1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Từ Điển Anh Việt

       

          

       

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      Thư viện Người Việt:
      NAM PHONG
      TRI TÂN
      THANH NGHỊ
      NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
       

       

    2. Xuân Thao, Thơ và Người (Phạm Ngọc Lư)

      04-03-2014 | VĂN HỌC

      Xuân Thao, Thơ và Người

       PHẠM NGỌC LƯ

      1.



           Nhà thơ Xuân Thao

      Những năm đầu thập niên 60, ở các tỉnh miền Trung bỗng rộ lên phong trào “làm văn nghệ” của các cây bút trẻ. Quả vậy, thời đó anh em chúng tôi còn rất trẻ, tuổi đời chưa tròn đôi mươi, còn ngồi ghế nhà trường trung học nhưng lòng đam mê văn chương thì gần như vô bờ, đã tập tễnh cùng nhau dấn bước vào con đường thi ca. Xuân Thao là một trong số những nhà thơ trẻ ấy ở thành phố Đà Nẵng. Ngay đầu năm 1964, anh cùng hai người bạn thân thiết là nhà thơ Phương Tấn và Uyên Hà, tập hợp thêm sáng tác của một số thân hữu khác, nỗ lực xuất bản hai thi tuyển RừngVỡ như một trình diện khiêm tốn nhưng khá tự tin với làng Thơ lúc đó, hơn thế, trong thầm lặng, còn muốn khẳng định sự hiện diện của riêng mình cùng vóc dáng và ngôn ngữ của tuổi trẻ trước thời thế.


      Ừ, thời thế nhiễu nhương, chiến cuộc lan rộng, bom đạn tàn sát quê hương, ngày ngày máu chảy nước mắt rơi, đêm đêm bóng ma hung ác của chiến tranh há mồm nhe răng vây bủa rình rập chờ cắn xé những mái đầu xanh tuổi trẻ. Tinh thần dằn vặt, tâm thức cồn cào sự phản kháng, Xuân Thao và bằng hữu, trong những giới hạn của vị thế mình, không thể không lên tiếng, bày tỏ thái độ. Vậy là thơ ra đời.


      Hãy nhìn xuống quê hương nầy khốn khó

      Cây không xanh cho lịch sử thêm già

      Một dòng sông đen như màu hắc ín

      Chảy căm hờn trong từng nỗi can qua

      (Xuân Thao - Đất mẹ)


      Ta đi dưới đám mây đen

      Những đám mây chở đầy tin buồn

      ......

      Ta thả đôi chân lang thang cùng khắp xóm thôn

      Ta đang đi trên điêu linh vận nước

      (Lại một chiều buồn)


      Như một số bạn bè khác, thời kỳ đầu Xuân Thao làm khá nhiều những bài thơ có hơi hướm “phản chiến” nhưng anh ít phổ biến trên các tạp chí ở Sài Gòn. Sau nầy, anh về dạy học ở Quảng Ngãi, thỉnh thoảng “chơi” với tạp chí Trước Mặt của các nhà thơ Phan Nhự Thức, Hà Nguyên Thạch, Khắc Minh... Chính những năm ở Quảng Ngãi, Xuân Thao tìm được rất nhiều cảm xúc từ thực tế để viết. Cũng dễ hiểu thôi, người cầm bút có ý thức không thể bàng quan trước thời cuộc, nhất là khi anh đang phải sống ở một vùng “đất dữ”, đạn bom ác liệt, tang thương tang tóc trùng trùng và sự bất trắc thường trực phủ trùm ngày đêm.Đây là những câu thơ khiến người đọc hôm nay còn hãi hùng ớn lạnh:



           Bìa tập thơ Sóng Mòn
          của nhà thơ Xuân Thao

      Núi đứng gầm gừ như hổ đói

      Đồi rập rình tia mắt chói chang

      Lúa lởm chởm như ngàn chông nhọn

      Mừng ta chăng, Mộ Đức tan hoang?

