1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Tự Điển:

      Việt-Anh-Pháp
      Hán Nôm

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      NAM PHONG - TRI TÂN
      THANH NGHỊ - NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21 - BÁCH KHOA
       

      Sách Xưa

       

      QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ:
      - Lớp Sơ Đẳng - Lớp Đồng Ấu
      - Lớp Dự Bị
       

       

    2. Trần Lê Nguyễn, Một Linh Hồn Kịch (Viên Linh)

      8-7-2018 | VĂN HỌC

      Trần Lê Nguyễn, Một Linh Hồn Kịch

       VIÊN LINH

      Trần Lê Nguyễn tên thật Nguyễn Huy Tạo, người Sơn Tây, sinh năm 1923 (có nơi viết 1924), từng đi kháng chiến chống Pháp và tới 1953 bỏ vào Sài gòn, xuất hiện trên tạp chí Sáng Tạo bộ cũ bằng những bài phê hình kịch nghệ (Thành Cát Tư Hãn của Vi Huyền Đắc), phim ảnh (Đất Lành), và thơ, hay tạp bút. Thành lập ban kịch Đêm Hà Nội song chưa dựng được vở nào. Nhiều thơ, kịch đăng trên các tạp chí Thế Kỷ Hai Mươi, Văn Nghệ, Thời Tập. Lập gia đình rất muộn với một nữ tu xuất. Ông mất tại Trường đua ngựa Phú Thọ ngày 7.7.1999.


          Kịch tác gia Trần Lê Nguyễn
          (1923-7.7.1999)

      Trần Lê Nguyễn là một kịch tác gia nổi tiếng không thua gì Vũ Khắc Khoan, Vi Huyền Ðắc, ngay thập niên ’50 những vở kịch của ông như Bão Thời Ðại, Quán Nửa Khuya hay Ðêm Ba Mươi đã được nhắc nhở, được trao Giải Văn Chương Toàn Quốc bộ môn kịch, tuy rằng những vở này chỉ mới đăng trên các tạp chí, hay trình diễn trên làn sóng điện các đài phát thanh, mà chưa từng được dựng trên sân khấu.


      Thính giả nghe thoại kịch dù nghe ngang ở khúc giữa cũng có thể đoán đó là kịch Trần Lê Nguyễn bởi đối thoạt rất chọn lọc, lúc nào cũng đầy xung đột, mâu thuẫn, giọng nữ phải là gái Hà Nội, giọng nam phải là một trí thức nghệ sĩ, vai chính thường là đạo diễn hay họa sĩ, và âm thanh bố trí tới hai ba tầng, tiếng ly tách lanh canh va chạm cùng tiếng cười, hay hơi thở, và một điệu nhạc hòa âm xen vào đúng lúc, chúng tôi nghe và biết đó là kịch của “anh ba họ.” [Trần Lê Nguyễn]. Ngoài đời đạo diễn không là ai khác, chính tác giả Trần Lê Nguyễn, và họa sĩ không là ai khác, chính là Ngọc Dũng người bạn thân của anh.


       

      Từ trái sang: Duy Thanh, Trần Lê Nguyễn, Thanh Tâm Tuyền, Ngọc Dũng, hình chụp năm 1960.


      Song song với kịch ông còn có thơ, thơ mới hay thơ tự do, đặc biệt thơ ông có địa vị trên các tạp chí văn học lớn như Sáng Tạo, Thế Kỷ Hai Mươi, Văn Nghệ.

