|
|
|
|
|
VĂN HỌC |
GIAI THOẠI | TIỂU LUÂN | THƠ | TRUYỆN | THỜI LUẬN | NHÂN VẬT | ÂM NHẠC | HỘI HỌA | KHOA HỌC | GIẢI TRÍ | TIỂU SỬ |
Thơ Văn Trần Y. Hoa & Bằng hữu
Thơ Văn Trần Yên Hoà & Bằng hữu
Ngoài truyện, Ái Điểu còn làm thơ. Thơ cô không mới, không thuộc các trường phái Lãng mạn, Tượng trưng, Siêu thực, Tân hình thức… mà hầu hết gần như là những câu chuyện kể như khi cô viết truyện; chỉ khác hơn chút là những truyện-thơ ấy cô không mấy chú ý đến thẩm mỹ (esthestique) trong tu từ và hơi thiếu một chút nhạc điệu, màu sắc kiểu “thi trung hữu họa” vốn thường thấy các nhà thơ thời trước vận dụng. Những bài thơ này, nếu thêm vài chữ, bớt vài câu nó sẽ trở thành truyện và ngược lại.
Nhưng yếu tính của thơ không chỉ nhắm vào ngôn ngữ hay số lượng các từ trong câu, hay bó cứng trong thi pháp (poétique) mà các nhà thơ từ nửa cuối thế kỷ XX trở về trước sử dụng, cô chú trọng ở tầng sâu hơn: ý thơ. “Ý tại ngôn ngoại”; như nhà phê bình Đặng Tiến đã từng nhận định: “Ý trong thơ, khác với ý trong văn xuôi, ở chỗ nó không có giới hạn, không có kích thước. Tạm gọi là nó mông lung, bất định. Văn xuôi là mô tả ngoại giới hay tâm giới. Mô tả thế nào cũng được, trực tiếp hay văn vẻ, cụ thể hay trừu tượng… Trong khi đó thơ chỉ mượn của ngoại giới hay tâm giới…để nhào nặn thành một thế giới mới” (Đặng Tiến – Thơ Thi pháp&Chân dung, nxb Phụ Nữ, H. 2009). Ái Điểu đã làm được điều này.
Để khẳng định yếu tính truyện-thơ-thơ-truyện trong thơ Ái Điểu luôn song hành, xin đưa ra bài Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia như một minh chứng cho cách viết thơ-truyện của cô với hình ảnh rất đẹp ở phần đầu, là cô chị dắt cậu em nhỏ đi trên cánh đồng lúa non mơn mởn thì con gái, như thể cô sẽ dẫn dắt người đọc ngắm lại một miền quê êm đềm nào đó. Nhưng rồi cô bẻ gập lại, vẽ ra hai hình ảnh trái ngược, xộc xệch ở hai đầu lệch nhau về thời gian trên trái đất, mà lại tương đồng về số phận. Đó là một Bé Diệu đang làm một nghề không mấy lương thiện, đang sống đâu đó trong xứ sở u tối này và; người kia là David Nguyen đã vượt ra thế giới (trái với thế giới Bé Diệu) đầy ánh sáng. Nhưng khốn thay, thân phận họ không đổi thay:
“Bé Diệu đang uống ly cà-phê đen/ giá mười hai ngàn/ cà phê giả… nghe nói là có chất độc/ để khỏi ngủ gục/ chuẩn bị tiếp những người khách lạ qua đêm”.
Còn bên kia bờ đại dương, ông David Nguyen vội vã uống “ly cà phê chua như cứt mèo”. Biết là nhạt nhẽo, vô vị nhưng vẫn phải uống vì:
“Ông cần uống cà phê chua như cứt mèo để tỉnh táo phóng xe
tốc độ tám mươi lăm miles một giờ
vì phải dành dụm tiền
gởi về quê
nơi ông đã đành đoạn tìm cách thoát đi
Ông David biết là vô lý
nhưng ông vẫn phải sống trong những chiếc hộp
gần hết đời ông”.
12 giờ khuya bên này và 12 giờ khuya bên kia bờ Thái Bình dương, hai nhân vật có cách ăn hoàn toàn tương phản, nhưng phải ăn để sống, để tiếp tục nuôi dưỡng ước mơ:
“Bây giờ là mười hai giờ khuya
Bé Diệu chiên một trứng hột gà và một cây xúc-xích
nó xúc từng muỗng cơm trên cái dĩa
nhai nuốt, nạp nhiên liệu vào cơ thể
lâu lắm rồi nó không dùng chén, đũa
nó ăn vào lúc này
vì buổi chiều nó phải tiếp khách
mệt quá nên ngủ say.
