align="left"
  1. Head_
    Y Vân
    (.0.1933-28.11.1992)
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. align="left" Ad-21 Ad-21 (Google - QC3) (Học Xá)

      21-04-2013 | VĂN HỌC
      TRANG THƠ PHẠM NGỌC LƯ

      Share File.php Share File
          

       

      Rụng Tim Người                         Bên Sông

      Đêm ngồi café lộ thiên                Đất trích

      Biên Cương Hành                       Cố Lý Hành

      Sóng Vỗ                                    Nhớ Làng

      Huế- Ngày về                             Phù Dung

      Chỉ Còn Đan Tâm                       Bàn Tay

      Người Trăm Năm Trước              Tuy Hòa Tái Ngộ

      Trở Về Phá Tam Giang               Túy Hoài

      Huyễn Mộng                              Nhớ Trầm

      Mọc lên một đoá                        Ngó trời

      Niệm Đặng Dung                        Bâng Khuâng Mùa Rụng

      Gửi một thuở tình suông             Lập Thu

      Nằm Mộng                                Mười Năm Nước Chảy

      Cuốc Đất Mà Chơi                     Vô Tình

      :: Rụng Tim Người


      Uổng tình tôi một hòn đá vụn

      Rớt vô tình xuống đáy sông tan

      Cuốn theo tiếng hú hồn lẩy bẩy

      Bay trên dòng nước siết mang mang

      ......

      Người đến chi rét mầu nắng quái

      Chốc nữa về đau ngọn mưa điên

      Gớm chưa! mây một trời tan tác

      Tôi một mình quấn quýt oan khiên


      Bỗng ngó lại đời rung cánh đập

      Nát lòng chưa ngàn giọt mưa xuyên

      Nằm giả chết xuôi thân lá úa

      Lá rụng thầm... cũng đủ vỡ tim

      1970

      Trích: Thơ Tình Miền Nam, Thư Ấn Quán - 2008.




      :: Bên Sông


      Chảy di chảy đi

      Hởi sông buồn lắm

      Nước thôi chờ chi

      Thuyền xưa đã đắm

      Người đi người đi

      Trăm năm bến vắng

      Xa hút bờ kia

      Bóng người mây thoáng


      Chảy maau chảy mau

      Đời nông tình cạn

      Mà nước quá sâu

      Trăm chiều khổ nạn


      Ta bơi qua sông

      Mới hay đời nặng

      Đời có như không

      Tiếc gì tay trắng

      Thôi thà rêu rong


      Ta gieo xuống sông

      Vỡ dòng nước chết

      Nước đứng tim đêm

      Ta còn thở hết?


      Chảy đi chảy đi

      Người về đâu biết

      Chảy mau chảy mau

      Đời: con nước siết

      Tình: vực nước sâu

      Em: dòng ly biệt

      Ta chiếc lá chìm


      Chảy thôi chảy thôi

      Còn trông còn ngóng

      Nhớ ai gương xưa

      Chờ ai cửa rộng

      Đưa ai tiễn ai

      Phai hình mất bóng

      Khổ lắm người ơi

      Qua sông mất nón

      Sông trôi sông trôi

      Về đâu mà đón

      Thôi hẹn hò chi...


      Với người xưa ấy

      Đã khói sương che

      Chút tình xa ngái

      Đã cách bến bờ

      Biết lòng không đậu

      Trông chi thuyền về

      Người như khung cửa

      Khép lại hững hờ


      Người như gương vỡ

      Trăm năm lỗi thề

      Người như phong vũ

      Lạnh màu thê thê...

      Tuy Hòa, 1972, (Tập san VĂN)

      Trích: Thơ Tình Miền Nam, Thư Ấn Quán - 2008.




      :: Đêm ngồi café lộ thiên


      thương ai mà nhớ nát lòng

      chanh chua, đá lạnh, rượu nồng chưa nguôi

      ngồi đây chưa tỏ bóng đời

      đêm trong vườn chợt rụng rời trái non

      nghe ra dạ đắng bồ hòn

      thuốc tàn rượu hết tình còn lâng lâng

      yêu ai bủn rủn tâm thần

      tình chưa đi trọn mà chân mỏi rồi.

