1. Head_
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Lâm Anh, dòng thơ của kẻ bị lưu đày (Nguyễn Lệ Uyên)

      14-4-2019 | VĂN HỌC

      Lâm Anh, dòng thơ của kẻ bị lưu đày

       NGUYỄN LỆ UYÊN
      Share File.php Share File
          

       


           Nhà thơLâm Anh
          (1942-12-1-2014)

      Lâm Anh sinh năm 1942 ở Quảng Ngãi. Ông thuộc thế hệ chúng tôi nhưng cách tôi một khoảng năm tháng khá xa. Biết và đọc ông khá lờ mờ và không nhiều, khi ông còn là cán bộ ngành thông tin ở một huyện nhỏ quê nhà, trong nhóm Trước Mặt của Phan Nhự Thức. Mãi tới năm 2004, tình cờ gặp ông ở Đà Lạt và tình cờ được nghe ông đọc thơ của chính ông trong bữa rượu mới nhận ra: ông có nhiều con người trong một người. Ông la đà trong men rượu và thơ la đà trong ông giữa ngọn đồi đầy cỏ hoa và đêm xuống nhập nhòa. Thật bất ngờ: bất ngờ bởi chất thơ lạ, bởi giọng đọc lạ, gần như chất giọng ấy đã lột truồng tất cả tứ trong thơ, lột truồng chính ông, lột cả màn đêm để đắm chìm vào cõi khác, bồng bềnh mênh mông… tưởng chừng như ông đang trầm mình trong đáy hồ Xuân Hương vọng lên những tiếng chép miệng não nuột một kiếp người:

      Như thể mày vừa ra khỏi núi

      chống gậy bằng vai chống trên vai

      đôi chân ngâm rượu lâu ngày ấy

      chợt rã vào tao những hớp đầy…

      Muốn thụi cho nhau đau mấy cú

      cho rã tan thêm nỗi lục bình

      nghĩ thương con nước không còn sức

      ngầu bọt vào em ở cuối đường

      Thôi tao về

      nói sao cho hết

      mặc mẹ mặt trời mọc ở đâu

      chớ mở bàn tay ra hỏi thử

      đã cầm bao nhiêu cõi nổi trôi

      (Gặp Hạ Đình Thao).

      Vậy đó, chất giọng nghẹn ngào rung lên tứ thơ lộc cộc như thể đang bước trên đoạn đường đầy gai bàn chải, móc ó… như thể ông phì hơi xé toạc màn đêm, khiến tôi càng chú ý ông nhiều hơn. Chén tạc chén thù, lân la hỏi chuyện mới hay cớ sự: ông đang là kẻ bị lưu đày ngay trên chính quê hương mình!. (Sau năm 75, ông và nhiều gia đình khác ở Quảng Ngãi bị xua ra khỏi quê, bị lùa lên vùng kinh tế mới Cát Tiên-Lâm Đồng, miền đất quanh năm ẩm ướt, muỗi mòng, rắn rít và lũ lụt nhiều hơn khoai sắn).


      Lâm Anh làm thơ nhiều, rất nhiều. Ông làm thơ trên bàn rượu, lúc vác cuốc ra rẫy hay ngồi vẩn vơ bên bờ suối (nhớ quê), ngồi trong quán cắt tóc… nên trong túi lúc nào cũng có mẩu giấy và cây bút chì gọt bằng răng, bằng móng tay. Ai thích, ông đưa luôn như thể họ là bảo tàng lưu trữ thơ cho ông. Chính sự cẩu thả này nên ông làm thất lạc không ít những bài thơ hay. Tuy vậy hiện tại ông vẫn còn 25 tập bản thảo (bạn bè lưu giữ nhiều hơn ông!) chưa nơi nào nhận xuất bản.


      Rất nhiều người và ngay cả chính tôi, đọc thơ Lâm Anh như thể đang bước vào khu rừng nguyên sinh, kín đặc những loài cây cỏ chen nhau tầng cao tầng thấp: câu chữ không trau chuốt bóng bẩy, cứ như người dân nông thôn nói chuyện đời thường, như những bà mẹ quê vừa nhổ từng cọng rau má trên bờ ruộng vừa chuyện trò to nhỏ, cốt sao câu chữ ấy cõng hết cái tứ thơ. Ví dụ như mấy câu này:


      “…Quán cóc không còn ghế trống

      ta tự ngồi vào lòng ta dư

      chòm hổm uống ly mừng cố quận

      “ta chẳng là châu cũng hiệp phố… hề”

      (về quê).