Bây giờ là mười hai giờ trưa
Ông David Nguyen ăn cơm
một cái chén, một đôi đũa
một chén mắm dầm ớt nặng chanh
một dĩa cá kho keo
một dĩa bầu luộc và tô nước luộc bầu
ông không thích dùng muỗng, nĩa và thức ăn kiểu Mỹ”
(Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia)
Cả hai thân phận, ở hai bờ vực khác nhau đều bị sa lầy: một người đã “vượt qua những họng súng, bão tố, cướp biển” nhưng không thể đến được đích mơ ước, còn người kia trốn nhà ra đi nằm lăn trên tấm drap nhàu nát để có tiền xây lại căn nhà rách cho cha mẹ, cho em vào đại học và không thể trở về căn nhà xưa bởi nó “ mãi mãi là đứa con hoang đàng”. David Nguyen không khác: “…ông không thể tiếp tục đi đến đích ước mơ”.
“bây giờ ước mơ hấp hối.
Không còn chốn để trở về
nước mắt, máu, mồ hôi
mặn khô trên cồn cát lầy
cho đến hết một đời người”
Cả hai, Bé Diệu và David Nguyen đều không còn nơi chốn gọi là quê nhà để trở về một cách an yên. Tại sao?
Thế giới trong thơ cô là phận người thời hậu chiến, là những số phận bị đày đọa, bị đẩy xuống bờ vực tử sinh, là những cảnh đời không trọn vẹn; hạnh phúc và chút bình yên trở thành những món hàng xa xỉ, không với tới được!
Sự sống chết hiển hiện ngay trước mắt, rất rõ; biết nhưng vẫn phải nhắm mắt sống với cái giả đó, vì không còn con đường chọn lựa!
Cũng một cách như vậy, cô kể về mảnh Đất thừa tự, qua hình ảnh là những cây trái ngọt ngào và những lằn roi quất vào ký ức của các anh em trong một gia đình, trước những biến động của lịch sử. Đó là những cậu Sáu, cậu Út, chú Sơn, cậu Thông. Số phận và phần đời của họ là tham dự và bị gạt bỏ, là sự “cướp bóc” trắng trợn trên từng mảnh đất ông bà tổ tiên để lại cho họ: “Tôi làm sao quên, trước đêm ly hương, cậu Út âm thầm trồng một cây khế dưới mái hiên nhà. Rồi đem theo một nắm đất-đất thừa tự, và ít hạt giống”.
Mấy chục năm sau cậu Út trở về, đứng ngay trên mảnh đất cậu từng trồng cây khế trước khi ra đi:
“Rất lâu, rất nhiều năm sau, cậu Út về.
Cậu đứng trước tiền sảnh một nhà hàng-khách sạn rực rỡ ánh đèn.
Nơi đó, ngày cậu đi, là mảnh đất thừa tự.
Còn đâu mùi đất quê nhà sau cơn mưa. Còn đâu tiếng côn trùng nỉ non dưới những gốc nho.
Tất cả đã bị vùi sâu dưới lớp sàn đá bóng loáng đến độ cậu Út thấy sự cô đơn khủng khiếp của mình phản chiếu…
Giờ đây, cậu Sáu lầm lũi tồn tại trong dãy nhà trọ tồi tàn”.