      Trích: Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến. tập I, Thư Ấn Quán - 2007.




      :: Đất trích


      Mươi lít gạo trộn vài cân muối

      Nấu với tình em ăn vẫn ngon

      Tình em nước sông Ba đầy bát

      Đời ta như nồi trống niêu trơn


      Bốn phía rừng xanh mầu nước độc

      Đông tây nam bắc núi chận đường

      Một lũng đất bằng khu chén nhỏ

      Trói chân ta vào chân Trường Sơn


      Bó đời ta nửa manh chiếu rách

      Đêm nằm mộng lớn nuốt mộng con

      Chiêm bao cứ thấy mình mọc cánh

      Bay với chim trời ra cố hương


      Canh khuya cọp gầm vang núi Lá

      Giật mình tưởng ai gọi đầu non

      Nằm chi đây, thân tàn đất trích

      Chờ ai đây, đói lã chết mòn


      Mươi nắm gạo trộn vài vốc muối

      Đeo lên vai nặng nghĩa đầy ơn

      Mai ta bỏ thân ngoài sạn đạo

      Xin tình em một mảnh đất chôn

      Củng Sơn, 1971

      Trích: Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến. tập I, Thư Ấn Quán - 2007.




      :: Cố Lý Hành


      Chiều chết đuối trên sông ngờm ngợp

      Nước đua chen đớp bọt nắng tàn

      Đò qua sông đìu hiu bến đợi

      Buồn rút lên bờ cây khai quang

      Mây đổ xù lông như chó ốm

      Trời bôi nhòe mặt ngóng đêm sang

      Thôn ổ tiêu sơ gầy khói bếp

      Đồng không mốc thếch lạnh tro tàn


      Có biết ta về không cố lý?

      Mười năm chưa lạ mặt xóm làng

      Sao phên giậu nghiêng đầu câm nín

      Rơm rạ làm thinh chẳng hỏi han

      Cổng khép rào vây vườn cỏ dại

      Tường xiêu mái rách bóng nhà hoang

      Ngõ vắng bàn chân như hụt đất

      Tre già đang kể chuyện chôn măng

      Nương rẫy đang phơi lòng dâu bể

      Nói làm sao hết nỗi bàng hoàng?

      Khóc làm sao vừa lòng cố lý?

      Phải đây là cố lý ta chăng?

      Đâu bóng mẹ già sau khung cửa

      Và những người em mặt trái xoan

      Đâu bóng chị hiền như hoa cỏ

      Bên luống cà xanh liếp cải vàng!


      Đất đá thở ra mùi u uất

      Bốn bề hun hút rợn màu tang

      Ai chết quanh đây mà cú rúc

      Mà cơn gió lạnh réo hồn oan

      Ai trong muôn dặm không về nữa

      Cố lý mười năm mộng bẽ bàng

      Cố lý mười năm ngày trở lại

      Như ngày Lưu Nguyễn xuống trần gian!

      1972

      Trích: Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến. tập I, Thư Ấn Quán - 2007.




      :: Sóng Vỗ *


      Từ khi mưa nắng đổi thay

      Đất trời dị biệt gió mây bất đồng

      Người bờ Tây - ta bờ Đông

      Ngồi nghe sóng vỗ bạc lòng ngày đêm...


      Giờ này phương ấy nắng lên

      Ở đây ta đốt ngọn đèn soi ta

      Giờ này phương ấy nắng tà

      Ở đây thao thức tiếng gà tàn canh

      Nằm mơ biển ngọt dỗ dành

      Tỉnh ra tâm sự kết thành muối khô

      Từ khi Tý Ngọ khác giờ

      Đêm không đồng mộng, đành mơ... mộng ngày

      Lòng ta uống gió mà say

      Tan ra cồn khói đảo mây chập chờn...

      Biển sâu? Ly biệt sâu hơn!

      Muôn đời sóng vỗ mỏi mòn bến không

      Mỏi mòn tiếng sóng nghe chung

      Bờ Tây tóc rụng... bờ Đông bạc đầu!

