1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Từ Điển Anh Việt

       

          

       

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      Thư viện Người Việt:
      NAM PHONG
      TRI TÂN
      THANH NGHỊ
      NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
       

       

    2. Gọi Hồn - Viên Linh (Đàm Trung Pháp dịch)

      DỊCH THƠ SANG ANH NGỮ


         Gọi Hồn (Viên Linh)

               Đàm Trung Pháp chuyển sang Anh ngữ và chú giải

      :: Gọi Hồn (Viên Linh 1)  Evoking the spirits of those who perished at sea 2

       


      Trên Huyết Hải thuyền trôi về một chiếc

      Chiều bầm đen trời rực rỡ đau thương

      Thân chìm xuống băng tuyền giờ tận biệt

      Sóng bạc đầu hối hả phủ trùng dương


      Thấp thoáng trần gian

      Mịt mù bóng đảo

      Trôi về tây về bắc về đông

      Trôi về đâu bốn bề thủy thảo

      Về đâu kiếp đắm với thân trầm.


      Hồn ơi dương thế xa dần

      Hồn đi thôi nhé thủy âm là nhà

      Hồn về trong cõi hà sa

      Sống không trọn kiếp chết là hồi sinh.

      Xong rồi một cõi u minh

      Ngựa Hồ chim Việt biến hình mà đi.



      Hồn vẫn ở la đà Nam Hải

      Hồn còn trôi mê mải ngoài khơi

      Hồn còn tầm tã mưa rơi

      Tháng Tư máu chảy một trời sương tan.


      Thân chìm đắm cõi điêu tàn nước cũ

      Những lâu đài thành quách những vàng son

      Những tân thư kỳ mặc những linh đường

      Những rực rỡ của một thời dựng nước

      Bao mắt mở bao tóc sầu dựng ngược

      Bao tay cùm bao ngực vỡ hôm qua

      Trong rêu xanh ngần ngật bóng sơn hà

      Lướt hải phận về dưới trời cố quốc.


      Nhắm hướng hôi tanh

      Chia bày trận mạc

      Hồn binh tàn hỗn chiến Thủy Mộ Quan.


      Đêm rơi thời hết vận tàn

      Ô y cầu nhỏ người sang Lạc Hà

      Thác rồi thân hóa phù sa

      Mon men trở lại quê nhà mỗi đêm.



      Về đâu đêm tối

      Hương lửa lung linh

      Những ai còn bóng

      Những ai mất hình


      Những ai vào kiếp phù sinh

      Hóa thân hồ hải làm binh giặc trời

      Khi nào hết quỉ ngoài khơi

      Ta vào lục địa ta hồi cố hương




      Cùng nhau ta dựng lại nguồn

      Chẻ tre đẵn gỗ vạch mương xây đình.

      Ông Nghè về lại trong dinh

      Tướng quân giữ ải thư sinh dưới đèn.

      Từ Thức lại trở về tiên

      Sĩ phu giảng huấn người hiền bình văn

      Nương dâu trả lại con tằm

      Ruộng xanh trả bác nông dân cần cù.

      Ngựa ông trả lại thằng cu

      Nhà chung trả Chúa chùa tu trả Thày

      Quạt mo tao trả cho mày

      Các cô yếm thắm trả bày trai tơ.

      Việt Nam dựng lại sơn hà

      Móng rồng năm lượt Quê Nhà phục hưng.


      Đã tỉnh sầu u thương tiếc hết

      Bình minh lên nghe, hoàng hôn biết

      Chim lạnh về Nam sông núi ta

      Không nói không cười chân trở bước.

      Nỏ thần thủa trước

      Gươm bén hồ xưa

      Tràn lên như nước vỡ bờ

      Lạc Long lại đón Âu Cơ về thuyền.

      Các con từ dưới biển lên

      Từ trên núi xuống hai miền gặp nhau.


      Năm nghìn năm lại bắt đầu

      Chim nào tha đá người đâu vá trời

      Chúng ta rời bỏ xứ người

      Loài chim trốn tuyết qui hồi cố hương.


      Viên Linh

      On the Blood Sea a single boat flowed back

      The splendid evening sunlight gradually darkened

      The bodies had sunk into the cold water from the boat

      White-crested waves hurriedly covered the sea


      The world in a flashback

      The island invisible in a mist

      Drifting to the west or the east

      The four corners were all marine plants

      Whither would float these drowned bodies?