Cõi trần gian từ các truyện-thơ-thơ-truyện của Ái Điểu qua lời kể luôn là những dấu hỏi như những móc câu xích ngược con người trên giá treo cổ. Đọc, ta không hề tìm thấy cỏ cây hoa lá khoe sắc, tiếng chim hót hay bóng dáng tha thướt của các kiều nữ; thậm chí cả niềm hạnh phúc riêng tư, tình yêu ngọt ngào như trái nho, trái táo… mà, toàn những vệt xám ngoét bi thương! Hình như cô cố tình tạo ra những sự va chạm ý thức bằng những lời kể và bỏ lửng, không kết luận, để người đọc tự dày vò những hình ảnh và các sự kiện cô liệt kê:
Thoát khỏi xóm trọ này
Bé Tám tức Diễm Như đi làm ôsin trên phố
bị lão chủ phó phòng dụ dỗ mang bầu
được bù mười triệu
nó lại trở về xóm trọ
Con Lan bỏ nghề làm đĩ
có chồng tận miền trung hai năm
bị mẹ chồng đuổi đi vì không thể có con
nó lại trở về xóm trọ
Thằng Sáu Sẹo cá độ đá banh
mắc nợ xã hội đen
đi cướp ngân hàng
nó thoát khỏi xóm trọ
vào tù ở sáu năm
Xe bảy chỗ tung chết chú Ba Đờn Kìm
tuần qua
Văn Thiên Tường tử nạn bên xấp vé số
con tiểu thơ mặc áo lòi vú đền hai mươi triệu
tro cốt cây đờn kìm thoát khỏi xóm trọ
về tắm trong lòng con kênh quê xưa
(Tình ca xóm trọ)
(Mở ngoặc: khổ thơ trên nếu viết liền mạch không ngắt câu, xuống hàng thì nó có khác gì một đoạn văn kể về cuộc đời mỗi nhân vật?).
Đọc hết bài Tình ca xóm trọ, sau khi cảm xúc tạm lắng xuống, quay lại ngôn ngữ thơ Ái Điểu thì nó hình như là loại ngôn ngữ của trường ca rời mảnh được ghép lại tạo nên nét riêng độc đáo, có giá trị thẩm mỹ (esthestique) từ những thông tin, sự việc được liệt kê:
Đi anh
thoát khỏi xóm ở trọ này
Em thèm được ngửi mùi biển
thèm được dẫm chân lên bờ ruộng lầy
thèm được ôm ngực anh
nghe tiếng guitar
thèm được mang bầu
có thật nhiều con
Đi anh
đi theo giấc mơ
Chúng mình trồng phi lao trên cồn cát gió bay
dựng lại nhà từ đường
mái rơm của lúa
vách tre của rừng
đào ao thả cá
hái trái khổ qua nấu nồi canh
hát lời ca dao
nuôi an lành cho con cháu mai sau
Đi anh
thoát khỏi xóm trọ này
(Tình ca xóm trọ).
Với Sáu âm vọng tự ngàn xưa, sau khi dẫn câu đầu trong bản nhạc Tình ca của Phạm Duy “tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời”, Ái Điểu đã dùng các dấu thanh trong tiếng Việt xây dựng cấu trúc cho bài thơ bằng cách sắp xếp các ý, hình ảnh, nhịp điệu… để nói về số phận của dân tộc Việt Nam trải dài theo giòng lịch sử. Sáu âm vọng hay sáu dấu thanh là một cuộc tra vấn đau thương về lịch sử, về con người bập bềnh lên xuống trong dòng “cuồng lưu” đó. Ký ức của dân tộc là những chuỗi năm tháng buồn. Lịch sử của dân tộc, nằm ngửa trên các dấu thanh là một chuỗi dài những hoài nghi, ảo tưởng, chiến tranh hủy hoại, cùng những trầm uất và đau khổ liên miên.
Khởi đầu bài Sáu âm vọng tự ngàn xưa là hình ảnh:
Trên cánh đồng giấy trắng
sáu âm vang vọng tự ngàn xưa
không chỉ là thanh âm là ký tự
mà như ký hiệu định dạng kiếp người…
Và khép lại ở cuối bài:
Không Dấu ( )
Và, hết thảy trôi về miền rỗng
không có điểm tựa
không sắc, không huyền, không hỏi, không ngã, không nặng nề vướng bận
chữ như người sương phụ tóc trắng
đứng khoả thân trắng trên tờ giấy trắng
(Mời đọc toàn bài ở phần chú thích * )
Tôi không chắc Ái Điểu có đọc Lévi-Strauss với trường phái cấu trúc (structuralisme) của ông và Jakopson hay không, nhưng xem ra, ở riêng bài thơ dẫn trên, cô đã xây dựng rất thành công đồn lũy của cô là ký ức về lịch sử của một dân tộc! Với cách viết này làm nhớ lại bài thơ Mưa rào của Nguyễn Vỹ trong tập Hoang Vu (nxb Phổ Thông, Sg 1962) cách đây 64 năm, ông sắp xếp các từ theo hình thoi: mở đầu 1 từ, rồi 2 từ, 3 từ… tăng dần lên để cuối cùng thu hẹp lại 2 từ và 1 từ. Thời đó, đọc thấy mới và lạ… nhưng các tứ trong thơ thì không bị mất đi.