      (Đà Nẵng 2002)



      :: Nhớ Làng *


      Dài đêm rả rích mưa suông

      Bỗng đâu dăm tiếng ễnh ương dội về


      Làng quê? Phải tiếng làng quê?

      Ao khô hồ cạn não nề kêu mưa

      Làng xưa! Ôi tiếng làng xưa!

      Tiếng trong tiếng đục mấy mùa nước nôi

      Lòng tôi? Bao tiếng lòng tôi!

      Tiếng câm tiếng nghẹn một thời tang thương


      Mấy mươi năm ở phố phường

      Đêm nay nghe tiếng ễnh ương nhớ nhà

      Nhớ làng vời vợi xót xa

      Nhớ quê muôn dặm chắc là đang mưa

      Thấm lòng bùn đọng nước chua

      Ễnh ương đâu biết... tôi vừa bật kêu!

      (tháng 9.2002)


      (*) Tòa soạn ghi thêm:


      ... Sau 1975, Phạm Ngọc Lư đưa vợ con về Huế, những không thể chịu đựng nổi cảnh hàng ngày phải gánh từng đôi nước cách xa cả hàng cây số để tưới cho những vồng khoai lang khô cháy, mới gửi vợ con về quê ngoại (Qui Nhơn) và lang bạt vào Long Khánh, sau đó là Cao Lãnh kiếm sống. Cái miếng ăn thời "bao cấp" với nhiều người đã khó, và với anh càng khó hơn. Cuối cùng lại bồng bế nhau quay về Đà Nẵng để buôn văn bán chữ (kèm tiếng Anh cho trẻ con). Trước khi Hành Phương Nam, Lư ghé lại Tuy Hòa, nơi trước đây anh từng dạy học, viết văn để thăm bạn bè cũ (l979). Bữa cơm chia tay tại nhà chúng tôi chỉ có hột vịt đổ chả, nước mắm ớt và cơm trắng. Lư ngồi ăn và nói: "mình chưa ăn bữa cơm nào trong đời mà ngon như hôm nay". Nghe mà đau thắt cả lòng.


      Phạm Ngọc Lư có những truyện ngấn rất Trung bộ, có duyên trên Văn, Bách Khoa, Nghệ Thuật... Còn nay, trong thế anh viết: "Con đường văn chương của tôi quá ngắn ngủi, sau 75, coi như tuyệt lộ. Đáng buồn. Tiếc thay giấc mộng của một thời thanh xuân! Bất phùng thời, đành vậy... không chơi, không tham dự gì với nền văn học nghệ thuật đương đại từ đó đến nay, và mãi mãi.". Ở đoạn khác anh viết: "Muôn viết văn xuôi lắm nhưng chắc phải học lại đã, lâu năm quá chữ nghĩa sét gỉ hết rồi... Thỉnh thoảng nghe VOA có biết TQBT. Nghe và lòng ít nhiều nôn nao, bỗng dưng quá khứ phục hiện, bằng hữu một thời tái hiện, bồi hồi giật mình khi thấy mình cứ chìm xuống bóng tối của thời gian lặng lẽ, rồi thở dài và thở dài" (NLU)

      Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 9 Tháng 1, 2003.



      :: Huế- Ngày về


      Ngày về - Về Huế - Huế xưa

      Về em xuân muộn - anh vừa chớm thu


      Đưa nhau ra bến sa mù

      Lơ ngơ kỷ niệm chần chừ bước theo

      Lòng em đẩy nhẹ mái chèo

      Trôi đi... trôi với bọt bèo lòng anh...


      Đưa nhau qua mấy cửa thành

      Màu rêu bất tuyệt còn xanh não nùng

      Xưa chờ em cửa chính Đông

      Anh in vào đá nỗi lòng héo hon

      Xưa tìm em cửa Hiển Nhơn

      Đá câm gạch lạnh rêu mòn dấu tay...


      Sao lòng ngèi nghẹn nước mây

      Trôi đi... trôi với tháng ngày mù sương

      Đưa nhau qua những con đường

      Thâm u lá rụng cuối vườn tịch liêu

      Xưa em guốc mộc khua chiều

      Giấu trong tà áo ít nhiều vu vơ

      Anh qua cửa phủ đứng chờ

      Chiều em về muộn rêu mờ dấu chân...