      (Về thăm chốn cũ)


      Tôi đi qua những rừng dừa cụt đầu cháy nám

      Những thân dừa mang đầy dấu đạn

      Những tường vôi đổ xuống những tường vôi

      (Những rừng dừa cụt đầu ở Tam Quan)


      Cả trong đêm Noel thiêng liêng, Xuân Thao, như một chứng nhân bất lực, đã thống thiết kêu lên:


      Việt Nam quê hương tôi đang chìm trong bóng tối

      Không có màu sao hồng đào

      Không có chùm sao thập tự

      Không có hồi chuông giáo đường rộn rã

      Không có thánh ca trầm bổng bay cao

      Chỉ có những đám mây đen

      Chỉ có ánh hoả châu vàng lẹt

      Chỉ có tiếng hò hét xung phong

      Chỉ có tiếng la thất thanh, tiếng kêu rên đau đớn

      Chỉ có tiếng chát chúa súng nổ, bom gầm

      Thay cho lời kinh cầu nguyện

      (Chúa đã biết /1972)


      Đành làm một nhân chứng bất lực, dù tâm thức âm ỉ sự phản kháng, nhà thơ chỉ còn biết im lìm mơ tưởng đến ngày chiến tranh kết thúc, quê hương được hưởng cảnh thanh bình để mở hội trùng tu. Rất hiền hoà, Xuân Thao nằm mơ hoà bình, khao khát hoà bình và anh đã viết Cánh đồng tương lai, Loài chim hút mật, Có một loài chim, Một mai em có về quê hương, Sớm mai con dậy, Những sớm mai Việt Nam v.v... Quá thiết tha, sự mơ tướng ấy có lúc dâng trào, bùng lên lời phán quyết, như một khẩu hiệu, khảng khái, dứt khoát:


      Trên hoang tàn đổ nát, mai Việt Nam trổi dậy

      Không một thế lực nào có quyền đánh cướp trong

      ý nghĩ sau cùng của ta:

      Những sớm mai Việt Nam

      (Lẽ ra bây giờ nên thêm một cái dấu chấm than sau câu kết Những sớm mai Việt Nam!)


      Nhưng Xuân Thao không chỉ làm thơ về khói lửa tao loạn và thao thức với viễn ảnh hoà bình, anh còn một số thơ tình rất dung dị, đằm thắm, nhẹ nhàng, Viết về thời cuộc thì chữ nghĩa anh tràn trề, hả hê, dằng dặc, có thể còn viết dài hơn nữa mà vẫn chưa “đã”, nhưng trong tình tự chúng lại bất ngờ cô đọng, chơn chất, dịu dàng:


      Em tuổi lúa và dung nhan của gió

      Trong lòng tôi mùa gặt đã đơm bông

      Loài chiền chiện bay cao theo chiều nắng

      Dưới cầu sông... nước lênh láng se lòng

      (Dòng nước trong)


      Hoặc trong bài Cuộc tình:


      Đêm nâu biển mặn, ô kìa !

      Đỉnh non xanh tạm chia lìa nhân gian

      Đưa em lên biển rừng vàng

      Lược đây xin chải hai hàng tóc mai

      .....

      Ngồi buồn bốc mộ lên chơi

      Xương tàn cốt rụi một đời yêu em...


      (Ngồi buồn bốc mộ lên chơi, chắc nhiều độc giả sẽ đồng ý với tôi: đây là câu thơ rất tuyệt, tứ thơ tân kỳ nhưng nhà thơ lại không đẩy tiếp cái tứ thơ đó lên cao chót vót hoặc xuống sâu thăm thẳm của sự bi thương với xương tàn cốt rụi mà đành ôn tồn dừng lại, quay về thề thốt một đời yêu em khiến ta phải tiếc rẻ cho câu thơ và mỉm cười).