Cuộc nội chiến đã khép lại hơn nửa thế kỷ nhưng vết thương vẫn vẫn mãi âm ỉ kéo dài chưa bao giờ khép miệng. Quê hương của họ không phải là quê nhà với mùi khói đốt đồng, hàng cau bụi chuối… mà là cái xóm trọ nào đó lạ hoắc, tối tăm, mù mịt! Và, ngay chính trên mảnh đất gọi là quê hương, con người cũng bị gạt ra ngoài lề xã hội, bị xem là những đứa con hoang, là con cái của những tên tội phạm. Chưa hề có sự đồng cảm, tha thứ, chưa có vòng tay ấm áp tình nghĩa đồng bào trăm trứng, găm chặt ký ức chia lìa xuống biển lên non ly cách, xa lạ…
Những câu thơ ăn chay, khao khát an lành
không hận thù, không nhóm lửa chiến tranh
vẫn sợ hãi ẩn thân trong gió cát.
Tất cả những đứa trẻ con cháu của nguỵ quyền, nguỵ quân
trên trán có dấu ấn đóng bằng sắt nung
như gia súc bị đóng dấu sau khi ra lò mổ
như người tù bị lưu đày, phát vãng
trên quê hương của chính mình.
Tôi sinh ra sau chiến tranh
nhưng không được sống hoà, bình
Tôi là búp măng non phế phẩm
(Những con chữ của ba tôi)
Hay:
Hai người lính già
mặc hai bộ quân phục khác màu
ngồi uống rượu ở cuối con hẻm sâu
như đang bị nuốt vào cổ họng của hai dãy nhà lầu.
Trời tháng Tư nóng như trong lò đang đốt lửa.
Hai cặp mắt đỏ nhìn nhau.
Một người nói: có lẽ chúng ta chết mà không nhắm mắt được.
người kia nói: chúng ta cần một lời xin lỗi với thế hệ sau
(Kịch bản lỗi)
Người đọc cũng dễ tìm thấy tầng cấu trúc thơ-truyện Ái Điểu là những ẩn dụ sâu lắng giàu cảm xúc (sentiments) nhưng rất lạnh:
Người đàn ông mang mặt nạ hiền lương muốn hôn tôi.
Tôi cũng cần nụ hôn lên đời mình.
Nhưng nụ hôn có nghĩa tình gì sau hai khuôn mặt giả.
Chúng ta phải cởi mặt nạ ra, tôi bảo.
Rất chân thành anh từ chối:
nhìn thấy mặt thật, tình yêu sẽ chết.
Tôi lẻ loi, mỏi mệt
trò chuyện với cái bóng của mình
rồi cái bóng cũng đeo mặt nạ.
Để sống mà.
Dần dà, tôi quên khuôn mặt tôi
quên luôn khuôn mặt chân thật
của loài người
(Cõi lạ)
Có thể xem Ái Điểu là một trường hợp lạ trong sinh hoạt văn học vài năm gần đây không? Theo như trao đổi qua lại, cô viết cho riêng cô, để giãi bày những cảm xúc, những dằn vặt nội tâm của mình khi hồi tưởng về một ký ức buồn hay chứng kiến những cảnh đang xảy ra đầy rẫy khổ đau rồi treo lên Fb cá nhân để cộng đồng mạng đọc và chí sẻ, không chú ý đến danh tiếng, không đăng bất kỳ trang văn chương hay báo nào nên thơ truyện của cô như một loại hoa cỏ giữa rừng sâu, chưa được phát hiện và đặt tên.
(tháng 2/2026)
_____________________
(*) SÁU ÂM
VỌNG TỪ NGÀN XƯA
“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời” (Phạm Duy)
Trên cánh đồng giấy trắng
sáu âm vang vọng tự ngàn xưa
không chỉ là thanh âm là ký tự
mà như ký hiệu định dạng kiếp người
Dấu Hỏi (?)