      Dear spirits, with this world farther and farther from you

      Godspeed to your new abode undersea

      You are returning to the realm of sand and water

      With your lives cut short, you will come to life again after death

      Done is your somber and dark world

      The Hồ horse Việt bird identity shall metamorphose as you depart


      Yet, you still linger on the South Sea

      Longingly drifting on the country’s seacoast

      Crying torrentially

      Like the blood that gushed in April since early mist


      The spirits’ submerged bodies now drift back to the desolate old country

      With its castles and citadels in the golden days

      Its great books, its hallowed shrines

      Its splendor in the time of country-building [3]

      With staring eyes and rising hairs

      A myriad of former prisoners and injured people

      In green moss, clinging to the image of the land

      Speedily float toward their former country




      Targeting a land that is now putrid

      Sharing battle plans

      Spirits of disabled soldiers continue their war

      from the Pass of Graves in the Sea


      When night ends, so does their chance

      In black clothes they cross the Lạc Hà bridge [4]

      In bodies that have turned into alluvium

      Gingerly they return to their homeland every night


      What is your destination in the dark

      Amidst incense and flickering candlelight

      Oh, those of you who keep your shadow

      And those of you who have lost it all


      Having entered the cycle of lives

      Let’s turn our seafaring bodies into celestial soldiers

      Once we have dispatched all devils inhabiting our open sea

      We will come ashore to our place of birth


      Together we will restore our traditions

      Bamboo and timber will be cut to build moats and communal temples

      The doctor of literature will return to his residence

      The general to his frontier defense

      The student to his desk

      Từ Thức to fairyland [5]

      Scholars to teaching, sages to literary review

      Mulberry groves will go back to silkworms

      Green rice paddies to hard-working farmers

      The play horse to the young boy [6]

      Monasteries to God, pagodas to the monk

      The areca-spathe fan I will return to you [7]

      Maidens in bright-red camisoles to young men

      Vietnam will rebuild its nationhood

      The five-claws dragon will herald our restored native land [8]



      Gone is all grief and regret

      From dawn to dusk the news is heard

      The cold birds have returned to the warm southern branch in their own land

      Solemnly they come home

      Magic crossbow of the past

      Sharp sword from the old lake

      Unstoppable is their revived power

      Lạc Long welcomes Âu Cơ back to his boat

      As their children up from the sea and

      Down from the mountain are




      Our five-thousand-year legacy will start anew

      The rock-carrying bird, the sky-mending lady [9]

      We are leaving a foreign land

      Like snow-shunning birds returning to their native land


      Đàm Trung Pháp translated into English
      and provided annotations
      (Nguồn: sangtao.org)

      ANNOTATIONS:



      Nhà thơ Viên Linh

      [1] Viên Linh is the pen name of Nguyễn Nam, born in 1938 in Hà Nam Province, North Vietnam. An accomplished poet and novelist, he has published numerous novels and poetic collections. His play Con Đường Ngựa Chạy brought him the 1972 Presidential Prize in Literature, and his novel Gió Thấp landed him the First Place in the Republic of Vietnam’s 1974 National Prizes in Literature and Arts. Among his best known poetic works are Hóa Thân (1964) and Thủy Mộ Quan (1982). Between 1961 and 1975, Viên Linh served as managing editor of several literary magazines in Saigon. Since his resettlement in the United States in 1975, he has earned his living as a newspaperman, a publisher, and currently as the editor and publisher of Khởi Hành, a literary review with an international readership.


      [2] After April 1975, daring efforts by freedom-seeking Vietnamese people who took to the sea in decrepit boats were a great tragedy reported daily by the media, especially the Vietnamese-language press abroad. The most tragic aspect of this exodus was the starvation to death of children and the rape of women by sea pirates. By 1978, “boat people” had become well-known, and temporary refugee camps had been set up in various places in Southeast Asia. This poem is part of Viên Linh’s well-known work named Thủy Mộ Quan (The Pass of Graves in the Sea).

      [3] That was when the Republic of Vietnam was established after the 1954 Geneva Agreement, with Saigon as its capital. It had a new flag and a new anthem, and more than 80 countries in the United Nations recognized it. In April of 1975, violating all signed agreements, communist North Vietnam overran this republic. As a result, more than 800,000 people from the South became boat people seeking freedom, and thousands of them drowned in the South China Sea.

      [4] Lạc Hà (or Nại Hà) is the river of separation, spanned by a bridge. Crossing this bridge means entering the world of the dead.

      [5] According to Vietnamese mythology, Từ Thức met a fairy named Giáng Hương and stayed with her in her world for a year. He became homesick and asked her to allow him a home visit, promising he would return. People and things back home had changed totally. An old man told him that Từ Thức was his grandfather who had disappeared 80 years earlier.