      Thế rôì, 1975, chiến tranh chấm dứt, hòa bình đến, đất nước tràn đầy những hân hoan nhưng cũng lắm cảnh đời dao dác lo âu hoặc ngập chìm trong tuyệt vọng. Còn Xuân Thao thế nào? Anh cặm cụi với cục phấn cái bảng, ngày ngày lên trường lên lớp, đêm đêm tù mù với bài vở, giáo án. Thế là yên hàn. Anh giữ liêm sỉ, dứt khoát không làm thơ nữa! Không một câu. Không một chữ. Không giao không du. Chẳng bạn cũ chẳng bè mới. Chôn vùi bút mực. Đâu còn văn chương, sá gì văn chích. Thời đã thế, thế thôi đành thế!


      Vậy mà Nghiệp Dĩ, dù không nặng lắm, vẫn vướng víu anh. Hơn 20 năm sau, khi tuổi đời đã ngoài ngũ thập, khi mà cuộc phong trần vật hoán tinh di ầm ĩ đã khác xưa, Xuân Thao lại âm thầm làm thơ, như một số bạn bè thân thiết của anh, với những đề tài và chữ nghĩa chừng mực để giải bày phần nào nỗi lòng của riêng mình.


      Ta ngồi ru mãi lòng kiêu bạc

      Giữa một biển điên sóng lộn trời

      (Một thuở xuân thì /1997)


      Ta tang thương suốt Thu, Đông

      Em kêu thương nỗi mất chồng năm nay

      .....

      Mùa xuân , mùa xuân, xuân ơi !

      Đến làm chi để tủi người thiên hương ?

      Ta chia em một chút buồn

      Thơ ta thay rượu, khói hương, viếng chàng

      (Mùa xuân năm ấy 1998)


      2.


      Thơ là người. Với Xuân Thao, có thể nói thế nầy phù hợp hơn: “người là thơ”. Phải là bạn của anh thì ta mới thấu hiểu ngọn nguồn gốc rễ tính cách thơ anh.


      Xuân Thao trầm lặng, ít nói, cốt cách cứ như một nhà trầm tư mặc tưởng, ngay cả thời thanh niên. Thường thì những người làm thơ rất lãng mạn, đa tình, bởi hương vị tình yêu dù ngọt dù đắng vẫn là chất liệu cần thiết cho cảm hứng thi ca. Thế mà với khoản nầy Xuân Thao lại rất ít ỏi . Khỏe hơn chúng tôi, anh khỏi phải thao thức tương tư, thấp thỏm chờ đợi, yêu thầm nhớ trộm, khổ đau vì thất tình, hoặc phân vân ray rứt khi phải đoạn tình. Từ đó chúng ta hiểu vì sao anh không sở trường lắm về thơ tình lãng mạn. Phải chăng “người là thơ” là thế?


      Xuân Thao có những tố chất mà tôi rất quý: khiêm tốn, chân thật, dung dị, mực thước, điềm đạm, trầm tĩnh, không tham vọng, không xu thời xu thế, không a dua theo đóm ăn tàn, không tự sơn phết mình những hào nhoáng rởm. Và trên hết, đó là lòng tự trọng, là sự liêm khiết của một nhân cách trong sáng .


      Cuộc đời anh, như sự an bài tiền định, dù trải qua Dâu kia Bể nọ vẫn phẳng lặng yên hàn. Không thăng không trầm, chẳng thành công to nhưng cũng chưa từng thảm bại. Chưa hề có môt niềm vui lớn nhưng không phải khứng chịu nỗi đau khổ quằn quại nào. Sướng thay! Nhưng cũng tiếc thay, một cảnh đời như thế khó có thể mang lại cho tâm hồn mình và cho thơ những suy tưởng phiêu hốt, những cảm xúc mãnh liệt, những hỉ nộ ái ố tột cùng, để từ đó, khai phá những bờ cõi mới lạ của ngôn ngữ. Anh sống gần như khép kín, thầm lặng, ít giao du. Thơ anh ít người biết, ngay trong thời kỳ viết “tới” nhất khi ở Quảng Ngãi, bởi anh không chịu gởi đăng báo nầy báo nọ ở thủ đô Sài Gòn.