móc câu treo lơ lững giữa vòm họng
dân quê tôi đi bằng đôi bàn chân giao chỉ mang hình dấu hỏi
hỏi đất, đất khô khan lánh mặt
hỏi trời, trời giông bão quay lưng
phận người là hang động không có tiếng vọng
mỗi bước chân đi hoang mang nhiều nghi vấn
càng hỏi càng thấy mình rỗng tuếch
trên mộ chí còn cắm sâu một dấu hỏi lớn
mà câu trả lời chờ đến kiếp nào
Dấu Ngã (~)
Cái tôi kiêu hãnh nằm co quắp
đường cong hoang tưởng chắn ngang đời
chúng ta ngã dồn nhau, ngã đè lên lịch sử
chúng ta hò reo một ngàn lần vô địch để lãng quên một chữ nhược tiểu
cái ta tự hào hèn yếu ngã nghiêng
như cánh chim chao đảo
không hướng bay trong bão loạn thế gian
Dấu Sắc (/)
Lưỡi dao xẻ dọc bầu trời lách qua da thịt của số phận chém vào đêm tối một vệt máu tươi sắc lẻm. Quyết liệt. Đau đớn. hạnh phúc tìm thấy là thứ trang sức được mài nhọn cắt đứt những giấc mơ vừa mới tượng hình thanh kiếm mỏng chém hai bờ thực, ảo máu rỉ thành thơ dấu kín dưới tim mình
Dấu Huyền (\)
Sợi dây treo ngang cổ họng
trói buộc vào đất, vào quá khứ, vào tù đày
nét gạch chéo xuống bản án không ngày tuyên
chúng ta đi về phía trước mà hồn bị ghì lại
kéo về phía sau
bởi sợi dây mang tên sử thi nặng nề
nhân danh phép màu
buộc ngang lưng người vác bốn nghìn năm lịch sử
câm lặng, không nói được tiếng người
chuệnh choạng đi tìm độc lập, tự do
Dấu Nặng (.)
Một hòn đá tảng dưới chân chữ
rơi xuống.
mồ hôi và nước mắt và máu kết tinh lại thành một chấm đen đặc quánh
vết lún sâu trên thiên niên kỷ
dân mình để lại dấu lầm than trên mỗi bước chân đi
Không Dấu ( )
Và, hết thảy trôi về miền rỗng
không có điểm tựa
không sắc, không huyền, không hỏi, không ngã, không nặng nề vướng bận
chữ như người sương phụ tóc trắng
đứng khoả thân trắng trên tờ giấy trắng.
Ái Điểu
- Những Dấu Hỏi Trong Truyện-Thơ Ái Điểu Nguyễn Lệ Uyên Nhận định
- Ái Điểu, Cõi Lạ Văn Chương Nguyễn Lệ Uyên Nhận định
- Trần Thị NgH, viết: xạo ke , vẽ: cà rỡn Nguyễn Lệ Uyên Nhận định
- Thơ Phương Tấn Là Đồng Vọng Những Đau Thương Của Dân Tộc Nguyễn Lệ Uyên Nhận định
- Thơ Nhã Ca, một vài tư liệu nhỏ Nguyễn Lệ Uyên Nhận định
- Cảnh Cửu Và Sự Cô Đơn Đến Tận Cùng Nguyễn Lệ Uyên Nhận định
- Như Mới Hôm Qua Nguyễn Lệ Uyên Hồi ức
- Gia Tài Của Võ Hồng Nguyễn Lệ Uyên Tham luận
- Cát Bụi Mệt Mỏi, Bản Giao Hưởng Định Mệnh Của Nguyễn Đức Sơn Nguyễn Lệ Uyên Nhận định
- Tình Muộn Nguyễn Lệ Uyên Truyện ngắn
• Những Dấu Hỏi Trong Truyện-Thơ Ái Điểu (Nguyễn Lệ Uyên)
• Tết Với Người Lính Thời Xưa Cũ ! (Nguyễn Mạnh Trinh)
• Cao tuổi (Song Thao)
• Những ngựa và người đi qua đời tôi (Lê Hữu)
• Nguyễn Kiến Thiết - Nguời Giữ Ngọn Lửa Tri Thức Nam Bộ (Vũ Khắc Tế)![]()
Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)
Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng, Quyển Hạ
Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)
Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)
Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)
Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)
Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):
Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)
Sách Xưa (Quán Ven Đường)
Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)
(Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)
Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)
Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)
Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?
(Trùng Dương)
Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)
Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục
Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến
Đặng Tiến
20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975
Nguyễn Văn Lục
Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)
Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)
Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)
Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)
Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)
Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)
Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)
Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)
Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)
Dương Quảng Hàm (Viên Linh)
Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)
Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)
Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)
Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)
Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)
Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)
Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn
Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)
Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)
Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)
Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)
Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)
Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)
Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh
(Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)
Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)
Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn
Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)
Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An
Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)
|
© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com) |