Head

 

 

Poetry Translated into English

DỊCH THƠ SANG ANH NGỮ


   Thăng Long (Nguyễn Du)

   Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du)

   Hồ Hoàn Kiếm (Vô Danh)

   Thăng Long Thành Hoài Cổ (Bà Huyện Thanh Quan)

   Chiều Hôm Nhớ Nhà (Bà Huyện Thanh Quan)

   Lên Đèo Hải Vân (Huỳnh Mẫn Đạt)

   Vịnh Bức Dư Đồ Rách(Tản Đà)

:: Thăng Long (Nguyễn Du)


昇龍其一

 

傘嶺瀘江歲歲同,
白頭猶得見昇龍。
千年巨室成官道,
一片新城沒故宮。
相識美人看抱子,
同遊俠少盡成翁。
關心一夜苦無睡,
短笛聲聲明月中。
昇龍其二

 

古時明月照新城,
猶是昇龍舊帝京。
衢巷四開迷舊跡,
管弦一變雜新聲。
千年富貴供爭奪,
早歲親朋半死生。
世事浮沉休嘆息,
自家頭白亦星星。

               THĂNG LONG

 

I

 

Tản Lĩnh Lô Giang tuế tuế đồng,

Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long.

Thiên niên cự thất thành quan đạo,

Nhất phiến tân thành một cố cung.

Tương thức mỹ nhân khan bão tử,

Ðồng du hiệp thiếu tẫn thành ông.

Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy,

Ðoản địch thanh thanh minh nguyệt trung.


II

 

Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành,

Do thị Thăng Long cựu đế kinh.

Cù hạng tứ khai mê cựu tích,

Quản huyền nhất biến tạp tân thanh.

Thiên niên phú quí cung tranh đoạt,

Tảo tuế thân bằng bán tử sinh.

Thế sự phù trầm hưu thán tức,

Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh.

Nguyễn Du


              THĂNG LONG

 

I

 

Núi Tản sông Lô vẫn núi sông,

Bạc đầu còn được thấy Thăng Long.

Nghìn năm cự thất thành quan lộ,

Một dải tân thành lấp cố cung.

Người đẹp thuở xưa nay bế trẻ,

Bạn chơi thuở nhỏ thảy thành ông.

Thâu đêm chẳng ngủ, lòng thêm bận,

Địch thổi trăng trong, tiếng não nùng.


II

 

Thành mới trăng xưa, bóng tỏ mờ,

Thăng Long nghìn trước, chốn Kinh đô.

Dấu xưa khuất lấp đường xe ngựa,

Điệu mới xô bồ nhịp trúc tơ.

Danh lợi mồi ngon đua cướp giật,

Bạn bằng lớp trước sống lơ thơ.

Nổi chìm thế sự đừng than nữa,

Mái tóc mình nay cũng bạc phơ.

Quách Tấn

The City of The Soaring Dragon

 

I

 

They last year after year, both Tản and Lô.1

Gray-haired, you're back to see the Soaring Dragon.2

Old mansions buried under fresh-laid roads.

New city rising on dismantled towers.

Fair maidens? Mothers cuddling babes in arms.

Gay fops? Grave townsmen holding posts and ranks,

All night, with heavy heart, you cannot sleep.

A flute, immersed in moonlight, sighs and sings.


II

 

On this new city shines the same old moon.

It used to be the capital of kings.

Streets crisscross alleys, blurring ancient tracks.

Flutes mingle with guitars to play strange tunes.

A thousand years they've fought and warred for power.

Your friends of long ago have died by half.

The world will rise and fall-stop mourning it.

The hair on your own head is flecked with gray.

Huỳnh Sanh Thông

1. Tản and Lô: Mount Tản-Viên and the river Lô

2. Until 1831, for more than eight hundred years, Hanoi had been known as Thăng-Long (The Soaring Dragon), the capital of many Vietnamese kings. The new Nguyễn rulers destroyed the palaces of the old Lê dynasty there and moved the capital to Huế at the beginning of the nineteenth century.




:: Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du)


Thạch da, nhân da, bỉ hà nhân?

Độc lập sơn đầu thiên bách xuân.

Vạn kiếp yểu vô vân vũ mộng

Nhất trinh lưu đắc cổ kim thân.

Lệ ngân bất tuyệt tam thu vũ,

Đài triện trường minh nhất đoạn văn.

Tứ vọng liên sơn điểu vô tế,

Độc giao nhi nữ thiện vô luân.


Đá Vọng phu

 

Là đá hay người, hỏi đó ai?

Một mình trên núi tự muôn đời.

Mây mưa mộng ấy chưa hề có,

Trinh tiết thân hình giữ chẳng sai.

Dòng lệ mưa thu không ngớt chảy,

Rêu in nét triện đã thành bài.

Non xanh bốn phía trời liên tiếp,

Nhi nữ nêu gương chẳng đổi dời.

Nguyễn Quảng Tuân

[From Vol. I, pp. 173, 174, Nguyễn Du Toàn Tập (The Complete Works of Nguyễn Du), NXB Văn Học & Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học, Hà-nội, l996]


THE ROCK OF THE WAITING WIFE

 

Is that a rock? A woman? Who is she?

She's stood alone, for ages, on a peak.

Since time began she's never dreamed of lust.

Till heaven ends she'll keep her body pure.

Tear streams keep flowing down with autumn rain.

A tribute's writ indelibly in moss.

She peers about at rolling hills and hills.

One woman must uphold the moral code.

Huỳnh Sanh Thông

[From The Heritage of Vietnamese Poetry, edited and translateđ by Huỳnh Sanh Thông, Yale University Press, 1979]


Nguyễn Quảng Tuân & Huỳnh Sanh Thông dịch

(The VietnamReview 1, Autumn-Winter 1996)



:: Hồ Hoàn Kiếm (Vô Danh)


Bóng tháp lô-nhô lớp sóng cồn.

Dịp cầu nho nhỏ ghếch sườn non.

Nước trong không vẩn tăm thần kiếm.

Đường rộng còn trơ dâú tháp môn.

Kim cổ treo chung tranh thủy mặc.

Tang thương chớp nhoáng bóng hoàng hôn.

Nghìn thu suy thịnh gương còn đó.

Coi thử vừng trăng khuyết lại tròn.

Vô Danh

The Lake of The Returned Sword

 

The tower's reflection swims amid the waves. 1

A little bridge rests on a hillock's slope.

Clear water-of the magic sword, no trace. 2

Broad path-from Buddha's shrine one relic left. 3

For then and now a picture hangs on view.

Things shift and change-a flash and twilight falls. 4

The lake's still there to mirror ebb and flow.

When will the waning moon wax full again?


Note: The Lake of the Returned Sword (Hồ Hoàn Kiếm), also known simply as Sword Lake (Hồ Gươm), is in Hanoi. According to legend, it was here that King Lê Thái tổ (or Lê Lợi) returned to an aquatic spirit, the Golden Turtle (or Kim Qui), the magic sword that Heaven had lent him to drive the Ming occupation forces out of the realm in the early part of the fifteenth century.

1. That is the Tower of the Turtle (or Tháp Rùa).

2. This poem may have been composed by someone discreetly be-moaning French rule and hoping for the appearance of another Lê Lợi with a magic sword and for the recovery of national independence (a wish hinted at in the last line).

3. Near Sword Lake there used to stand a magnificent Buddhist temple.

4. This line seems to lament the sudden loss of the country to the French.


Huỳnh Sanh Thông dịch và ghi chú

(The VietnamReview 4, Spring-Summer 1998)



:: Thăng Long Thành Hoài Cổ (Bà Huyện Thanh Quan)


Tạo hóa gây chi cuộc hí trường?

Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

Nước còn cau mặt với tang thương.

