1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Từ Điển Anh Việt

       

          

       

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      Thư viện Người Việt:
      NAM PHONG
      TRI TÂN
      THANH NGHỊ
      NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
       

       

    2. Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)
      09-02-2014 | THƠ

      Nam Quốc Sơn Hà

       LÝ THƯỜNG KIỆT (1019-1105)

      I. Thăng Long, tháng 7.1105 Lý Thường Kiệt Từ Trần

          VIÊN LINH

      Anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt, đại thần nhà Lý qua ba đời vua Thái tông, Thánh tông, Nhân tông, người đã đánh Tống bình Chiêm, góp công trạng phi thường xây dựng nhà Lý, từ trần tại Thăng Long, thọ 86 tuổi.

      Ông tên thật là Ngô Tuấn, hiệu là Thường Kiệt, được mang họ nhà Vua, nên thành tên Lý Thường Kiệt. Ông sinh tại Thái Hoà, một phủ của Thăng Long vào năm 1019 (gần đê Bách Thảo.)


      Là người văn võ toàn tài, mưu sự như thần, đánh Đông dẹp Bắc chiến công vang dội, năm 1077 ông đánh tan mấy chục vạn quân Tống dọc sông Cầu. Trong trận đánh tại sông Như Nguyệt ở huyện Yên Phong, Bắc Giang, ông cho một thuộc hạ có hùng khí oai phong từ trong miếu thờ Trương Hống Trương Hát đọc vang dội đêm khuya một bài thơ - mà giặc nghe thì thần hồn nát thần tính - tưởng là lời Thần Linh tự trời truyền lệnh:



      Nam quốc sơn hà Nam đế cư.

      Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

      Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm!

      Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

       

      南國山河

       

      南 國 山 河 南 帝 居
      截 然 定 分 在 天 書
      如 何 逆 虜 來 侵 犯
      汝 等 行 看 取 敗 虛

      Bài thơ này cho tới nay được ghi nhận là Bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của dân Việt, phát xuất từ thời Đại Việt.


      Các tài liệu khác cho biết cha Lý Thường Kiệt tên là An Ngữ, làm quan võ triều vua Lý Thái Tổ. Con nhà võ, Lý Thường Kiệt hẳn thửa hưởng nơi cha và các triều thần nhà Lý nhiều kiến thức từ thuở tuổi trẻ. Một trong những câu nói của ông rất được tán thưởng là "Đợi giặc đến đánh chi bằng ta đánh trước?"


      Tháng 12.1075 chính ông đã chỉ huy binh mã chiến thuyền xuất phát từ Móng Cái qua Tàu đánh thẳng vào Châu Khâm. Quan quân nhà Tống không ngờ, trở tay không kịp. Quân ta bắt sống tướng giữ thành là Trần Vĩnh Thái.


      Dùng đường biển, Lý Thái Tổ tiến đánh châu Liêm. Ba ngày sau thành này thất thủ. Trong khi đánh quân Tống, ông lại dùng văn để truyền bá mục đích cuộc chinh phạt. Với bản Phạt Tống lộ bố văn, ông đổ hết tội lỗi lên đầu Vương An Thạch. Được lòng dân Tống, quân nhà Lý tiến sâu vào Trung Hoa. Hơn một tháng sau, Lý Thường Kiệt bước vào thành Ung châu, là kinh thành mà Vương An Thạch rao truyền là không một ai có thể phá nổi.


      Cuộc phạt Tống của dân ta vừa đi vừa về mất có hơn năm tháng, hạ ba thành, và làm nhà Tống rúng động.


      Trong lịch sử nước ta, gần mười thế kỷ nay, chưa có vị tướng Việt Nam nào làm được điều Lý Thường Kiệt đã làm đối với Trung Hoa, ấy là chưa kể trong thế kỷ XX, kiêu binh Nghệ Tĩnh rêu rao cứ ra ngõ là gặp anh hùng, nhưng triều chính từ dưới lên trên cứ líu ríu bận bịu nay Bắc cống, mai Bắc lệnh, nay dâng đất, mai dâng biển mà chính sự vẫn chưa yên.

