Head

 

 

Biên Cương Hành (Phạm Ngọc Lư
16-04-2013 | THƠ

Biên Cương Hành

 PHẠM NGỌC LƯ

  Phạm Ngọc Lư là cây bút quen thuộc trước 1975. Anh có truyện, thơ trên các
báo văn nghệ Sài Gòn: Văn, Bách Khoa, Vấn Đề, Khởi Hành…. Bài Biên cương
hành dưới đây đã đăng trên tạp chí VĂN (Saigòn) mùa thu năm 1972

Biên cương, biên cương, chào biên cương

Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương

Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt

Núi chập chùng như dãy mồ chôn

Gớm, gió Lào tanh mùi đất chết

Thổi lấp rừng già bạt núi non

Mùa khô tới theo chân thù địch

Ta về theo cho rậm chiến trường

Chiến trường ném binh như vãi đậu

Đoàn quân ma bay khắp bốn phương

Lớp lớp chồm lên đè bẹp núi

Núi mang cao điểm ngút oan hờn

Đá mang dáng dấp hồn chinh phụ

Trơ vơ chóp núi đứng bồng con

Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy

Đá Vọng Phu mọc khắp biên cương

Biên cương, biên cương đi biền biệt

Chưa hết thanh xuân đã cùng đường

Trông núi có khi lầm bóng vợ

Ôm đá mà mơ chuyện yêu đương

Thôi em, sá chi ta mà đợi

Sá chi hạt cát giữa sa trường

Sa trường anh hùng còn vùi dập

Há rằng ta biết hẹn gì hơn?


Đây biên cương, ghê thay biên cương!

Núi tiếp rừng, rừng tiếp khe truông

Hãi hùng chưa trời hoang mây rậm

Mùa mưa về báo hiệu tai ương

Quân len lỏi dưới tàn lá dữ

Lá xôn xao xanh mặt hoảng hồn

Sát khi đằng đằng rừng dựng tóc

Ma thiêng còn ngán bọn cô hồn

Cô hồn một lũ nơi quan ải

Có khi đã hoá thành thú muông

Cô hồn một lúc nơi đất trích

Vỗ đá mà ca ngông hát cuồng

Chém cây cho đỡ thèm giết chóc

Đỡ thèm môi mắt gái buôn hương


Đây biên cương, ghê thay biên cương!

Tử khí bốc lên dày như sương

Đá chảy mồ hôi rừng ứa máu

Rừng núi ơi ta đến chia buồn

Buồn quá giả làm con vượn hú

Nào ngờ ta con thú bị thương

Chiều hôm bắt tay làm loa gọi

Gọi ai nơi viễn xứ tha phương?

Gọi ai giữa sơn cùng thủy tận?

Ai người thiên cổ tiếc máu xương?

Em đâu, quê nhà chong mắt đợi

Hồn theo mây trắng ra biên cương

Thôi em, yêu chi ta thêm tội

Vô duyên xui rơi lược vỡ gương

Ngày về không hẹn ngày hôn lễ

Hoặc ngày ta nhắm mắt tay buông

Thôi em, chớ liều thân cô phụ

Chiến trường nay lắm nỗi đoạn trường

Nơi nơi lạnh trăm dòng sông Dịch

Kinh Kha đời nay cả vạn muôn

Há một mình ta xuôi biên tái

“Nhất khứ bất phục phản” là thường!


Thôi em, còn chi ta mà đợi

Ngày về: thân cạn máu khô xương!

Ngày về: hôn lễ hay tang lễ?

Hề chi! buổi chinh chiến tang thương

Hề chi! kiếp cây rừng đá núi

Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương.