      Sao lòng gợn sóng bâng khuâng

      Mây trôi... nước lại ngập ngừng chưa trôi

      Trôi đi... bèo bọt một thời

      Mái chèo tâm sự... rã rời lòng nhau


      Đưa em lên ngọn giang đầu

      Chia ly ngày ấy rầu rầu Huế mưa

      Sông Hương no nước căng bờ

      Tim anh cuồn cuộn - lững lờ tình em!

      Tình ơi không nặng sao chìm

      Trăm năm rời rợi nằm im đáy lòng!


      Rồi thôi... gió bụi mịt mùng

      Cuốn em ra khỏi khuê phòng đài trang

      Rồi thôi... nước mắt lỡ làng

      Vùi trong vạt áo vô vàn tiếc thương


      Ngày về... lặng khói im sương

      Về trong Huế mới... buồn buồn Huế xưa

      Về em ngấn lệ chưa mờ

      Về anh tay lạnh thẫn thờ nâng tay

      Nhìn nhau lòng nghẹn nước mây

      Hồng nhan em cạn... anh đầy đa truân

      Lòng như gợn sóng bâng khuâng

      Chuyến đò dĩ vãng tần ngần... đang trôi

      Trôi vô lòng Huế - Huế ơi!

      mùa thu năm 2000

      Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 10 Tháng 4, 2003.



      :: Chỉ Còn Đan Tâm


      (Gửi nàng Thơ và tình Thơ)

      Xưa ta cầm tuổi hai mươi

      Vay em nhan sắc về nuôi tâm hồn

      Nuôi bao mộng mị vàng son

      Một đêm trắng mộng... chỉ còn đan tâm!


      Kể từ bén tiếng tri âm

      Nợ tình lẽo đẽo bao năm dày vò

      Đời cùn, chí cạn, lòng khô

      Hồn ta xanh một nấm mồ tịch liêu!


      Mười lăm năm nát thân Kiều

      Còn thân ta nát bao nhiêu năm rồi?

      Đoạn trường tuế nguyệt gấp đôi

      Từ đêm trắng mộng, vốn lời trắng tay!


      Vật vờ hồn khói xác mây

      Thoát đêm mộng dữ gặp ngày hỗn mang

      Đi trong địa ngục huy hoàng

      Gặp em trước cổng thiên đàng xác xơ

      Ôm nhau đồng thiếp bóng trưa

      Buông nhau rơi xuống chiều mưa mịt mùng

      Dìu qua bến sắc bờ không

      Chơi vơi ngã xuống muôn trùng phù vân

      Bất ngờ tái ngộ thanh xuân

      Cầm tay nhan sắc... rưng rưng cúi đầu

      Ôm ta... ôm nỗi buồn đau

      Vòng tay nghiệp dĩ siết nhau đứt lìa!


      chong đèn thức với mưa khuya

      Hồn thơ xác chữ đầm đìa mưa xanh

      Mộng con, mộng lớn tan tành

      Chỉ còn bút mực đan thanh tươi màu

      Bao nhiêu năm nợ nần nhau

      Tình ta trăm bể ngàn dâu héo mòn

      Trao em một tấc lòng son

      Mai kia bia mộ tâm hồn... đề thơ...

      4.2003

      Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 11 Tháng 7, 2003.



      :: Phù Dung


      Phải em là khách chiêm bao?

      Từ đêm thiên cổ lạc vào đêm nay

      Xiêm vàng áo giấy lay bay

      Mơn man nét khói đường mây đa tình


      Em từ quê quán Vô Minh

      Thoát thai cát bụi tái sinh đào hồng

      Khuya nay mở quán Phù Dung

      Mời ta khai vị sắc lòng phấn hương


      Đêm xưa tao ngộ Tầm Dương

      Nhận ra giòng dõi đoạn trường với nhau

      Khóc cười chung một biển dâu

      Tài hoa đồng hội, khổ đau đồng thuyền


      Phong trần xé áo rách xiêm

      Ba đào đắm mộng, truân chuyên hớp hồn

      Ta chơi vơi giữa sinh tồn

      Em chưa thoát nợ phấn son kiếp nào

      Đêm nay rượu gửi tình trao

      Đề thơ lên cửa chiêm bao, chạnh lòng...