      Saigon Mưa


      Ðế giày tôi lủng hai bên

      Những chiều Saigon mùa mưa như chiều nay

      tôi đi bằng gót qua nhiều lề đường đọng nước

      Ðĩa nhạc quay tròn quay tròn

      âm thanh nổi

      Tờ báo buổi chiều loan tin chiến sự xứ Lào

      Mưa lại rơi

      như tháng bảy mưa rơi ngoài Bắc

      Hà Nội không còn


      Sáng qua tôi gặp cô gái phố Hàng Ngang

      Ngoài kia đâu còn Hà Nội

      Có những người chết đi mất xác bên Cầu Kiệu

      Con đường hành quân thủa trước vắt qua Dốc Mơ gặp mộ người nữ cứu thương Thái

      – mortier Tây bắn ở Tuy Hòa chết không hay đâu còn Hà Nội


      Tôi trú mưa đầu phố

      Giày tôi vào nước từ lâu

      Gió tạt quán rượu góc đường Charner thủa trước

      Ly rượu anh thủy thủ trên đất liền


      Người đàn bà Pháp chờ taxi cô độc

      Ðây không là Paris

      Sao tin chiến sự Vientiane làm nhớ thương Hà Nội

      Sao Hà Nội nhắc những người chết đi

      Tôi đi nhận lá thư không đến chiều nay

      Sao lại gặp Sài gòn mưa như trời mưa xứ Bắc.

      (Trần Lê Nguyễn, Thế Kỷ Hai Mươi, 1960) (1)

      Khoảng 1955 người viết bài này đã được đọc tạp chí Mùa Lúa Mới xuất bản tại miền Trung, tờ báo dầy dặn, bài vở chọn lọc đậm màu sắc kháng chiến, bởi các tác giả góp mặt phần lớn là những người cựu kháng chiến: Nguyễn Văn Xuân, Trần Lê Nguyễn, Võ Thu Tịnh,… sau này cũng đã được gặp hay nói chuyện với họ, và đọc họ nhiều hơn. (2) Hôm 18 tháng 4, 2015, tình cờ tôi lại nhìn thấy tên một trong những tay cựu kháng chiến này – Trần Lê Nguyễn – trong phim Ðất Khổ do Hà Thúc Cần đạo diễn dựa trên phân cảnh truyện phim cùng nhan đề của Hà Thúc Như Hỷ, trình chiếu lúc 3 giờ tại rạp Ultraluxe thuộc thành phố Garden Grove, trong khuôn khổ Viet Film Fest. Thấy lại mấy khuôn mặt bạn bè khác trong phim: nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà, nhà văn Sơn Nam và chiếc xích lô máy. Trần Lê Nguyễn chỉ góp phần trong sở trường của nhà viết kịch.

       

      Người viết bài này có kể cho tác giả Như Hỷ nghe, tháng 10, 1975, tôi có gặp người phi công Mỹ mua cuốn phim Ðất Khổ của Hà Thúc Cần, và làm việc ba ngày tại căn nhà của ông ta trên đường Lee Hiway gần khu Rosslyn, Virginia. Ông là thành viên của nhà thờ Mount Vernon tại thủ đô Washington, D.C., là nhà thờ đã bảo trợ gia đình tôi ra khỏi trại tạm cư Indiantown Gap ở Pennsylvania tháng 8 năm đó. Họ nhờ tôi chuyển ngữ những câu đối thoại tiếng Việt ra ngoại ngữ, trả 10 Mỹ kim một giờ, cốt giúp tôi qua thời gian buồn chán, khủng hoảng những ngày đầu lưu vong, hơn là nhằm mục đích gì khác. Làm ba ngày thì xong việc, nhờ đó tôi có tiền ngay mấy ngày sau đi New Jersey thăm Thanh Nam, và mua cho bạn chai whiskey. [Tháng 11.75 mới có việc làm thường xuyên, vào học nghề ấn loát $3.75 Mỹ kim một giờ]. Một chi tiết chuyên môn mà người phi công Mỹ thắc mắc là vụ chiếc xe Jeep bị phục kích, sao giữa trận tiền một vài giây trước khi bị phục kích mà người trên xe nói nhiều thế, lại còn biết mà chỉ chỏ vào bụi cây có Việt Cộng nằm phục kích!