Nghìn năm gương cũ soi kim cổ,

Cảnh đâý người đây luống đoạn trường.

Bà Huyện Thanh Quan

REMEMBERING THE PAST IN THĂNG-LONG

 

why did the Maker stage such drama here?

Since then, how many stars have spun and fled!

Old horse and carriage paths-faint autumn grass.

Once splendid towers and mansions-setting sun.

Rocks stand stock-still, unawed by time and change.

Waters lie rippling, grieved at ebb and flow.

From age to age, a mirror of things past:

The scene on view can break the viewer's heart.

Huỳnh Sanh Thông



:: Chiều Hôm Nhớ Nhà (Bà Huyện Thanh Quan)


Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn.

Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn.

Gác mái ngư ông về viễn phố.

Gõ sừng mục-tử lại cô-thôn.

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi.

Dặm liễu sương sa khách bước dồn.

Kẻ chốn chương đài, người lữ thứ.

Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?

Bà Huyện Thanh Quan

Thinking of Home at Dusk

 

Sunset-the sky's all blurred with shades of dusk.

A conch blares somewhere, blends with faint post drum.

Back at far havens, fishermen rest their oars.

Bound for lone hamlets, herdboys tap on horns.

Wind sweeps through woods-birds' wings wear out in flight.

Dew falls on roads-the traveler's steps make haste.

One stays at home, the other roams the world.

To whom confide what chills or warms my heart?

Huỳnh Sanh Thông



:: Lên Đèo Hải Vân (Huỳnh Mẫn Đạt)


Đồi liễu ngàn mai cảnh quạnh hiu,

Chia hai Thuận, Quảng [1] một con đèo.

Lá dòm mặt nước cây mong lội,

Biển bọc chân non sóng muốn trèo,

Mặt đất day ngang đường khuất khúc,

Sườn non dựng ngược đá cheo leo.

Vén mây muốn bước lên trên tót,

Đoái lại vầng trăng lẽo đẽo theo.

Huỳnh Mẫn Đạt

1. Thuận hóa: tên cũ chung của Quảng Trị và Thừa thiên. Quảng Hóa tức là Quảng Nam ngày nay.


Traveling in the mountains

 

Deserted scene, with plum and willow trees.

One single pass cuts Thuận and Quảng in two.

Leaves gaze at water-trees prepare to swim.

The ocean girds hills' feet-waves make to climb.

Earth throwing up barriers, trails twisting round.

Mountains erecting walls, rocks poised on high.

I part the clouds, ready to reach the top.

As I look back, I find the moon in tow.

Huỳnh Sanh Thông

[From The Heritage of Vietnamese Poetry, edited and translated by Huỳnh Sanh Thông, Yale University Press, 1979]





:: Vịnh Bức Dư Đồ Rách (Tản Đà)


Nọ bức dư đồ thử đứng coi,

Sông sông núi núi khéo bia cười.

Biết bao lúc mới công vờn vẽ.

Sao đến bây giờ rách tả tơi!

Ấy trước ông cha mua để lại,

Mà sau con cháu lấy làm chơi!

Thôi thôi có trách chi đàn trẻ,

Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi!

Tản Đà

The Tattered Map

 

Stand there and have a look at that poor map.

Its streams and hills make sorry butts for jokes.

You know how long it took to draw the map?

Why is it now all tattered and torn up?

Our fathers purchased it, left it to us-

how dare their children make a toy of it?

Oh well, it's no use blaming juveniles.

Let's all do what we must and mend the map.

Huỳnh Sanh Thông

[From An Anthology of Vietnamese Poems, edited and translated by Huỳnh Sanh Thông, Yale University Press, 1996]


ABOUT THE AUTHORS


Giáo Sư Huỳnh Sanh Thông

(Nhà Việt Nam học hàng đầu tại Hoa Kỳ)


Giáo Sư Huỳnh Sanh Thông, người từng dịch Truyện Kiều và nhiều tác phẩm văn chương Việt Nam sang tiếng Anh, vừa từ trần ngày 17/11 tại bệnh viện đại học Yale, Connecticut vì bệnh tim.