(tháng 5.1972)


_______________


Đầu năm 1972, cuộc chiến bộcphát dữ dội, để sau đó là máu, nước mắt, khăn sô trắng trời trong mùa hè đỏ lửa kinh hoàng! Từ Sài Gòn trở về tạm biệt cha mẹ các em, bè bạn để chuẩn bị và chờ đợi tới lượt mình ra chiến trường ném binh như vãi đậu. Bữa cơm chiều có món rưọu Cỏ May thần tửu (do Phạm Ngọc Lư đặt tên: rượu nếp ủ lâu ngày, nước đỏ màu hổ phách) và bất thần Lư đọc lên: biên cương, biên cương, chào biên cương. Ban đầu là ngập ngừng, sồn sựt, nhưng càng sâu, bài thơ nghe gai lạnh chỏm tóc, gáy, sống lưng. Chữ nghĩa và cái giọng nghèn nghẹn làm nổi da gà tất cả anh em ngồi quanh chiếu rượu. Lư không phải là một chiến binh, chưa biết mặt chiến trường ra sao, nhưng những dòng chữ từ trái tim anh vút ra như một dự cảm oan nghiệt của cái mà bọn "thiết quốc" gọi là lý tưởng, chủ nghĩa để đem nướng hàng triệu sinh linh trên bãi chiến trưònng được chỉ định trước. Nỗi hãi hùng từ cảnh binh đao xếp thành hàng, vất vưởng, man rợ, tủi nhục... trong bài hành. Trở vào, tôi mang theo sự man rợ kinh hoàng kia để bè bạn cùng sẻ chia, cùng tự vấn vì ai gây dưng cho nên nỗi này.

Sau hơn 30 năm, thỉnh thoảng nhớ lại vẫn gai lạnh nỗi hoang mang tột cùng. Và mới đây anh bất ngờ chép lại đầy đủ, tặng tôi. Giờ đây tôi thay mặt anh xin kính tặng quý độc giả TQBT. (Ng~)

Phạm Ngọc Lư

Nguồn: Thư Quán Bản Thảo, Tập 13 tháng 1, 2004



 

 

Tho

 

 

  Thơ:

 

Tứ Thơ Và Chiến Tranh: Chiến-Sự Dù Nhỏ, Cũng Đã Lưu-Dấu Trong Thơ (Trần Văn Nam)

Những Dời Đổi Địa Hình và Mối Hoài Cảm Thi Ca (Trần Văn Nam)

Đất Nước Của Ma Quỷ (Bùi Chí Vinh)

Thời Đại Tôi Đang Sống (Nguyễn Thị Thanh Yến)

Bài thơ độc vận “ơ” làm trong men rượu say (Trần Thoại Nguyên)

Đất nước mình ngộ quá phải không anh (Trần Thị Lam)

Những đôi mắt ngủ quên (Trương Đình Phượng)

Con đường mới | Mở cửa (Trương Đình Phượng)

Mưa lạnh trên đèo (Xuân Thao)

Ân Tình Mẹ (Trần Kiêm Đoàn)

Mùa Xuân Và Linh Hồn Mới (Trần Mộng Tú)

 

  Thơ Dịch:

 (Vietnamese Poetry translated into English)

 

Đàm Trung Pháp & Viên Linh dịch và chú giải:

 

Vịnh Hai bà Trưng (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)

Ăn Cỗ Đầu Người (Nguyễn Biểu)

Đoạt Sáo Chương Dương Độ (Trần Quang Khải)

Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

Thề Non Nước (Tản Đà)

Thi Nhiệt (Lý Đông A)

Vịnh Tranh Gà Lợn (Vũ Hoàng Chương)

 

Huỳnh Sanh Thông dịch:

 

Thăng Long (Nguyễn Du)

Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du)

Hồ Hoàn Kiếm (Vô Danh)

Thăng Long Thành Hoài Cổ

 (Bà Huyện Thanh Quan)

Chiều Hôm Nhớ Nhà (Bà Huyện Thanh Quan)

Lên Đèo Hải Vân (Huỳnh Mẫn Đạt)

Vịnh Bức Dư Đồ Rách (Tản Đà)

Màu Tím Hoa Sim (Hữu Loan)

Nhà tôi (Yên Thao)

Sóng (Xuân Quỳnh)

Hai Sắc Hoa Tigôn (T.T.Kh.)