      Những kẻ vô tâm hay có tâm địa riêng viết ra rằng Trần Lê Nguyễn ham sống, ham ăn chơi… bằng nghề cờ bạc (3); đành rằng thơ anh có nói đến Ðại Thế Giới, và thế giới ban đêm của Hòn Ngọc Viễn Ðông trước 1954 (anh vào Nam khoảng 1953); đành rằng thơ anh ra vào những tay anh chị thuở Bình Xuyên, tay búa tay rìu, đành rằng bạn hữu tìm anh khắp nơi không thấy, mà tới sòng bài Kim Chung có nhiều hy vọng gặp anh hơn cả, song rêu rao một đạo diễn không thành công bao nhiêu vì cây thẻ cỗ bài là đem chuyện đời tư viết thành chuyện văn sử. Với tôi anh là một nhà thơ tâm cảm với ngôn ngữ thi ca riêng - điều không phải người làm thơ nào cũng có - một kịch tác gia của nhiều vở kịch hay mà kịch tính tràn đầy trong từng đối thoại, cho dù chưa có vở nào của anh được dựng trên sân khấu.


      Trần Lê Nguyễn sống trong một ngõ hẻm ngoằn ngoèo ở Bến Chương Dương. Có cố nhớ cũng không nhớ nổi căn nhà ấy. Cầu thang nhỏ hẹp, ọp ẹp, nhưng vào lọt bên trong rồi thì thật thích: một căn phòng dài nhiều cửa sổ, cửa nào nhìn ra cũng thấy những mái nhà. Cả chục mái nhà phía trước. Trên tường treo một hai tấm tranh thật đẹp, của Ngọc Dũng, kể cả tranh lõa thể bản in của Modigliani.

      Giao Duyên


      Từng kiếp sống bồng bềnh

      Bước chân lầy lối ngõ

      Tiếng gọi đò hối hả

      Giữa khuya

      Ngọn đèn ai còn đỏ lửa

      Mười năm trời không làm thơ

      Ðêm nay bút cầy luống chữ.


      Ngoại ô trời đen khói bụi

      Mái nghèo

      Ðồng ruộng mông mênh

      Lạc lõng vào đây vài ổ đĩ

      Ðèn khuya cửa ngỏ

      – Ðêm qua Sáu Nhỏ không về!

      Trôi dạt vào đây vài anh chị

      Búa rìu bằm nát tay trai

      Có tiếng la trời ơi ới.

      (Trần Lê Nguyễn, Sáng Tạo, 1958)

      Khung cảnh của bài thơ là khung cảnh con ngõ của anh. Sau này tôi được biết, đó là khu nhà của ông tỷ phú Nguyễn Ðình Quát cho anh ở nhờ, hay thuê với giá rẻ. (Ông Quát này sau có ra tranh cử tổng thống Việt Nam Cộng Hòa). Ðám cưới của anh tôi vô tình trở thành người “mừng cúng” nhiều nhất. Anh báo tin lấy vợ tuần tới, người khác giúp thế nào cũng được, riêng tôi "chỉ cần cho tôi mượn vài vở kịch." Nguyên là những năm làm trong ban biên tập Ðài Tự Do, một đài đen do người Mỹ tài trợ, anh Phan Tùng Mai (con trai nhà cách mạng Phan Văn Hùm) và tôi thay nhau cung cấp cho đài những vở kịch 30 phút, khoảng 5 nhân vật, cứ hai tuần đến lượt phải cung cấp một vở mới. Trước sau trong mấy năm tôi viết được 27 vở. (4) Anh nói tôi có mừng đám cưới anh thì viết cái giấy cho anh quyền bán lại vài vở kịch tôi đã bán cho VOF để anh lấy bán lại cho một Đài nào đó, không còn nhớ đài nào. Nhuận bút tùy theo đài, riêng Ðài Tự Do (thời Ðại Úy Vũ Quang Ninh làm trưởng ban chương trình) trả 5 nghìn một vở. Sau tôi nghe nói làm sao không biết, anh bán được tới 7 vở của tôi cho một đài khác. Tôi có hỏi anh, anh chỉ cười hề hề, nói rằng quà cưới của tôi lớn nhất, nhưng chỉ anh bán lại được thôi, chính tôi có bán cũng không chắc được, đừng tiếc.


