Head

 

 

Phat Tong Lo Bo Van cua Ly Thuong Kiet (Vo Nga)
09-12-2012 | VĂN HỌC

Phạt Tống Lộ Bố Văn của Lý Thường Kiệt

 VÔ NGÃ dịch và bình


     Nhiều nơi từ Bắc Ninh, Thăng Long, Thanh Hóa... dựng miếu đền, bia mộ thờ cúng dương danh
Lý Thường Kiệt. Đời Lý nước Đại Việt chỉ mới
mở mang tới Nghệ An. (Trích Khởi Hành)

"Quân dân chi đạo,

vu tại dưỡng dân.

Kim văn, Tống chủ hôn dung, bất tuần thánh phạm. Thính An Thạch tham tà chi kế, tác Thanh Miêu, Trợ Dịch chi khoa. Sử bách tính cao chi đồ địa, nhi tư kỳ phì kỷ chi mưu..."

Cái vạn dân... hốt lạc na yếu ly chi độc. Tại thượng cố nghi khả mẫn...

Bản chức phụng quốc vương mệnh, chỉ đạo Bắc hành: dục thanh yêu nghiệt chi ba đào...; yếu tảo tinh uế chi ô trọc, ca Nghiêu thiên, hưởng Thuấn nguyệt chi giai kỳ.

Ngã kim xuất binh, cố tương chửng tế. Hịch văn đáo nhật, dụng quảng văn tri... Mạc hoài chấn bố."


Dịch nghĩa:


BỐ CÁO PHẠT TỐNG


... Đạo [của] vua [đối với] dân, cốt ở nuôi dân.

Nay nghe vua Tống ngu hèn, chẳng tuân theo khuôn phép thánh nhân, lại tin theo kế tham tà của An Thạch, bày ra các phép Thanh Miêu, Trợ Dịch, khiến trăm họ lầm than mà riêng thỏa cái mưu nuôi mình béo mập.


Bởi muôn dân... bỗng sa vào cảnh éo le, độc hại, [Bậc] ở trên đương nhiên cũng nên thương xót...

Bản chức vâng mệnh quốc vương, chỉ đường Bắc tiến: muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt... quét sạch nhơ bẩn hôi tanh để [nhân dân] ca ngày Nghiêu, hưởng tháng Thuấn thuở thanh bình.

Nay ta ra quân, cốt để cứu [muôn dân] khỏi nơi chìm đắm. Hịch văn truyền tới để mọi người cùng nghe... chớ có đem lòng sợ hãi."


LỜI BÀN CỦA VÔ NGÃ


1. Bối Cảnh Lịch Sử


Vào thời Tống Thành Tôn, nước Tầu quá suy nhược: phía Bắc thì bị quân Kim xâm lăng, phía Tây Bắc thì bị Tây Hạ đe doạ. Tể tướng Vương An Thạch muốn xoay đổi lại cục diện nên đã nghĩ ra một loạt những biện pháp cách mạng về kinh tế quân sự, gọi là Tân Pháp để làm cho nước mạnh dân giầu, như: thủy lợi, thanh miêu, quân thâu, bảo giáp, trợ dịch, phương điền...


Theo lý thuyết, cuộc cách mạng kinh tế rất tốt. Nhưng ở các xã hội độc tài, phản dân chủ thì đây là những dịp bằng vàng để cán bộ hút máu mủ của dân. Thành ra tiếng là làm cách mạng để giúp dân mà rút cục dân căm thù cách mạng, khinh bỉ cách mạng. Vương Ann Thạch muốn chứng minh rằng nhờ Tân Pháp mà nước Tầu đã trở thành hùng mạnh đáng nể sợ, nên đã chọn một nước nhỏ bé để phô trương sức mạnh quân sự mới có của mình, đó là Việt Nam. (!) Kết quả là Tống đại bại và Vương Ái Quốc bay chức.


2. Nguồn Gốc Bản Văn


Bài lộ bố này tìm thấy trong sách Việt Điện U Linh. Ngoài ra còn có ít ra là hai bài nữa nhưng theo phân tích của chúng ta, chỉ có bài này mới đích thực do Lý Quốc Công soạn thảo, còn các bài kia là giả mạo. Lý do là việc ta khiêu chiến với Tầu là một hành động ngang tàng vô tiền khoáng hậu trong lịch sử ngoại giao Việt, nên bài hịch gửi đến nhân dân Tầu cũng phải bộc lộ khí phách ngang tàng tương ứng qua từng dòng, từng chữ của bản văn.


