1. Head_
    Thái Tuấn
    (11.9.1918-26.9.2007)
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Tâm huyết Tản Đà trong “Thề non nước” (Đàm Trung Pháp)

      19-8-2020 | THƠ

      Tâm huyết Tản Đà trong “Thề non nước”

       ĐÀM TRUNG PHÁP
      Share File.php Share File
          

       


           Thi sĩ Tản Đà  (1889 - 1939)

      Tản Đà là bút hiệu của thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939). Bút hiệu là sự kết hợp của tên một ngọn núi (Tản) với tên của một con sông (Đà), hai dấu mốc nổi tiếng của sinh quán nhà thơ. Sinh ra trong một gia đình nho học và quan trường, ông là một móc nối giữa hai thời đại quan trọng của văn học Việt Nam – truyền thống nho học của thế kỷ 19 và ảnh hưởng tây phương của đầu thế kỷ 20.


      Suốt đời là một nhà báo, nhà thơ, và nhà văn, Tản Đà từng là chủ nhiệm của Hữu Thanh Tạp ChíAn Nam Tạp Chí. Thêm vào đó, hai tạp chí bậc nhất thuở ấy là Đông Dương Tạp Chí (của Nguyễn Văn Vĩnh) và Nam Phong Tạp Chí (của Phạm Quỳnh) đều mời Tản Đà hợp tác vì uy tín to lớn của ông. Là một nhà thơ, ông là tác giả của các tuyển tập như Khối Tình Con I, II, IIITản Đà Xuân Sắc. Và ông cũng viết các tác phẩm văn xuôi Giấc Mộng Con I, II, IIITản Đà Văn Tập.


      Trong những bài viết cho báo chí cũng như cho thi ca và văn xuôi, Tản Đà luôn trung thành với nhân sinh quan cá nhân của mình, đặc biệt là thuyết thiên lương. Ông thuyết phục dân chúng nuôi dưỡng, phát triển và thực hành đức tính bẩm sinh ấy để sống một cuộc đời đáng sống hơn. Những ước nguyện ấm lòng của thiên lương cũng như tâm huyết đối với đất nước của ông ngập tràn trong bài thơ Thề non nước.


      Xin ghi lại tuyệt tác ấy dưới đây, cùng với các cước chú theo sự hiểu biết và suy luận hạn hẹp của người viết:

      THỀ NON NƯỚC [1]


      Nước non nặng một lời thề [2]

      Nước đi, đi mãi, không về cùng non

      Nhớ lời nguyện nước thề non

      Nước đi chưa lại, non còn đứng không


      Non cao những ngóng cùng trông [3]

      Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày

      Xương mai một nắm hao gầy

      Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương


      Trời tây ngã bóng tà dương [4]

      Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha

      Non cao tuổi vẫn chưa già

      Non thời nhớ nước, nước mà quên non


      Dù cho sông cạn đá mòn [5]

      Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa

      Non cao đã biết hay chưa

      Nước đi ra bể lại mưa về nguồn


      Nước non hội ngộ còn luôn [6]

      Bảo cho non chớ có buồn làm chi

      Nước kia dù hãy còn đi

      Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui


      Nghìn năm giao ước kết đôi [7]

      Non non nước nước không nguôi lời thề

      CƯỚC CHÚ

      [1] Tuyệt tác này được dân chúng yêu mến vì nó cho thấy tâm huyết của Tản Đà đối với đất nước, một chủ đề mà ông cũng tỏ bầy trong những tác phẩm khác. Trong bài Vịnh bức dư đồ rách, ông than vãn cay đắng về sự chuyển hóa đất nước một thời lộng lẫy của ông ra thành một đất nước rách nát tả tơi, mà ẩn dụ là một tấm bản đồ cùng tình trạng rách nát; rồi ông muốn biết tại sao ta ở trong trạng huống này: “Sao đến bây giờ rách tả tơi?” Trong bài Đêm tối, ông tự hỏi “Kiếm đâu cho thấy mặt anh hùng?” (để có thể giải thoát đất nước khỏi gông cùm người Pháp)? Bài Thề non nước là một phần của câu chuyện (cùng mang tên) viết về cuộc tình lãng mạn giữa Tản Đà và một ca nhi. Thi sĩ ví mình như dòng nước sông trôi đi mãi, khiến cho cô ca nhi mỏi mắt trông chờ ngày chàng trở lại. Tuy vậy, nhà thơ không quên lời thề giữa hai người mà còn hứa sẽ một ngày tái ngộ. Lời thề ấy hàm ý lòng trung trinh của Tản Đà đối với quê hương – rằng ông sẽ trở về để vá lại “bức dư đồ rách tả tơi” và phục hưng một đất nước đang phai lạt “dưới ánh tà dương.”


      [2] Bài thơ có một cấu trúc rõ rệt và chặt chẽ. Đoạn mở đầu nêu lên một bi kịch tình cảm, như thể báo trước sắc thái chung cho toàn bài. Các đoạn còn lại lần lượt nói lên (a) sự nóng lòng chờ đợi của ngọn núi dành cho dòng sông, (b) lời giải thích sự vắng mặt và sự có thể trở về của dòng sông, và (c) lời nhắc nhở rằng dòng sông và ngọn núi sẽ không thể rời nhau, một khi họ đã “nghìn năm giao ước kết đôi.”