      Tôi có nhiều dịp đăng bài của Trần Lê Nguyễn. Tháng 10, 1974, Trần Lê Nguyễn ghé tạp chí Thời Tập do tôi làm chủ nhiệm, trao cho tôi vở kịch mới nhất của anh: “Ngôi Nhà Trên Ðồi Thông.” Vở kịch ghi rõ: Thời gian: một năm gần hết cuộc chiến này.


      Hãy thưởng thức đoạn kết của vở kịch, xảy ra tại một đô thị trên vùng cao nguyên [nên hiểu là Ðà Lạt, địa danh thường thấy trong thơ Trần Lê Nguyễn].

      Ngôi Nhà Trên Ðồi Thông


      - Bường (người con gái ngoài 30 tuổi): Sao lại nhà hoang? Nhà này là nhà riêng của ba tôi để lại cho tôi mà?

       

      - Liên (người nữ diễn viên độ 25, 26 tuổi): Nhưng cô không chịu nhận lấy mà bỏ đi hoang nên mọi người coi đấy là nhà chung. Cô phải đuổi hết những người chiếm ngụ vô quyền đi về đây mà ở thì nó mới hết là nhà hoang được.

       

      - Bường: Cô này nói nghe cũng được đấy. Mà cô là ai mà biết rõ về ngôi nhà này quá vậy? Là nữ diễn viên phải không?

       

      - Liên (giận dỗi): Không là nữ diễn viên gì hết. Tôi là vợ của anh Ðiềm.

       

      - Ðiềm (hơn 40 tuổi, viết kịch – bàng hoàng): Sao Liên lại nói vậy?

       

      - Liên (xúc động): Anh quên là đã có lần anh hỏi Liên làm vợ rồi ư? (xa, chậm). Ðấy là buổi sáng mùa Thu đúng ngày anh vào Nam. Anh đến thăm lần cuối cùng ngôi nhà đường Quan Thánh ở chỗ tầu điện tránh nhau. (5) (Vui sướng): Em đưa anh đi chơi ngoài vườn hoa, và nhớ rõ buổi sáng ấy em đẹp tuyệt vời. Không hiểu vì đâu ở tuổi 11 em bỗng nói với anh ý nghĩ ngộ nghĩnh muốn lấy chồng. Nghe thế, anh cười nhấc bổng em lên cao: Thật không? Vậy anh hỏi em làm vợ. Anh sắp đi xa. Ngày về anh sẽ cưới em. (Dịu nhẹ): Có phải đúng như thế không anh?

       

      - Ðiềm (thấp): Anh không ngờ là Liên còn nhớ.

       

      - Liên (hân hoan): Làm sao mà em quên được… Khi được sang du học Ðông Ðức, em đã trốn sang Tây Ðức tìm về Miền Nam (buồn). Em hỏi tên những người về hồi chánh không thấy tên anh Hạo em… Cho nên lúc này, ở đây, em không có ai là thân thích.

      … Màn hạ….

      (Trần Lê Nguyễn, Thời Tập số 14, tháng 11.1974) (6)

      Theo một bài viết của Nguyễn Xuân Hoàng trên tờ Mercury ở San Jose, thuật lại lời ký giả Thanh Thương Hoàng từ Sài gòn qua sau 1975, thì năm 1999 trường đua ngựa Phú Thọ được mở cửa lại, Trần Lê Nguyễn có mặt ngay, như từng có mặt ở các đại vũ trường Kim Chung, Đại Thế Giới trong Chợ Lớn thời đen đỏ Bình Xuyên, và nhịp tim anh chắc rượt đuổi quá nhanh theo vó con tuấn mã anh đã chọn, và anh ngã xuống vĩnh viễn, ngày đó là ngày 7.7.1999.


      Chú thích:


      1. Thế Kỷ Hai Mươi, “Tập san sáng tác khảo luận phê bình văn nghệ,” số 1 ra vào tháng 7, 1960, do Nguyễn Cao Hách làm giám đốc, Nguyễn Khắc Hoạch (nhà thơ Trần Hồng Châu) chủ trương biên tập, họa sĩ Ngọc Dũng thư ký tòa soạn, in tại Tín Ðức Thu Xã, đường Tạ Thu Thâu, Saigon. Báo khổ 7½”x10½”, giá bán 15 đồng một số.