 

Lê Đình Nhất-Lang & Nguyễn Tiến Văn dịch:

 

Cùng khổ (Bùi Chát)

Hoa sữa (Bùi Chát)

Bài thơ một vần (Bùi Chát)

Đèn đỏ (Bùi Chát)

Ai? (Bùi Chát)

Những người đáng trọng & những kẻ đáng khinh

 (Lý Đợi)

 

Các tác giả khác dịch:

 

Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi (Nguyễn Đình Toàn)

 (Do Dinh Tuan dịch)

Bữa Tiệc Hòa Bình (Nguyễn Thị Thanh Bình)

 (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

Từ Một Cuốn Rún (Nguyễn Thị Thanh Bình)

 (Đinh Từ Bích Thúy dịch)

Vì Người Ta Cần Ánh Mặt Trời (Nguyễn Đắc Kiên)

 (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

 

  Thơ Cổ:

 

Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào? (Trần Từ Mai)

Đọc lại một số thi phẩm của Phan Châu Trinh (Phan Thành Khương)

Nhất Chi Mai - Chất Người Muôn Thuở (Phan Trang Hy)

Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

Nguyễn Trãi Huyễn-Thực và Sắc-Không (Trần Ngọc Ninh)

Quá Phong Khê, Một Bài Thơ Kỳ Tuyệt (Phạm Khắc Hàm)

Giới thiệu Bài Thơ "Trừ Tịch" của Đặng Đức Siêu (Trần Từ Mai)

Xuân Xưa Thơ Trước, Hồn Ngàn Mùa (Viên Linh)

Bạch Đằng Giang Phú (Trương Hán Siêu)

Thuật Hoài (Phạm Ngũ Lão)

Thuật Hoài (Đặng Dung)

Lâm Cảng Dạ Bạc (Nguyễn Trãi)

Ngày Xuân Đọc "Đào Hoa Thi" của Nguyễn Trãi (Trần Uyên Thi)

Thơ Lý Bạch (Đàm Trung Pháp)

 

  Thơ Tuyển:

 

Tình yêu mẹ - Tình yêu con (Nguyễn Thu Hằng)

Lòng Mẹ (Nguyễn Bính)

Hẹn Anh Một Ngày Tái Ngộ (Ngô Minh Hằng)

Những tháng tư buồn (Nguyễn Thị Hằng)

Nỗi buồn tháng 4 (Huy Uyên)

Khởi Hành (Trần Thúc Vũ)

Quà Tặng Trong Chiến Tranh (Trần Mộng Tú)

Mã Viện (tác giả: Vô Danh) (Nguyễn Văn Ngọc)

Mẹ và sự lặng im (Trần Mộng Tú)

Thơ Về Mẹ (Nhiều tác giả)

Hai Chữ Nước Nhà (Trần Tuấn Khải)

Đói (Bàng Bá Lân)

Lời Mẹ Dặn (Phùng Quán)

Nước Tôi (Nguyễn Văn Cổn)

Thơ Tưởng Niệm Ngày 30 Tháng Tư (Nhiều tác giả)

Thơ Tình Ngày Valentine (Nhiều tác giả)

Kỷ Niệm Chiến Thắng Đống Đa (Hoàng Phong Linh)

Thơ và Câu Đối Mừng Xuân (Nhiều tác giả)

Quốc Nam, Quốc Việt (Hồ Bạch Thảo)

Bài Thơ Vô Đề Viết Trong Trại Tù Tập Trung (Tú Kếu)

Thơ Tưởng Niệm Các Anh Hùng Tử Sĩ ở Hoàng Sa (Nhiều tác giả)

Thơ Tiền Chiến (Nhiều tác giả)

Bình Giảng: Đời Đáng Chán và Tống Biệt của Tản Đà (Thạch Trung Giả)

Tây Tiến (Quang Dũng)

Đêm Liên Hoan (Hoàng Cầm)

Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Cao Tiêu)

Biên Cương Hành (Phạm Ngọc Lư)

Thơ Xuân (Nhiều tác giả)

Đồng Lầy (Nguyễn Chí Thiện)

Ta Về (Tô Thùy Yên)

Trường Sa Hành (Tô Thùy Yên)

Kịch thơ: Hận Nam Quan (Hoàng Cầm)

 

  Tục ngữ (Proverbs)

 

Tre già măng mọc

Đục nước béo cò

Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng

Gà một mẹ đá nhau

 

  Danh Ngôn

  Đố vui (Puzzles)

 
 

 

© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)