      Viên Linh (Tài liệu tổng hợp)

      Khởi Hành số 117, Tháng 7.2006


      II. Dịch Nghĩa:


      Núi sông nước Nam thì vua Nam ở,

      Cương giới đã ghi rành rành ở trên sách trời.

      Cớ sao lũ giặc bạo ngược kia dám tới xâm phạm?

      Chúng bay hãy chờ xem, thế nào cũng chuốc lấy bại vong.

      (Thơ văn Lý - Trần, tập I, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977)


      III. Dịch Thơ:


      Hòa Thượng THÍCH ĐỨC NHUẬN dịch



          Thủ bút của Hoà thượng Thích Đức Nhuận
         trong tập thơ Sáng Một Niềm Tin năm 2001
      (Nguồn: Khởi Hành số 117, Tháng 7.2006)

      1.

      Nước Việt Nam, vua Nam cai trị,

      Sách trời vạch định rõ biên cương.

      Cớ sao lũ giặc sang xâm chiếm?

      Quyết đánh không tha, buộc chúng hàng.


      2.

      Vua Nam ngự trị nước Nam ta,

      Ranh giới sách trời đã vạch ra.

      Quân giặc, cớ sao sang cướp phá?

      Bọn ngươi chuốc lấy nhục thua mà!

      Sài Gòn (trong Sáng Một Niềm Tin)

      Khởi hành 117, Tháng 7.2006

      TRẦN TRỌNG KIM dịch


      Sông núi nước Nam vua Nam ở.

      Rành rành định phận tại sách trời.

      Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?

      Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.


      NGUYỄN ĐĂNG THỤC dịch


      Sông núi nước Nam, quyền vua Nam

      Hiển nhiên Thiên định hẳn không lầm.

      Giặc bay trái mệnh đòi xâm chiếm,

      Thảm bại trông kìa, hỡi lũ tham.

      Khởi Hành số 177, tháng 7.2011


      HOÀNG XUÂN HÃN dịch


      Sông núi nước Nam, vua Nam coi.

      Rành rành phận định ở sách Trời.

      Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm!

      Bay sẽ tan tành chết sạch toi!

      (La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, Tập II, Nxb Giáo dục 1998, trang 427)


      NGUYỄN ĐỖNG CHI dịch


      Nước Nam Việt có vua Nam Việt,

      Trên sách trời chia biệt rành rành.

      Cớ sao giặc dám hoành hành?

      Rồi đây bay sẽ tan tành cho coi.

      (Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, T.II)


      LÊ THƯỚC - NAM TRÂN dịch


      Sông núi nước Nam vua Nam ở.

      Vằng vặc sách trời chia xứ sở.

      Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?

      Chúng bay nhất định phải tan vỡ.

      (Thơ văn Lý - Trần, tập I, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977)


      LAIQUANGNAM dịch


      Nước non Nam Đế Nam hùng cứ!

      Phân định sách trời xưa tỏ nay,

      Lỗ mãng! cớ sao sang lấn phạm,

      Ngữ bây thất bại chắc trong tay!

      (chimviet.free.fr/)


      NGÔ NGỌC LINH dịch


      Đất nước Đại Nam, Nam đế ngự.

      Sách trời định phận rõ non sông.

      Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm?

      Bay hãy chờ coi chuốc bại vong!

      (Xưa và Nay, số 83, tháng 1-2001)


      NGUYỄN THIẾU DŨNG dịch


      Sông núi nước Nam, Nam đế cư

      Hoàng thiên đã định tại thiên thư

      Cớ sao giặc Bắc sang xâm phạm

      Gươm bén phanh thây bay nát nhừ.

      (nhavantphcm.com.vn/)


      LÊ NAM dịch


      Vua nước Việt trị vì đất Việt,

      Sách nhà Trời đã định phân minh.

      Giặc thù nghịch mệnh sang xâm chiếm,

      Chắc chắn mười phần thảm bại binh!