       

      2. Khoảng 2005, tác giả Võ Thu Tịnh qua thăm Quận Cam, tôi có điện thoại hỏi thăm, ông cho biết phải trở về Paris gấp, cơn bệnh đột phát mà bảo hiểm sức khỏe của ông vô dụng ở Hoa Kỳ.

       

      3. Xem chương Trần Lê Nguyễn trong Văn Học Miền Nam, kịch-tùy bút, Võ Phiến, Văn Nghệ xuất bản, Calif., 1999, trang 2633-34: “Giá ông Trần [Lê Nguyễn] không vướng vào các thú vui, ông tha hồ viết khỏe.”

       

      4. Vở “Con Ðường Ngựa Chạy” được Giải Văn Chương Toàn Quốc, bộ môn kịch nói, 1972.

       

      5. “Ngôi nhà đường Quan Thánh” như một biểu tượng  chính trị (trụ sở Quốc Dân Ðảng, và cả đảng Ðại Việt). Tại đường này có tòa soạn vài tờ báo, có báo Ngày Nay, nơi nhà văn Khái Hưng làm việc trước khi bị Việt Minh giết.

       

      6. Thời Tập, Viên Linh và Nguyễn Hữu Hiệu, Lê Tài Ðiển, chủ trương, số 1 xuất bản năm 1973, số chót ra ngày 15 tháng 4, 1975.


      Viên Linh

      Nguồn: Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn Việt Nam
      Nxb Khởi Hảnh, Hoa Kỳ, 2017




      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Tạ Ký, viễn liên tảo mộ Viên Linh Hồi ký

      - Thái Tuấn, Vài Nét Thấy Người Phụ Nữ Việt Viên Linh Hồi ký

      - Văn học miền Nam ở hải ngoại Viên Linh Hồi ức

      - Viết và đọc hồi ký Viên Linh Nhận định

      - Trần Lê Nguyễn, Một Linh Hồn Kịch Viên Linh Hồi ký

      - Lục Bát Sinh Nhật Viên Linh Hồi ký

      - Nghiêm Xuân Hồng, Người Viễn Khách Đã Xa Viên Linh Hồi ký

      - Nửa thế kỷ Khởi Hành Viên Linh Hồi ức

      - Chu Tử, Nhà Văn Chết Đầu Nước Viên Linh Hồi ký

      - Tú Kếu, Thơ Chém Treo Ngành Viên Linh Hồi ký

    3. Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Da Màu: Tưởng niệm và giới thiệu sách của cố văn sĩ Phùng Nguyễn (Nguyên Huy)

      - Hoàng Lộc, Ngắn… Dài Tình Si (Nguyễn Lệ Uyên)

      - Đọc Mưa trên sông ĐăkBla (Lê Văn Thiện)

      - Nhà Văn Gai Góc Của Xứ Xương Rồng (Khuất Đẩu)

      - Trần Doãn Nho Người Dẫn Nắng Đi Chơi

      (Nguyễn Lệ Uyên)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Từ Nam Phong Tới Bách Khoa (Nguyễn Văn Lục)

      - Văn Học Miền Nam Qua Trao Đổi Với 34 tác Giả (Viên Linh)

      - Nhiệm Vụ Của Nhà Phê Bình Văn Học

      (Nguyễn Hưng Quốc)

      - Nhìn Qua Văn Đàn Nữ Giới Miền Nam (Đào Huy Đán)

      - Mùa Vu Lan, Đọc Lại Hồi Kí Tù (Trịnh Y Thư)

       

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Đông Khánh,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Chu Tử,  Du Tử Lê,  Dương Nghiễm Mậu,  Dương Quảng Hàm,  Giang Hữu Tuyên,  Hà Thúc Sinh,  Hà Thượng Nhân,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)