      Lạnh dần một quán hư không

      Khép dần một đoá phù dung vô hình

      Em chìm xuống đáy Vô Minh

      Bỏ ta trên bến nhân sinh bàng hoàng

      Sương rơi, đêm cạn, quán tàn

      Cô đơn vòi vọi... trần gian ta ngồi

      Chung quanh vẫn vậy cuộc đời!

      (1999-2003)

      Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 14 Tháng 4, 2004.



      :: Bàn Tay


      Tặng Nguyễn Lệ Uyên, tác giả truyện "Vợ chồng già"

      Đêm đêm môi ngậm mắt ngùi

      Đào sâu thương tiếc chôn vùi xót xa

      Bốn bàn tay quá thật thà

      Lau mưa rửa nắng cứ là tay trơn!


      Lau chùi xác áo xơ cơm

      Hai mươi ngón mỏi ngón mòn ốm o

      Níu nhau: đau đớn dày vò

      Rời nhau: Tang-hải-trận-đồ bủa vây.


      Từng đêm anh trở em xoay

      Biết đâu bụi đỏ trói tay nhau rồi!

      Xót xa thân ngậm thế ngùi

      Em lau bạch lệ anh chùi phù vân

      Bốn bàn tay vẫn trắng ngần

      Đem thanh cao chọi phong trần, mà chơi!

      Hai mươi ngón rã ngón rời

      Đêm đêm ấm lạnh... bồi hồi dìu nhau.

      12-2003

      Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 14 Tháng 4, 2004.



      :: Người Trăm Năm Trước


      Người trăm năm trước về chơi?

      Y thường vẫn đẹp, mắt môi đang nồng...


      Gặp nhau đêm hội Phù dung

      Nhận ra thanh khí tương đồng, kết giao

      Biết ta thua trận Ba Đào

      Thiên Thư vạn quyển trôi vào hư vô

      Biết người hồn mỏng như tơ

      Căng ra mà nối hai bờ Âm Dương

      Tỉnh người lệ kết tình sương

      Mà nay ẩn một trùng dương sóng cồn

      Ta thì chất ngất cô đơn

      Giương lòng khinh bạc che hồn đan thanh

      Bách niên chi kế bất thành

      Uổng hồng môi nọ, tiếc xanh mắt này!


      Thôi thì ngẫu hợp đêm nay

      Trăm năm vẫn ngọt vòng tay nõn nà

      Lìa nhau, người bỗng khóc ta:

      Hồng nhan đang mặn… tài hoa phai rồi!


      Giật mình... gió hú ma trơi

      Dưới cồn sương lạnh trên đồi trăng khô

      Nhìn nhau... bối rối sững sờ:

      Người trăm năm trước... không ngờ: hồn ta!

      01.2004

      Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 16 Tháng 10, 2004.



      :: Tuy Hòa Tái Ngộ

      Tặng Trần Huiền Ân, Võ Tấn Khanh, Mang Viên Long, Nguyễn Lệ Uyên

      Vẫn người xưa, vẫn trăng này

      Rượu nguyên tiêu cứ rót đầy thâu đêm

      Thâm tình còn mấy anh em

      Và người rót rượu tay mềm như trăng

      Ba mươi năm... ba mươi năm

      Vẫn xanh đôi mắt đăm đăm một thời

      Nâng cao bao chén rượu mời

      Chén buồn hắt xuống ngàn khơi muôn trùng

      Chén vui xin cụng môi hồng

      Chén buồn chén tủi tạ lòng Trước Sau

      Kể gì sớm bể chiều dâu

      Tấc-Lòng-Thiên-Cổ bạc đầu chưa yên (*)

      Xưa ta đồng nội hoa niên

      Ba mươi năm vẫn đồng thuyền, ô hay!

      Vẫn tình xưa, vẫn đất này

      Kể chi vật đổi người thay, thắt lòng!