      3.


      Cách nay hơn ba năm Xuân Thao thoát khỏi một cơn bạo bệnh và bắt đầu nghiệm ra lẽ vô thường của cái nhân sinh hữu hạn này. Tôi đến thăm anh lúc sức khỏe anh mới hồi phục, không hiểu sao lại đề nghị anh tu chỉnh và in những bài thơ của một thời để gởi lại đời, hoặc ít ra để lưu dấu với gia đình và một số bạn bè cùng thời cùng cảnh ngộ. Lần đó Xuân Thao đã lắc đầu trước đề nghị bất ngờ của tôi. Giờ đây thì tôi rất vui khi đang viết những dòng tâm sự chân thật dành cho Sóng mòn, tập thơ của một đời thơ Xuân Thao.


      Cả đời Xuân Thao sống không cầu danh nhưng không vì thế mà buộc thơ mình phải chìm vào bóng tối lãng quên của thời gian, nhất là một số bài thơ, sau hơn bốn thập niên, đã trở thành chứng tích của tâm tình một thế hệ trong một giai đoạn lịch sử đầy rẫy đau thương, Và tôi mong rằng, từ nay bạn tôi sẽ không còn ngậm ngùi bên chén rượu, băn khoăn nhìn bóng chiều tà, thẫn thờ tự vấn:


      Đời đã quên ta hay ta lãng quên đời?

      Có hề chi chuyện vật đổi sao dời

      Ba mươi năm vo tròn trong chén rượu

      (Về.../2001)

      Phạm Ngọc Lư

      Đà Nẵng, tháng 9 - 2009
      Nguồn: luanhoan.net



      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Xuân Thao, Thơ và Người Phạm Ngọc Lư Bình luận

      - Biên Cương Hành Phạm Ngọc Lư Thơ

      - Trang Thơ Phạm Ngọc Lư Phạm Ngọc Lư Thơ

      - Hoài Khanh và Thân Phận Phạm Ngọc Lư Nhận định

      - Nén Nhang Cho Người Bạc Mệnh Phạm Ngọc Lư Tạp bút

    3. Link (Xuân Thao)

       

      Bài viết về Xuân Thao

       

      Thơ Bạn Quảng Nam: Xuân Thao (Trần Yên Hòa)

      Xuân Thao, Thơ và Người (Phạm Ngọc Lư)

       

      Tiểu sử (hocxa.com)

       

      Tác phẩm

       

      Trang Thơ Xuân Thao

      Thơ trích tập Sóng Mòn

       

      Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Thái Văn Kiểm (Lãng Nhân)

      - Xuân Vũ: Cây bút lớn trui rèn với kinh nghiệm sống (Lê Văn Lân)

      - Nhìn Lại Một Năm Văn Chương Hải Ngoại

      (Nguyễn Mộng Giác)

      - Nhà Văn (Võ Phiến)

      - Nỗi Băn Khoăn Của Một Người Cầm Bút (Võ Đình)

      - Đầu năm nói chuyện thơ (Trần Long Hồ)

      - TchyA (Lãng Nhân)

      - TchyA Đái Đức Tuấn (Nguyễn Vỹ)

      - Một bài thơ xuân mang nhiều ý nghĩa của thi sĩ Đông Hồ (Trần Từ Mai)

      - Cảnh Tết Xưa (Tạ Quốc Tuấn)

      - Loanh Quanh Chuyện Tết Nhứt (Trần Bang Thạch)

      - Nguyễn Thị Hoàng, tuyển truyện 12 tác giả

      (Viên Linh)

      - Cửa Thiền Nào Chốn Hỏi Mai Hoa (Thái Văn Kiểm)

      - Mùa Xuân Nói Chuyện Hoa (Lưu Khôn)