      Học Xá sưu tập

      Tháng 2.2014



    3. Tho

       

       

        Thơ:

       

      Thơ trích từ tạp chí THẾ ĐỨNG số 2 - Xuân Canh Tuất (1970) (Nhiều tác giả)

      Khát Vọng (Trần Yên Hòa)

      Chất Thơ Do Cảm Nhận Vài Kiến Thức Về Tư Tưởng Của Kant Và Hegel (Trần Văn Nam)

      Các Bài Thơ Nôm Đầu Tiên Trong Văn Học Chữ Nôm (Tuệ Chương)

      Đi Tìm Đường Bay Ưu Việt Của Thi Ca (Thái Tú Hạp)

      Tứ Thơ Và Chiến Tranh: Chiến-Sự Dù Nhỏ, Cũng Đã Lưu-Dấu Trong Thơ (Trần Văn Nam)

      Những Dời Đổi Địa Hình và Mối Hoài Cảm Thi Ca (Trần Văn Nam)

      Đất Nước Của Ma Quỷ (Bùi Chí Vinh)

      Thời Đại Tôi Đang Sống (Nguyễn Thị Thanh Yến)

      Bài thơ độc vận “ơ” làm trong men rượu say (Trần Thoại Nguyên)

      Đất nước mình ngộ quá phải không anh (Trần Thị Lam)

      Những đôi mắt ngủ quên (Trương Đình Phượng)

      Con đường mới | Mở cửa (Trương Đình Phượng)

      Mưa lạnh trên đèo (Xuân Thao)

      Ân Tình Mẹ (Trần Kiêm Đoàn)

      Mùa Xuân Và Linh Hồn Mới (Trần Mộng Tú)

       

        Thơ Dịch:

       (Vietnamese Poetry translated into English)

       

      Đàm Trung Pháp & Viên Linh dịch và chú giải:

       

      Vịnh Hai bà Trưng (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)

      Ăn Cỗ Đầu Người (Nguyễn Biểu)

      Đoạt Sáo Chương Dương Độ (Trần Quang Khải)

      Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

      Thề Non Nước (Tản Đà)

      Thi Nhiệt (Lý Đông A)

      Vịnh Tranh Gà Lợn (Vũ Hoàng Chương)

      Gọi Hồn (Viên Linh)

       

      Huỳnh Sanh Thông dịch:

       

      Thăng Long (Nguyễn Du)

      Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du)

      Hồ Hoàn Kiếm (Vô Danh)

      Thăng Long Thành Hoài Cổ

       (Bà Huyện Thanh Quan)

      Chiều Hôm Nhớ Nhà (Bà Huyện Thanh Quan)

      Lên Đèo Hải Vân (Huỳnh Mẫn Đạt)

      Vịnh Bức Dư Đồ Rách (Tản Đà)

      Màu Tím Hoa Sim (Hữu Loan)

      Nhà tôi (Yên Thao)

      Sóng (Xuân Quỳnh)

      Hai Sắc Hoa Tigôn (T.T.Kh.)

       

      Lê Đình Nhất-Lang & Nguyễn Tiến Văn dịch:

       

      Cùng khổ (Bùi Chát)

      Hoa sữa (Bùi Chát)

      Bài thơ một vần (Bùi Chát)

      Đèn đỏ (Bùi Chát)

      Ai? (Bùi Chát)

      Những người đáng trọng & những kẻ đáng khinh

       (Lý Đợi)

       

      Các tác giả khác dịch:

       

      Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi (Nguyễn Đình Toàn)

       (Do Dinh Tuan dịch)

      Bữa Tiệc Hòa Bình (Nguyễn Thị Thanh Bình)

       (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

      Từ Một Cuốn Rún (Nguyễn Thị Thanh Bình)

       (Đinh Từ Bích Thúy dịch)

      Vì Người Ta Cần Ánh Mặt Trời (Nguyễn Đắc Kiên)

       (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

       

        Thơ Cổ:

       

      Cảnh Đẹp Thành Thăng Long Thời Tây Sơn Qua Thi Ca Đoàn Nguyễn Tuấn (Phạm Trọng Chánh)