      Ông không hề và chưa hề đánh mất quê mình, chỉ có xô đẩy, cắt lìa của một thời trả đũa mới đẩy ông ra xa. Sự xa biệt, chia lìa ấy đã dựng trong ông nỗi ngậm ngùi của thứ tâm thức nhớ vọng quê hương đến cuồng:


      Thưở yêu em ái ân từ Trà Khúc

      Em không đậu thai mà ta mang thai

      Hai mươi năm đã từng chuyển bụng

      Sinh con, ta chỉ thấy toàn thơ

      (Cá bống Trà Khúc)


      Và gần hơn êm đềm, bớt cay đắng hơn:


      Mẹ đã sinh tôi từ Quảng Ngãi

      Nên hồn tôi đâu khác hồn cố hương

      (Cố hương)


      Trong thời buổi “tai trời ách nước” ngày nào, hẳn trong chúng ta những người được đọc những dòng thơ tủi cực của Lâm Anh, cũng đã từng hay ít ra cũng có những người thân quen phải gạt nước mắt ra đi về chốn khốn cùng, hoặc chí ít cũng từng nghe những âm thanh xoay buốt tim gan, một thời:

      Tiếng loa loa… xé lòng nát ruột

      Kinh-tế mới tìm áo ấm cơm no

      Mẹ đã gù lưng thêm gánh nặng

      Lên rừng vá áo giúp cho con

      Mũi kim như mũi đời tê điếng

      Mẹ nhìn trời ngỡ chiếc-áo-quan!

      (Bài ca sau ngày hòa bình).

      Ngày hòa bình ấy đâu chỉ một riêng ông mà còn “ban tặng” cho những cảnh ngộ khác:


      Có đứa ngoi lên từ cõi chết

      Trở về áo máu giữa nhà giam

      Em kiếm tìm chồng mang ruột chửa

      Đêm sầu bên núi đẻ con non

      (Bài ca sau ngày hòa bình)


      Đã đau vì cảnh bắt buộc phải ly hương, ông lại còn phải quảy cả gia tài là hồn cố hương cùng một đống chữ nghĩa cô đặc trong đầu lên Cát Tiên chồng chất tâm trạng u uẩn vì gánh gia đình, vì chén cơm manh áo, vì thế sự đẩy xô, để mãi đến tận hôm nay ông mới ngộ ra “vì sao”. Ô hay, sự “ngộ” này của ông và biết bao người khác có muộn lắm không?

      Tôi hiểu người vì sao con chết đói

      Vì sao sáng Bắc chiều Nam

      Vì sao thả lỏng đời trong rượu

      Vì sao làm thơ hơn làm quan

      Vì sao cười khóc không nhăn mặt

      Ngắm núi nhìn sông ngạo đất bằng

      (Đỗ Phủ Xuân thơ)

      Cũng khẩu khí đấy, nhưng là khẩu khí của kẻ thất cơ lỡ vận, để sau đó miên man “chìm trong đáy cốc”


      Nay xứ xa một ngày không thấy rượu

      Thì làm sao nói chuyện bạc đầu

      (Bài thơ tuổi 52)


      Hay:


      Ta đến xứ Nam, bạn qua xứ Bắc

      Bất ngờ ly rượu cũng ngược xuôi

      Đôi chặp bên đời râu tóc rụng

      Trong tay hồ hải một phen cười

      (Thư gửi Nguyễn Nhiên)


      Cuộc đời của ông gặp phải, cái nhìn của ông đụng phải những cảnh ngộ không suôn sẻ… Ông như một tội đồ bị dằn dập không bằng roi dao mà là sự chứng kiến bắt buộc, luồn thẳng vào tâm thức rồi bật thành những dòng nức nở:


      Người yêu biệt lính rồi biệt tích

      Cõng-con-là-cõng-mộ-chồng-ơi!