Điều cần nhớ là bài hịch viết cho người Tầu trên đất Tầu đọc; được dán khắp ngang cùng ngõ hẻm của các châu Ung, Khâm, Liêm. Chắc chắn là bọn tế tác Tầu đã tức tốc mang về nộp cho vua quan Tống, khiến chúng nổi giận, quyết định đánh ta ngay tức khắc. Giận thì dễ phạm sai lầm, đó là điều mà các chiến lược gia của ta dự tính.


Nhưng tác dụng của bài lộ bố còn lâu dài hơn là cuộc chiến tranh. Thật vậy, qua giọng nói ngang tàng của bản văn, ta muốn nói cho họ biết: "Quí vị lịch sự thì ta lịch sự lại. Nhưng nếu hống hách làm tàng, ta chả nể nữa đâu..."


Bài học này vua quan Tống đã học được, chứng cớ là từ đấy cho đến lúc nhà Tống mất vào tay quân Nguyên, vua quan Tầu hết kiếm chuyện với ta.


3. Phân Tích Bài Bố Cáo


Phần đầu bài hịch kể tội Tống triều; phần sau nêu lý do cuộc Bắc phạt; phần cuối, khuyên nhân dân chớ sợ hãi.

Ta hãy đọc từng chữ từng câu để thưởng thức cái hào hùng của bài hịch.


Trong phần đầu ta không còn gọi Tầu là thiên triều; vua Tống là Tống Đế, mà gọi một cách khinh suất là Tống Chủ. Và phê bình thẳng thừng ông ta là hôn mê, lỗ độn. Nhưng mũi dùi chính chĩa vào người chịu trách nhiệm về việc đánh ta là Tể tướng Vương An Thạch. Lý Quốc Công khinh thị ông ta ra mặt khi gọi trống không là "An Thạch", như gọi một tên tiểu tốt vô danh, cả đến cái tên họ cũng không có.


Thực ra họ Vương là một người yêu nước, ngày đêm chỉ nghĩ cách làm cho dân tộc phú cường. Cái không may của ông ta là đã sinh ra vào thời mà guồng máy quan liêu thối nát từ trên xuống dưới, nên nỗ lực cách mấy cũng vô ích. Cái không may thứ hai là đã chọn lầm đối tượng để phô trương sức mạnh, nên dưới ngòi bút quét ngàn cân của Lý Quốc Công, ông ta đã thành một tên đại gian tà, hút mỡ màng của nhân dân để cho mình béo mập! (sử bách tính cao chi đồ địa, nhi tư kỳ phì chi mưu)


Đọc bài hịch của Việt Quốc Công, chắc họ Vương khó giữ được bình tĩnh và đã phạm sai lầm trong việc điều khiển chiến tranh. Đó chính là điều mà bộ tư lệnh của ta muốn.


Trong phần hai, bằng một giọng oai nghiêm của bậc cha mẹ dân, Lý Tướng Quân giảng cho dân Lưỡng Quảng biết là ông hành quân phạt Tống để cứu vớt họ! Trong một ngàn năm Bắc thuộc, chỉ có quân Tầu tự xưng là bản chức trên đất Tầu. Nay Lý Quốc Công sang Tầu để tự xưng là "Bản chức!" với dân Tầu, coi họ như dưới quyền cai trị của mình, nghe thật đã!


Đọc tiếp đến câu: "muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt..., để (nhân dân) ca ngày Nghiêu, hưởng tháng Thuấn..." nghe càng "đã" hơn, vì ta đã dùng đúng môn võ "gậy ông đập lưng ông" của Tầu. Nguyên là mỗi khi xua quân đi chiếm nước người, người Tầu luôn luôn lên mặt đạo đức giả, nào là giáo hoá các bộ lạc man di, nào là trừ kẻ phản loạn để khôi phục triều đại chính thống.


Nhà Lý đột kích Hoa Nam vì nhiều lý do, một là đánh một đòn phủ đầu để làm giặc choáng váng, hai là phá các căn cứ hậu cần, làm xáo trộn kế hoạch chiến tranh của giặc, nhưng nhất định không phải vì "Tại thượng, cố nghi khả mẫn!" như lời tuyên cáo với dân Tầu. Phần chót khuyên nhân dân nên bình tĩnh; không gì phải bàn thêm.


