình bày tường tận về khởi nguyên của từ, quá trình diễn biến của từ, từ thời Trung Đường cho đến hết thời Nam Tống. Lược thuật tiểu truyện, tuyển dịch 171 bài của 45 từ gia đại biểu của thời kỳ này

      - HÁN VIỆT TỰ ĐIỂN (soạn chung với Trần Trọng Tuyên):

      Gồm hơn 10 ngàn chữ với thí dụ thuyết minh là những từ ngữ, thành ngữ thường dùng trong văn ngôn và bạch thoại. Bên cạnh phiên âm Hán Việt có in kèm chủ âm Trung quốc (tiếng phổ thông). Phần phụ lục gồm có Bảng tra chữ giản thể, Bảng tra chữ theo vần ABC, Bảng nêu sự tương ứng giữa phiên âm Hán Việt với chủ âm Trung quốc (xem bài điểm sách của giáo sư Đàm Trung Pháp, Khởi Hành số 21 tháng 7.98)

      - Khoảng 1961:

      VIỆT VĂN ĐỘC BẢN do Bộ Quốc Gia Giáo Dục xuất bản.

      (Viên Linh, Quận Cam, 3.9.98)


      Viên Linh

      Nguồn: Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn Việt Nam
      Nxb Khởi Hành, Hoa Kỳ, 2017



      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Núi rừng cao nguyên, dòng thơ biên cương Viên Linh Nhận định

      - Trần Trọng San, hải âu phi xứ Viên Linh Hồi ký

      - Nguyễn Sỹ Tế, người tù kiên giam Viên Linh Hồi ký

      - Hồ Trường An và bộ ký sự văn nghệ 28 tác giả Viên Linh Điểm sách

      - 25 Nhà Văn, 25 Truyện Ngắn Viên Linh Điểm sách

      - Đi tìm 100 truyện ngắn Việt Nam chọn lọc qua các tuyển tập xuất bản từ 1954 Viên Linh Điểm sách

      - Nhìn lại một tạp chí miền Nam: Hiện Đại Viên Linh Hồi ký

      - Nửa Thế Kỷ Khởi Hành, 1969-2019 Viên Linh Hồi tưởng

      - Tuệ Mai với nếp gia phong Viên Linh Hồi ký

      - ‘Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím’ của Kiên Giang Viên Linh Hồi ký

    3. Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Tô Đình Sự, Người Ngoài Chân Mây Thênh Thang

      (Ngô Nguyên Nghiễm)

      - Tô Đình Sự, Một Người Bạn (Phạm Nhã Dự)

      - Phan Nhự Thức và Quán Quảng Nam (Trần Yên Hòa)

      - Đi Tìm Thạch Trung Giả (Trùng Dương)

      - Văn-Học Việt-Nam Trong-Ngoài (Nguyễn Vy Khanh)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Tạp Văn (Nguyễn Kim Phượng)

      - Văn học miền Nam ở hải ngoại (Viên Linh)

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975: Nhận Định, Biên Khảo, Thư Tịch (Nguyễn Vy Khanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Vĩnh Phúc,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Tiêu,  Cao Đông Khánh,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Chu Tử,  Diễm Phượng,  Diên Nghị,  Doãn Dân,  Du Tử Lê,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)