      (Qua chợ)


      Cứ một giọng điệu ngã nghiêng như vậy bám theo ông nghiêng ngã đất trời xứ lạ mà kẻ khác kêu là vùng đất hứa, mà chính những người cùng thời với ông bị dúi vào vùng đất trích, trở thành những kẻ tha phương cầu thực. Và thơ ông bổng trở thành thơ tha phương cầu độc!


      Mùa đông ai múc trong nồi cháo

      Những-bát-mưa-bốc-khói-đục-trời

      (Đất khách thơ)


      Và:


      Ta sờ-tay-vô-túi

      Mới hay rằng trong áo

      Có bóng chiều ải quan

      Có bóng người thua trận

      Ôm bước về hoang mang

      (Chiếc áo cũ)


      Một đời bảy chìm ba nổi như vậy, nên chi thơ ông là tiếng kêu bi thống của kiếp đọa đày. Nên chi thơ ông chỉ mới thoảng qua đã ngửi thấy toàn mùi rượu. Trách ai, chữ nghĩa của ông hay trách nhân gian?


      ________________

      • Lâm Anh, Quá Giang Thuyền Ngược, thơ, Thư Ấn Quán xb, HK 2010

      _______

      TIỂU SỬ:


      Tên thật Nguyễn Lâm Anh.

      Các bút danh khác: Nguyễn Ba La, Lâm Anh Nguyễn Ba La

      Sinh năm 1942. Trước năm 1975 là cán bộ thông tin ở Quảng Ngãi, trong nhóm Trước Mặt do Phan Nhự Thức chủ trương.

      Sau 1975 ông và cả gia đình bị đưa đi vùng kinh tế mới Cát Tiên, Lâm Đồng.

      Hiện sống tại xã Quảng Ngãi, Cát Tiên.

      Ông có trên 25 tập thơ chưa được nơi nào nhận xuất bản.

      Quá giang thuyền ngược là tập thơ duy nhất của ông do Thư Ấn Quán xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2010.


      Nguyễn Lệ Uyên

      Trang sách và những giấc mơ bay – tập I
      (Thư Ấn Quán, 2010)




      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Nguyên Minh và những khúc hoài niệm Nguyễn Lệ Uyên Nhận định

      - Lâm Anh, dòng thơ của kẻ bị lưu đày Nguyễn Lệ Uyên Nhận định

      - Bầy Chim Trước Hiên Nhà Nguyễn Lệ Uyên Truyện ngắn

      - Tưởng Nhớ Y Uyên (1943-8.1.1969) Nguyễn Lệ Uyên Hồi ức

      - Hoàng Lộc, Ngắn… Dài Tình Si Nguyễn Lệ Uyên Nhận định

      - Trần Doãn Nho Người Dẫn Nắng Đi Chơi Nguyễn Lệ Uyên Nhận định

      - Lãm Thúy, Từ Thuở Trăng Đi Nguyễn Lệ Uyên Nhận định

      - Hạc Thành Hoa, những ám ảnh trăng vàng nguyệt Nguyễn Lệ Uyên Nhận định

      - Đọc Khuất Đẩu Nguyễn Lệ Uyên Nhận định

      - Bi Khúc Của Kẻ Lưu Đày Nguyễn Lệ Uyên Nhận định

    3. Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Tiễn Trần Tuấn Kiệt, nhớ chuyện viết văn làm báo (Viên Linh)

      - Du Tử Lê (Nguyễn Vy Khanh)

      - Sa Giang Trần Tuấn Kiệt, người làm thơ lãng tử (Trần Yên Hòa)

      - Viết về Trần Phong Giao qua những sách báo sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tô Đình Sự, Người Ngoài Chân Mây Thênh Thang

      (Ngô Nguyên Nghiễm)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Tạp Văn (Nguyễn Kim Phượng)

      - Văn học miền Nam ở hải ngoại (Viên Linh)

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975: Nhận Định, Biên Khảo, Thư Tịch (Nguyễn Vy Khanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Bàng Bá Lân,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Vĩnh Phúc,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Tiêu,  Cao Đông Khánh,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Chu Tử,  Diễm Phượng,  Diên Nghị,  Doãn Dân,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)