      [6] The imaginary play horse for young boys in the old days was a long dried areca leaf that they dragged along the road, announcing their horse has arrived and asked people to feed it with grass.

      [7] According to a legend, a young boy named “thằng bờm” had an areca-spathe fan. A rich man wanted to get it from him in exchange for expensive things, but to no avail. The boy finally agreed to just a handful of steamed rice. The story implies that the country people were realistic and not interested in vague promises.

      [8] In Vietnamese paintings, a dragon has five claws in each foot. The Chinese dragon is painted with four claws in each foot.

      [9] The bird “tinh vệ” and the lady named “Nữ Oa” in Chinese mythology were the symbols for people with tremendous determination and perseverance





      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Chinh Phụ Ngâm diễn nôm, một dịch phẩm thần kỳ Đàm Trung Pháp Biên khảo

      - Biện Pháp Tu Từ “LIKE” Đàm Trung Pháp Anh ngữ

      - Những Từ Viết Giống Nhau, Đọc Khác Nhau, Nghĩa Khác Nhau Đàm Trung Pháp Anh ngữ

      - Ngữ-Vựng Tiếng Việt của Giáo sư Trần Ngọc Ninh Đàm Trung Pháp Giới thiệu

      - Những Từ “Đồng Âm Dị Nghĩa” Đàm Trung Pháp Anh ngữ

      - Điểm sách: Hán Việt Tự Điển (Trần Trọng San & Trần Trọng Tuyên) Đàm Trung Pháp Giới thiệu

      - Evoking the spirits of those who perished at sea Đàm Trung Pháp Dịch thơ

    3. Tho

       

       

        Thơ:

       

      Khát Vọng (Trần Yên Hòa)

      Chất Thơ Do Cảm Nhận Vài Kiến Thức Về Tư Tưởng Của Kant Và Hegel (Trần Văn Nam)

      Các Bài Thơ Nôm Đầu Tiên Trong Văn Học Chữ Nôm (Tuệ Chương)

      Đi Tìm Đường Bay Ưu Việt Của Thi Ca (Thái Tú Hạp)

      Tứ Thơ Và Chiến Tranh: Chiến-Sự Dù Nhỏ, Cũng Đã Lưu-Dấu Trong Thơ (Trần Văn Nam)

      Những Dời Đổi Địa Hình và Mối Hoài Cảm Thi Ca (Trần Văn Nam)

      Đất Nước Của Ma Quỷ (Bùi Chí Vinh)

      Thời Đại Tôi Đang Sống (Nguyễn Thị Thanh Yến)

      Bài thơ độc vận “ơ” làm trong men rượu say (Trần Thoại Nguyên)

      Đất nước mình ngộ quá phải không anh (Trần Thị Lam)

      Những đôi mắt ngủ quên (Trương Đình Phượng)

      Con đường mới | Mở cửa (Trương Đình Phượng)

      Mưa lạnh trên đèo (Xuân Thao)

      Ân Tình Mẹ (Trần Kiêm Đoàn)

      Mùa Xuân Và Linh Hồn Mới (Trần Mộng Tú)

       

        Thơ Dịch:

       (Vietnamese Poetry translated into English)

       

      Đàm Trung Pháp & Viên Linh dịch và chú giải:

       

      Vịnh Hai bà Trưng (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)

      Ăn Cỗ Đầu Người (Nguyễn Biểu)

      Đoạt Sáo Chương Dương Độ (Trần Quang Khải)

      Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

      Thề Non Nước (Tản Đà)

      Thi Nhiệt (Lý Đông A)

      Vịnh Tranh Gà Lợn (Vũ Hoàng Chương)

       

      Huỳnh Sanh Thông dịch:

       

      Thăng Long (Nguyễn Du)

      Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du)

      Hồ Hoàn Kiếm (Vô Danh)

      Thăng Long Thành Hoài Cổ

       (Bà Huyện Thanh Quan)

      Chiều Hôm Nhớ Nhà (Bà Huyện Thanh Quan)

      Lên Đèo Hải Vân (Huỳnh Mẫn Đạt)

      Vịnh Bức Dư Đồ Rách (Tản Đà)

      Màu Tím Hoa Sim (Hữu Loan)

      Nhà tôi (Yên Thao)

      Sóng (Xuân Quỳnh)

      Hai Sắc Hoa Tigôn (T.T.Kh.)