Vô Ngã

(Khởi Hành số 177, Tháng 7.2011)



Cung Tac Gia

Cùng Tác Giả:

 

- Tuyển Dịch Thơ Văn Cổ Phạm Khắc Hàm Biên khảo

- Sự Diệu Kỳ Của Thư Họa Phạm Khắc Hàm Biên khảo

- Gọi Hồn Thiên Cổ Phạm Khắc Hàm Tạp luận

- Gió Bão Ngoại Giao Thời Thịnh Trần và Vị Sứ Thần Lỗi Lạc Đinh Củng Viên Phạm Khắc Hàm Khảo luận

- Thanh Bình Dưới Bóng Cờ 'Thiên Triều?' Phạm Khắc Hàm Nhận định

- Quá Phong Khê, Một Bài Thơ Kỳ Tuyệt Phạm Khắc Hàm Khảo luận

- Phạt Tống Lộ Bố Văn của Lý Thường Kiệt Phạm Khắc Hàm Khảo luận

- Đặng Dung, Bậc Anh Hùng Lỡ Vận và bài thơ "Cảm Hoài" Phạm Khắc Hàm Biên khảo

 

 

Link (Tac Gia)

 

Bài viết về Văn Học

 

Từ Rosa Parks đến Nguyễn Đắc Kiên (Đinh Từ Thức)

Các Tạp Chí Văn Nghệ Miền Trung Thời Chiến Tranh (Nguyễn Lệ Uyên)

Cuốn Sách Nào Đã Ảnh Hưởng Nhiều Nhất Tới Tôi? (Viên Linh)

Vùng Tuyệt Mù Nguyễn Thị Thanh Bình (Thụy Khuê)

Nguyễn Thị Thanh Bình (Vĩnh Phúc)

Trấn Nam Quan, Cửa Ải Gắn Liền Với Dòng Sử Việt (Trần Lam Giang)

Phạt Tống Lộ Bố Văn của Lý Thường Kiệt (Phạm Khắc Hàm)

Dòng Thơ Chính Khí Việt Nam (Việt Thần)

Ghi (1954 - 1960) (Trần Dần)

Tiểu Thuyết (Võ Phiến)

Nói Chuyện về Tiểu Thuyết Việt Nam Hiện Nay (Nhiều tác giả)

Vài Tuyển Tập Truyện Ngắn Miền Nam Trước 1975 (Viên Linh)

Vài Ý Nghĩ về Truyện Ngắn (Bình Nguyên Lộc)

Mười năm Truyện Ngắn (Tam Ích)

Văn chương miền Nam thời chiến qua mắt nhìn của những bạn trẻ (Nguyệt Mai)

Thơ Hôm Nay (Nguyễn Vy Khanh)

Nỗi Nhớ Qua Một Số Tác Giả (Nguyễn Vy Khanh)

Thụy An (Lưu Thị Yến) (Vũ Ngọc Phan)

Thụy An (1916-1989) (Thụy Khuê)

Đọc một số Tuyển tập Văn chương Nữ Việt Nam sau 1975 (Nguyễn Tà Cúc)

Viết Về Tạp Chí Bách Khoa (TQBT 48)

Nguyễn Thị Thụy Vũ với Lòng Trần (Hồ Trường An)

Nguyễn Thị Hoàng với Tan Trong Sương Mù (Hồ Trường An)

Tạp-chí Bách Khoa và văn-học miền Nam (Nguyễn Vy Khanh)

Thi ca miền Nam 1954-1975 (Nguyễn Vy Khanh)

Văn Học Miền Nam Tự-Do 1954-1975 (Nguyễn Vy Khanh)

Ấn Phẩm Xám và Những Người Viết Trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

Ý Thức: Đời Sống Của Tôi (Nguyên Minh)

Mấy Suy Nghĩ Thơ (Bùi Vĩnh Phúc)

Văn Học miền Nam theo cách nhìn của Vương Trí Nhàn (Thụy Khuê)

Thạch Lam và những cái Tết thanh đạm (Vương Trí Nhàn)

Tinh thần tự do trong văn giới Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas) (Nhiều tác giả)

Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

Giai Thoại Văn Học

Giai Thoại Văn Học

 

Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

Quả Báo (T. V. Phê)

Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

 

Tác phẩm Văn Học

 

Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

        Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

 

 

Van Hoc

 

 

Tác Giả

 

Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

  Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

  Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

  Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

  Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

  Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

 (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Du Tử Lê,  Dương Nghiễm Mậu,  Duy Liêm,  Hà Thúc Sinh,  Hà Thượng Nhân,  Hàn Mặc Tử,  Hồ Đình Phương,  

 
 

 

 

© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)