      Cụng đầu... một chén uống chung

      Ba trăm năm nữa... tương phùng phương nao?

      16-02-2003

      (*) "Ta hồ! Văn chung chi sự, thiên cổ thốn tâm" (cổ văn)

      Trích từ tập thơ Đan Tâm. Thư Ấn Quán in lại - tháng 10 năm 2004.



      :: Trở Về Phá Tam Giang


      Phá Tam Giang, phá Tam Giang

      Gió hiu hiu sóng gợn mơ màng

      Trời vẫn xanh màu xanh cố cựu

      Mây trầm ngâm, khói nước miên man


      Mười năm dong ruổi mòn đất khách

      Về cố hương chiều xế bóng tàn

      Bỏ nón, tháo giầy, xăn tay áo

      Rửa phong trần thẹn với Tam Giang


      Kè đá rêu xưa ngâm bến cũ

      Còn người đi người đợi đò ngang

      Còn xóm chài lưa thưa mành lưới

      Còn nhấp nhô thuyền thúng thuyền nan


      Không còn người chèo đò năm xưa tóc bạc

      Cô lái đò chiều nay trán nhăn

      Trừng mắt nhìn ta trách móc

      "mười mấy năm chú mới về làng"


      Mười mấy năm? Phải rồi, ta quên mất

      Cái thuở áo cơm trở mặt phủ phàng

      Điêu đứng năm Mùi ra đi năm Tuất

      Ra đi mưu cầu y thực

      Trở về nặng trĩu gian nan


      Nhớ buổi ra đi thân tình đưa tiễn

      Vợ xếp trang thơ chị gói khúc đàn

      Đệ tử mươi người tung hô dâng rượu

      Thôn nữ vài em gởi gắm gió trăng

      Mẹ tóc trắng nhìn theo lặng lẽ

      Con tóc xanh hai đứa dùng dằng

      Ta mím môi, chỉ Tam Giang thề hẹn

      Không là Tương Như mà khí khái dâng tràn

      Bước xuống thuyền nhìn trời cao dõng dạc

      Gõ mạn thuyền ngâm khúc "Hành Phương Nam"


      Hành phương Nam, hành phương Nam

      Mười mấy năm tấm cám, thau vàng

      Thấp cao danh lợi

      Chí khí dở dang

      Tơi tả bao phen buồn thân thế

      Đắng cay mấy bận kiếp hồng nhan

      Mưa miền Nam, nắng miền Nam

      Trông mây thấp thỏm, nghe gió bàng hoàng

      Mười mấy mùa trôi qua không nhớ

      Quá đổi mưa đau

      Quá nhiều nắng khổ

      Lẽ nào Trời bỏ ta chăng?

      Đọc thơ Nguyễn Bính chua tâm sự

      Đọc lại thơ mình thẹn gió trăng

      Chén rượu quê người sao mà bạc

      Ân tình đất khách lắm đa đoan

      Chiều nay về... bên phá Tam Giang

      Phía bờ Đông vẫn xóm vẫn làng

      Mười mấy năm còn ai trông ngóng

      Mười mấy năm mỏi mòn ước vọng

      Mẹ có thương con gió bụi lầm than?

      Chị có xót em một đời thất chí?

      Em không buồn ta?

      Sao lòng ta phai nhạt đá vàng?


      Phá Tam Giang, ôi phá Tam Giang!

      Gió hiu hiu sóng gợn mơ màng

      Nước vẫn mặn mòi, mây quen thuộc

      Sao lòng ta sóng gió ly tan

      Xin xấu hổ với lời thề ngày trước

      "Không công danh bất phục hoàn"


      Xin biết ơn cô lái đò nhân hậu

      Còn thương ta mời ta quá giang

      Thôi rửa hết phong trần nơi bến nước

      Để trở về... đứng khóc dưới hương quan!


      Trích từ tập thơ Đan Tâm. Thư Ấn Quán in lại - tháng 10 năm 2004.