      [3], [4] Trong hai đoạn này, để nhấn mạnh mức chán chường của ngọn núi sau khi đã chờ mong vô vọng sự trở về của dòng sông, Tản Đà đã dùng một thi ngữ êm tai và vui mắt (tuy có phần ước lệ) để lột tả sự cô đơn và mức tàn phá của thời gian dài chờ đợi lên nội tâm và ngoại hình của ngọn núi. Những từ kép “sương mai, hao gầy, tóc mây” cũng như cụm từ “đã đầy tuyết sương” mô tả một sắc đẹp đang dần dần lạt phai. Đồng thời, các từ đơn “mây, sương, tuyết” cũng rất phù hợp để tả cảnh núi. Hai từ kép “vẻ ngọc” và “nét vàng” trong đoạn ba hàm ý nhan sắc của người phụ nữ vẫn tồn tại mặc cho sự tàn phá của thời gian. Câu chót của đoạn ba – “non thời nhớ nước, nước mà quên non” – là một tiếng lòng vừa đam mê vừa oán trách từ trái tim ngọn núi gửi đến dòng sông. Tiếng lòng ấy đã được đáp ứng bởi một câu trả lời tích cực từ dòng sông. Xin xem thêm cước chú [7] ở cuối bài viết.


      [5], [6] Hai đoạn này, ngoài việc nhắc nhở đến sự vĩnh cửu cùa lời thề núi-sông, còn mang lại tin vui, căn cứ vào sự giải thích khoa học về chu kỳ luân lưu của nước trong thiên nhiên – nước sẽ trở lại dưới hình thức mưa là một điều chắc chắn. Cũng ấm lòng cho ngọn núi là lời dòng sông an ủi và khuyến khích ngọn núi hãy vui lên vì sông và núi sẽ còn gặp nhau.


      [7] Hai câu chót này đã kết thúc bài thơ bằng sự xác quyết lại lời thề “giao ước ngàn năm” giữa sông và núi. Ta cũng có thể hiểu lời thề này như một quyết tâm của những người Việt yêu nước đấu tranh để lấy lại độc lập cho tổ quốc. Và do đó, nếu ngọn núi tượng trưng cho những người ở lại, thì dòng sông là ẩn dụ cho những người phải đi xa để (cùng với những người ở lại) đạt được một mục tiêu chung rất là cao cả.


      Đàm Trung Pháp

      diendantheky.net



      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Lá thư chủ biên Ấn Bản Sept 15, 2020 Tập San Việt Học Đàm Trung Pháp Giới thiệu

      - “Nước non ta, ai ngăn trở ta về …” (Lý Đông A, 1943) Đàm Trung Pháp Nhận định

      - Tâm huyết Tản Đà trong “Thề non nước” Đàm Trung Pháp Nhận định

      - Hiệu Lực Của Ví Von Trong Thi Ca Đàm Trung Pháp Nhận định

      - “Mỹ Ngữ” Và “Anh Ngữ” Khác Nhau Thế Nào? Đàm Trung Pháp Anh ngữ

      - Từ Điển Nhân Danh Địa Danh & Tác Phẩm VHNT Trung Quốc -Hoàng Xuân Chỉnh Đàm Trung Pháp Giới thiệu

      - The 12 Verb Tenses Đàm Trung Pháp Anh ngữ

      - Thành Ngữ Tiếng Anh Kỳ 12 – [271-290] Đàm Trung Pháp Anh ngữ

      - Giới thiệu sách "Khói Sóng Trên Sông" của Nguyễn Văn Sâm Đàm Trung Pháp Giới thiệu

      - Run-On-Sentence (Câu Chạy tuốt luốt) Đàm Trung Pháp Anh ngữ

    3. Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Mưa trong thơ Nguyễn Xuân Thiệp

      (Trần Thị Nguyệt Mai)

      - Nhật Tiến Vẫn Đứng Ở Ngoài Nắng (Mai Thảo)

      - Tình Quê Tường Thuật Và Tình Quê Thăng Hoa Trong Thi Ca (Qua Thơ Đạm Thạch) (Trần Văn Nam)

      - Từ Huỳnh Phan Anh đến Diễm Châu: Văn chương và thời thế (Nguyễn Mạnh Trinh)

      - Từ Huỳnh Phan Anh đến Diễm Châu: Văn chương và thời thế (Nguyễn Mạnh Trinh)

        Giai Thoại Văn Học

       

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Tạp Văn (Nguyễn Kim Phượng)

      - Văn học miền Nam ở hải ngoại (Viên Linh)

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975: Nhận Định, Biên Khảo, Thư Tịch (Nguyễn Vy Khanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      An Khê,  Bàng Bá Lân,  Bích Khê,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Bích Hà,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Vĩnh Phúc,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Thoại Châu,  Cao Tiêu,  Cao Đông Khánh,  Chu Thiên,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)