Sinh năm 1926, GS. Huỳnh Sanh Thông là một trong những người Việt Nam đầu tiên du học tại Hoa Kỳ (sau chiến tranh thế giới thứ 2). GS .Huỳnh Sanh Thông từng dạy Anh văn cho nhiều người sau này đóng nhiều vai trò quan trọng trong quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Ông từng dịch nhiều tác phẩm văn chương Việt Nam sang Anh ngữ, trong đó có Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. GS. Huỳnh Sanh Thông cũng là tác giả của 2 cuốn sách do nhà xuất bản Yale Press ấn hành. Ông từng là Giám đốc dự án Ðông Nam Á của ĐH Yale, và là sáng lập viên Diễn đàn Việt Nam và cơ sở xuất bản Lạc Việt. GS. Huỳnh Sanh Thông được giải thưởng the AAS Benda Prize năm 1981 và được học bổng MacArthur Fellowship năm 1987.



 

 

Tho

 

 

  Thơ:

 

Tứ Thơ Và Chiến Tranh: Chiến-Sự Dù Nhỏ, Cũng Đã Lưu-Dấu Trong Thơ (Trần Văn Nam)

Những Dời Đổi Địa Hình và Mối Hoài Cảm Thi Ca (Trần Văn Nam)

Đất Nước Của Ma Quỷ (Bùi Chí Vinh)

Thời Đại Tôi Đang Sống (Nguyễn Thị Thanh Yến)

Bài thơ độc vận “ơ” làm trong men rượu say (Trần Thoại Nguyên)

Đất nước mình ngộ quá phải không anh (Trần Thị Lam)

Những đôi mắt ngủ quên (Trương Đình Phượng)

Con đường mới | Mở cửa (Trương Đình Phượng)

Mưa lạnh trên đèo (Xuân Thao)

Ân Tình Mẹ (Trần Kiêm Đoàn)

Mùa Xuân Và Linh Hồn Mới (Trần Mộng Tú)

 

  Thơ Dịch:

 (Vietnamese Poetry translated into English)

 

Đàm Trung Pháp & Viên Linh dịch và chú giải:

 

Vịnh Hai bà Trưng (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)

Ăn Cỗ Đầu Người (Nguyễn Biểu)

Đoạt Sáo Chương Dương Độ (Trần Quang Khải)

Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

Thề Non Nước (Tản Đà)

Thi Nhiệt (Lý Đông A)

Vịnh Tranh Gà Lợn (Vũ Hoàng Chương)

 

Huỳnh Sanh Thông dịch:

 

Thăng Long (Nguyễn Du)

Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du)

Hồ Hoàn Kiếm (Vô Danh)

Thăng Long Thành Hoài Cổ

 (Bà Huyện Thanh Quan)

Chiều Hôm Nhớ Nhà (Bà Huyện Thanh Quan)

Lên Đèo Hải Vân (Huỳnh Mẫn Đạt)

Vịnh Bức Dư Đồ Rách (Tản Đà)

Màu Tím Hoa Sim (Hữu Loan)

Nhà tôi (Yên Thao)

Sóng (Xuân Quỳnh)

Hai Sắc Hoa Tigôn (T.T.Kh.)