      :: Túy Hoài

      (Gởi Quan San
      Gẫm thân ly khách man man túy hoài)

      Uống cạn mươi ly

      Nhớ quên rồi cũng hết

      Trời buổi chiều bỗng dưng mù mịt

      Đầu ta như khói bốc miên man

      Lòng lênh đênh lạnh buốt sông Hàn


      Cơn say nào cao vút Hải Vân

      Ta bay vèo… mây gió lâng lâng

      Xôn xao trời thu tung tăng hoàng diệp

      Mênh mông ngàn thu... rụng rời thương tiếc


      Ô hô!

      Ngươi có – ta không

      Ta còn – ngươi mất

      Thoắt bóng thoắt hình

      Chập chờn hư thực

      Chưa say, ném hồ trường qua biển Bắc

      Yên ba tan tành im bặt

      Hương quan gờn gợn mù tăm

      Say rồi, tung chén rượu xuống trời Nam

      Trời Nam ào ào mưa ngây ngất

      Giang hồ lênh láng, sóng lên men

      Say rồi,

      Nhớ tuổi quên tên

      Xót lòng trông cây nhớ cội

      Phải ngươi ba chìm bảy nổi

      Bắt ta mười kiếp long đong

      Mây có – gió không

      Tình câm – thơ điếc

      Giai nhân còn mà anh hùng hết

      Chưa mùa đông sao tóc xanh rơi bạch tuyết.

      Ngũ thập rồi, tay trắng xóa bạch vân

      Ô hô!

      Thiên địa vô cùng

      Uống say mà khóc Đặng Dung - Thuật hoài!


      Khóc rồi,

      Đập nát cơn say

      Hốt nhiên bừng bừng hào khí

      Vươn vai nhập thân hào sĩ

      Dậm chân nổi gió Đông – Đoài

      Cởi chim hồng nhạn mà bay

      Theo trăng qua Đằng Vương các

      Thâu lại hồ trường nơi biển Bắc

      Nhặt lên chén rượu cuối trời Nam

      Chơi hết tháng ngày chưa tương đắc

      Tung hê cơm áo bất phùng thời


      Uống nữa ngươi ơi

      Một ngàn ly một lần xin cạn

      Ấm lạnh sông Hàn ơi!

      Chỉ còn ngươi…

      Chỉ còn ngươi soi bóng ta thôi

      tháng 10, 1994

      Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 19 Tháng 4, 2005.



      :: Huyễn Mộng


      Xuân tình phì nộn tốt tươi

      Một năm xuân sắc trên người bất kham

      Liếc ta một khóe hồng nhan

      Ranh ma chồn cáo điếm đàng mắt môi

      Cầm con dao nhọn săm soi

      Găm lên miếng vận miếng thời, ba hoa

      Cuốn lên váy mị xiêm tà:

      Miếng mê miếng hoặc nở hoa đỏ lòm:

      Màu hoa anh túc nhiếp hồn

      Màu môi rờn rợn tô son huyết người

      Mơ màng mặt tốt mày tươi

      Sướng em ngả ngớn nói cười huênh hoang

      Muốn nhe răng cắn hồng nhan

      Giận thân lực khí tàn... ngồi câm

      3. 2005

      Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 20 Tháng 7, 2005.



      :: Nhớ Trầm


      Lòng ấp ủ một làn hương

      Từng đêm âm ỉ lịm buồn lửa tro

      Từng đêm le lói, cơ hồ...

      Người về thắp mộng đốt lò chiêm bao


      Cháy lòng từng ngọn khát khao

      Từng canh hoài tưởng cồn cào tro than

      Cứ nghi ngút khói mơ màng

      Sao người tắc mộng khép làn hương đau!

      Đắng lòng ngậm biển nuốt dâu

      Treo chân địa võng gối đầu thiên la

      Đất - trời - im - lặng trêu ta

      Mùi hương ấp ủ... chỉ là hương câm!

      4. 2005

      Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 20 Tháng 7, 2005.


      hà nội, 2.6.2012



      :: Mọc lên một đoá


      Nằm dài trước mặt trùng dương

      Dang ra... mở hết ngọn nguồn châu thân

      Phơi em hơ hớ trắng ngần

      Cơ hồ một đoá bạch vân tượng hình

      Hương trời sắc nước kết tinh

      Như chưa hề vấy dục tình trần gian


      Rướn người em thở hân hoan

      Với đê mê sóng mịn màng trườn qua

      Lịm người trước biển bao la

      Ồ... em dang rộng... mở ra muôn trùng

      Mọc lên một đoá hư không!