      - Giới thiệu tạp chí VĂN HÓA NGUYỆT SAN

      (Nguyễn Tuấn Cường)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Đôi mắt La Ronda (Trần Hoài Thư)

      - Bằng Hữu, Thật Sống Đủ Ngay Đây (Phan Nhật Nam)

      - Gặp anh Đặng Tiến và đi thăm Trần Hoài Thư (Phạm Văn Nhàn)

      - Những Giải Thưởng Văn Chương Trên Nước Việt (Nguiễn Hữu Ngư)

      - Đứng Trước Thực Tại (Lý Hoàng Phong)

      - Tản Mạn Về Tính Nhân Bản Trong Thi Ca Miền Nam Thời Chiến (Trần Hoài Thư)

      - Nhận Định Về Thơ Hậu Chiến (Lê Huy Oanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      - Cuộc Phỏng Vấn Văn Nghệ (Nguyễn Ngu Í)

      - Đi tìm nguồn cội (Nguyễn Xuân Hoàng)

      - "Chúng ta đi mang theo Văn học Miền Nam": Trường hợp tạp chí Khởi Hành Bộ Mới... (Nguyễn Tà Cúc)

      - Các ý nghĩ từ một buổi sinh hoạt văn học

      (Phạm Phú Minh)

      - Hiện trạng văn học miền Nam sau 1975 ở miền Nam và ở Hải ngoại (Nguyễn Văn Lục)

      - Những Ý Kiến Chung Quanh 20 Năm Văn Học Miền Nam (Nguyễn Lệ Uyên)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Du Tử Lê,  Dương Nghiễm Mậu,  Hà Thượng Nhân,  Hàn Mặc Tử,  Hoài Khanh,  Hoàng Khởi Phong,  Hoàng Ngọc Hiển,  Hoàng Xuân Sơn,  Huỳnh Hữu Ủy,  Khoa Hữu,  Lâm Chương,  Lâm Hảo Dũng,  Lâm Vị Thủy,  Lê Hữu,  Lê Văn Trung,  Luân Hoán,  Mặc Đỗ,  Mai Thảo,  Ngô Nguyên Nghiễm,  Nguyễn Âu Hồng,  Nguyễn Bắc Sơn,  Nguyễn Lệ Uyên,  Nguyễn Mạnh Côn,  Nguyễn Ngọc Tư,  Nguyễn Phan Thịnh,  Nguyên Sa,  Nguyễn Tất Nhiên,  Nguyễn Thị Hoàng,  Nguyễn Thị Thanh Bình,  Nguyễn Thị Thuỵ Vũ,  Nguyễn Văn Sâm,  Nguyễn Vỹ,  Nguyễn Vy Khanh,  Nguyễn Xuân Hoàng,  Nguyễn Xuân Thiệp,  Nguyễn Đức Sơn,  Nhật Tiến,  Nhất Tuấn,  Phạm Cao Hoàng,  Phạm Ngọc Lư,  Phạm Phú Minh,  Phan Lạc Phúc,  Phan Nhật Nam,  Phan Trang Hy,  Phùng Cung,  Phùng Thăng,  Sơn Nam,  Tâm Thanh,  TchyA,  Thái Văn Kiểm,  Thanh Nam,  Thanh Tâm Tuyền,  Thảo Ca,  Tiểu Tử,  Tô Thùy Yên,  Trần Hoài Thư,  Trần Mộng Tú,  Trần Phù Thế,  Trần Thúc Vũ,  Trần Tuấn Kiệt,  Trần Văn Nam,  Trần Yên Hòa,  Trịnh Y Thư,  Từ Thế Mộng,  Viên Linh,  Võ Phiến,  Vũ Hữu Định,  Vũ Khắc Khoan,  Xuân Thao,  Xuân Vũ,  Y Uyên,  Đặng Phú Phong,  Đào Anh Dũng,  Đỗ Quyên,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)