 

Lê Đình Nhất-Lang & Nguyễn Tiến Văn dịch:

 

Cùng khổ (Bùi Chát)

Hoa sữa (Bùi Chát)

Bài thơ một vần (Bùi Chát)

Đèn đỏ (Bùi Chát)

Ai? (Bùi Chát)

Những người đáng trọng & những kẻ đáng khinh

 (Lý Đợi)

 

Các tác giả khác dịch:

 

Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi (Nguyễn Đình Toàn)

 (Do Dinh Tuan dịch)

Bữa Tiệc Hòa Bình (Nguyễn Thị Thanh Bình)

 (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

Từ Một Cuốn Rún (Nguyễn Thị Thanh Bình)

 (Đinh Từ Bích Thúy dịch)

Vì Người Ta Cần Ánh Mặt Trời (Nguyễn Đắc Kiên)

 (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

 

  Thơ Cổ:

 

Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào? (Trần Từ Mai)

Đọc lại một số thi phẩm của Phan Châu Trinh (Phan Thành Khương)

Nhất Chi Mai - Chất Người Muôn Thuở (Phan Trang Hy)

Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

Nguyễn Trãi Huyễn-Thực và Sắc-Không (Trần Ngọc Ninh)

Quá Phong Khê, Một Bài Thơ Kỳ Tuyệt (Phạm Khắc Hàm)

Giới thiệu Bài Thơ "Trừ Tịch" của Đặng Đức Siêu (Trần Từ Mai)

Xuân Xưa Thơ Trước, Hồn Ngàn Mùa (Viên Linh)

Bạch Đằng Giang Phú (Trương Hán Siêu)

Thuật Hoài (Phạm Ngũ Lão)

Thuật Hoài (Đặng Dung)

Lâm Cảng Dạ Bạc (Nguyễn Trãi)

Ngày Xuân Đọc "Đào Hoa Thi" của Nguyễn Trãi (Trần Uyên Thi)

Thơ Lý Bạch (Đàm Trung Pháp)

 

  Thơ Tuyển:

 

Tình yêu mẹ - Tình yêu con (Nguyễn Thu Hằng)

Lòng Mẹ (Nguyễn Bính)

Hẹn Anh Một Ngày Tái Ngộ (Ngô Minh Hằng)

Những tháng tư buồn (Nguyễn Thị Hằng)

Nỗi buồn tháng 4 (Huy Uyên)

Khởi Hành (Trần Thúc Vũ)

Quà Tặng Trong Chiến Tranh (Trần Mộng Tú)

Mã Viện (tác giả: Vô Danh) (Nguyễn Văn Ngọc)

Mẹ và sự lặng im (Trần Mộng Tú)

Thơ Về Mẹ (Nhiều tác giả)

Hai Chữ Nước Nhà (Trần Tuấn Khải)

Đói (Bàng Bá Lân)

Lời Mẹ Dặn (Phùng Quán)

Nước Tôi (Nguyễn Văn Cổn)

Thơ Tưởng Niệm Ngày 30 Tháng Tư (Nhiều tác giả)

Thơ Tình Ngày Valentine (Nhiều tác giả)

Kỷ Niệm Chiến Thắng Đống Đa (Hoàng Phong Linh)

Thơ và Câu Đối Mừng Xuân (Nhiều tác giả)

Quốc Nam, Quốc Việt (Hồ Bạch Thảo)

Bài Thơ Vô Đề Viết Trong Trại Tù Tập Trung (Tú Kếu)

Thơ Tưởng Niệm Các Anh Hùng Tử Sĩ ở Hoàng Sa (Nhiều tác giả)

Thơ Tiền Chiến (Nhiều tác giả)

Bình Giảng: Đời Đáng Chán và Tống Biệt của Tản Đà (Thạch Trung Giả)

Tây Tiến (Quang Dũng)

Đêm Liên Hoan (Hoàng Cầm)

Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Cao Tiêu)

Biên Cương Hành (Phạm Ngọc Lư)

Thơ Xuân (Nhiều tác giả)

Đồng Lầy (Nguyễn Chí Thiện)

Ta Về (Tô Thùy Yên)

Trường Sa Hành (Tô Thùy Yên)

Kịch thơ: Hận Nam Quan (Hoàng Cầm)

 

  Tục ngữ (Proverbs)

 

Tre già măng mọc

Đục nước béo cò

Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng

Gà một mẹ đá nhau

 

  Danh Ngôn

  Đố vui (Puzzles)

 
 
 
© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)