      Chinh Phụ Ngâm diễn nôm, một dịch phẩm thần kỳ (Đàm Trung Pháp)

      Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào? (Trần Từ Mai)

      Đọc lại một số thi phẩm của Phan Châu Trinh (Phan Thành Khương)

      Nhất Chi Mai - Chất Người Muôn Thuở (Phan Trang Hy)

      Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

      Nguyễn Trãi Huyễn-Thực và Sắc-Không (Trần Ngọc Ninh)

      Quá Phong Khê, Một Bài Thơ Kỳ Tuyệt (Phạm Khắc Hàm)

      Giới thiệu Bài Thơ "Trừ Tịch" của Đặng Đức Siêu (Trần Từ Mai)

      Xuân Xưa Thơ Trước, Hồn Ngàn Mùa (Nhiều tác giả)

      Bạch Đằng Giang Phú (Trương Hán Siêu)

      Thuật Hoài (Phạm Ngũ Lão)

      Thuật Hoài (Đặng Dung)

      Lâm Cảng Dạ Bạc (Nguyễn Trãi)

      Ngày Xuân Đọc "Đào Hoa Thi" của Nguyễn Trãi (Trần Uyên Thi)

      Thơ Lý Bạch (Đàm Trung Pháp)

       

        Thơ Tuyển:

       

      Thủy Tang (Viên Linh)

      Khói Trắng (Kiên Giang)

      Tình yêu mẹ - Tình yêu con (Nguyễn Thu Hằng)

      Lòng Mẹ (Nguyễn Bính)

      Hẹn Anh Một Ngày Tái Ngộ (Ngô Minh Hằng)

      Những tháng tư buồn (Nguyễn Thị Hằng)

      Nỗi buồn tháng 4 (Huy Uyên)

      Khởi Hành (Trần Thúc Vũ)

      Quà Tặng Trong Chiến Tranh (Trần Mộng Tú)

      Mã Viện (tác giả: Vô Danh) (Nguyễn Văn Ngọc)

      Mẹ và sự lặng im (Trần Mộng Tú)

      Thơ Về Mẹ (Nhiều tác giả)

      Hai Chữ Nước Nhà (Trần Tuấn Khải)

      Đói (Bàng Bá Lân)

      Lời Mẹ Dặn (Phùng Quán)

      Nước Tôi (Nguyễn Văn Cổn)

      Thơ Tưởng Niệm Ngày 30 Tháng Tư (Nhiều tác giả)

      Thơ Tình Ngày Valentine (Nhiều tác giả)

      Kỷ Niệm Chiến Thắng Đống Đa (Hoàng Phong Linh)

      Thơ và Câu Đối Mừng Xuân (Nhiều tác giả)

      Quốc Nam, Quốc Việt (Hồ Bạch Thảo)

      Bài Thơ Vô Đề Viết Trong Trại Tù Tập Trung (Tú Kếu)

      Thơ Tưởng Niệm Các Anh Hùng Tử Sĩ ở Hoàng Sa (Nhiều tác giả)

      Bình Giảng: Đời Đáng Chán và Tống Biệt của Tản Đà (Thạch Trung Giả)

      Thơ Tiền Chiến (Nhiều tác giả)

      Tây Tiến (Quang Dũng)

      Đêm Liên Hoan (Hoàng Cầm)

      Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Cao Tiêu)

      Biên Cương Hành (Phạm Ngọc Lư)

      Thơ Xuân (Nhiều tác giả)

      Đồng Lầy (Nguyễn Chí Thiện)

      Ta Về (Tô Thùy Yên)

      Trường Sa Hành (Tô Thùy Yên)

      Kịch thơ: Hận Nam Quan (Hoàng Cầm)

       

        Tục ngữ (Proverbs)

       

      Tre già măng mọc

      Đục nước béo cò

      Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng

      Gà một mẹ đá nhau

       

        Danh Ngôn

        Đố vui (Puzzles)

       
       
  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)