       

      Lê Đình Nhất-Lang & Nguyễn Tiến Văn dịch:

       

      Cùng khổ (Bùi Chát)

      Hoa sữa (Bùi Chát)

      Bài thơ một vần (Bùi Chát)

      Đèn đỏ (Bùi Chát)

      Ai? (Bùi Chát)

      Những người đáng trọng & những kẻ đáng khinh

       (Lý Đợi)

       

      Các tác giả khác dịch:

       

      Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi (Nguyễn Đình Toàn)

       (Do Dinh Tuan dịch)

      Bữa Tiệc Hòa Bình (Nguyễn Thị Thanh Bình)

       (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

      Từ Một Cuốn Rún (Nguyễn Thị Thanh Bình)

       (Đinh Từ Bích Thúy dịch)

      Vì Người Ta Cần Ánh Mặt Trời (Nguyễn Đắc Kiên)

       (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

       

        Thơ Cổ:

       

      Chinh Phụ Ngâm diễn nôm, một dịch phẩm thần kỳ (Đàm Trung Pháp)

      Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào? (Trần Từ Mai)

      Đọc lại một số thi phẩm của Phan Châu Trinh (Phan Thành Khương)

      Nhất Chi Mai - Chất Người Muôn Thuở (Phan Trang Hy)

      Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

      Nguyễn Trãi Huyễn-Thực và Sắc-Không (Trần Ngọc Ninh)

      Quá Phong Khê, Một Bài Thơ Kỳ Tuyệt (Phạm Khắc Hàm)

      Giới thiệu Bài Thơ "Trừ Tịch" của Đặng Đức Siêu (Trần Từ Mai)

      Xuân Xưa Thơ Trước, Hồn Ngàn Mùa (Viên Linh)

      Bạch Đằng Giang Phú (Trương Hán Siêu)

      Thuật Hoài (Phạm Ngũ Lão)

      Thuật Hoài (Đặng Dung)

      Lâm Cảng Dạ Bạc (Nguyễn Trãi)

      Ngày Xuân Đọc "Đào Hoa Thi" của Nguyễn Trãi (Trần Uyên Thi)

      Thơ Lý Bạch (Đàm Trung Pháp)

       

        Thơ Tuyển:

       

      Khói Trắng (Kiên Giang)

      Lòng Mẹ (Nguyễn Bính)

      Tình yêu mẹ - Tình yêu con (Nguyễn Thu Hằng)

      Hẹn Anh Một Ngày Tái Ngộ (Ngô Minh Hằng)

      Những tháng tư buồn (Nguyễn Thị Hằng)

      Nỗi buồn tháng 4 (Huy Uyên)

      Khởi Hành (Trần Thúc Vũ)

      Quà Tặng Trong Chiến Tranh (Trần Mộng Tú)

      Mã Viện (tác giả: Vô Danh) (Nguyễn Văn Ngọc)

      Mẹ và sự lặng im (Trần Mộng Tú)

      Thơ Về Mẹ (Nhiều tác giả)

      Hai Chữ Nước Nhà (Trần Tuấn Khải)

      Đói (Bàng Bá Lân)

      Lời Mẹ Dặn (Phùng Quán)

      Nước Tôi (Nguyễn Văn Cổn)

      Thơ Tưởng Niệm Ngày 30 Tháng Tư (Nhiều tác giả)

      Thơ Tình Ngày Valentine (Nhiều tác giả)

      Kỷ Niệm Chiến Thắng Đống Đa (Hoàng Phong Linh)

      Thơ và Câu Đối Mừng Xuân (Nhiều tác giả)

      Quốc Nam, Quốc Việt (Hồ Bạch Thảo)

      Bài Thơ Vô Đề Viết Trong Trại Tù Tập Trung (Tú Kếu)

      Thơ Tưởng Niệm Các Anh Hùng Tử Sĩ ở Hoàng Sa (Nhiều tác giả)

      Bình Giảng: Đời Đáng Chán và Tống Biệt của Tản Đà (Thạch Trung Giả)

      Thơ Tiền Chiến (Nhiều tác giả)

      Tây Tiến (Quang Dũng)

      Đêm Liên Hoan (Hoàng Cầm)

      Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Cao Tiêu)

      Biên Cương Hành (Phạm Ngọc Lư)

      Thơ Xuân (Nhiều tác giả)

      Đồng Lầy (Nguyễn Chí Thiện)

      Ta Về (Tô Thùy Yên)

      Trường Sa Hành (Tô Thùy Yên)

      Kịch thơ: Hận Nam Quan (Hoàng Cầm)

       

        Tục ngữ (Proverbs)

       

      Tre già măng mọc

      Đục nước béo cò

      Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng

      Gà một mẹ đá nhau

       

        Danh Ngôn

        Đố vui (Puzzles)

       
       
  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)