      8.2005

      Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 21 Tháng 10, 2005.




      :: Ngó trời

      (Tặng Nguyễn Lệ Uyên)

      Gối tay nằm ngửa ngó trời

      Mây... mây hí lộng vẽ chơi đủ trò


      Quen tay vẽ chó đầu to

      Vẽ trâu mặt cụt cỡi bò lưng cong

      Vẽ chồn đổi lốt thay lông

      Mỏi tay vẽ rắn vẽ rồng linh tinh...

      Chán phèo một lũ súc sinh

      Xoá đi... vẽ đám âm binh lộn đầu

      Mặt lừa lưng ngựa vai trâu

      Những hình nhân khéo tô râu điểm mày

      Vẽ thằng nam đang múa may

      Vẽ thân con nữ vỗ tay reo mừng


      Xem trò vân cẩu... cẩu nhân!

      Ngứa tay, lột cái phong trần vẽ chơi

      Tung hê... vung vãi khắp trời

      Ào ào gió nổi... mây trôi cuống cuồng.


      Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 21 Tháng 10, 2005.




      :: Niệm Đặng Dung


      Mài gươm!

            Gươm khuyết bao giờ?

      Cắm chuôi gươm gỉ trước mồ trượng phu!

      Cảm hoài khí tiết thiên thu

      Ngâm câu "thế sự du du..." lệ nhoà

      Lão hà! Ôi... nại lão hà! (*)

      Mày râu vô mệnh hoá ra tầm thường


      Cúi đầu trả lại thanh gươm

      Trăng tà đá khuyết... mài suông nỗi lòng.


      (*) Câu đầu trong bài thơ Thuật Hoài của Đặng Dung (tuẫn tiết năm 1413): "Thế sự du du nại lão hà"

      Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 21 Tháng 10, 2005.




      :: Bâng Khuâng Mùa Rụng


      Gói bằng màu đỏ lá phong

      Gởi về tôi một sắc lòng còn tươi

      Vô tình gói cả mùa rơi

      Mang mang phong vị phương trời tri âm


      Bồi hồi khói quyện "đan tâm"

      Có ai vừa thả hương trầm vào thơ?

      Mà thao thức nhúm tàn tro

      Mà nghe mực nghẹn bút khô thở dài!


      Mơ màng đang chạm tay ai

      Bâng khuâng mùa rụng... nhặt vài lá phong

      Gói giùm tôi một nỗi lòng

      Thả vào mây trắng bềnh bồng chiều thu...

      9.2005

      Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 22 Tháng 1, 2006.




      :: Gửi một thuở tình suông


      Ú ớ tìm nhau đêm mộng du

      Tài hoa điếc lác giai nhân mù

      Ê chề hương lửa như cơm nguội

      Rỗng cái tình suông lúc mãn thu


      Sóng soải một hồng nhan ẩm mốc

      Thườn thượt buồn nỗi buồn nhọn hoắt

      Em và ta tua tủa gai non

      Săm soi nhìn nhau mặt đanh mặt


      Nhìn xuống bóng mình nằm lạnh ngắt

      Nhìn ra rần rật mây đùa mây

      Nhìn quanh cửa đóng đời im ỉm

      Nhân thế đi rồi bỏ ta đây?


      Kìa em sống sượng chùi son phấn

      Đo cái truân chuyên xem mỏng dày

      Cởi cái đa tình trau chuốt lại

      Lột nỗi buồn rửa gió lau mây


      Thôi ghé đời nhau như quán trọ

      Bởi cái trăm năm quá vội vàng

      Một tấm tài hoa còn mấy tấc

      Ơ hờ đắp điếm mảnh hồng nhan


      Ơ hờ kéo áo che tâm sự

      Hai nỗi lòng bốn phía hở hang

      Chiều thu xuống gió như trêu cợt

      Đụng cái tình suông kêu rổn rang.

      Tháng 11.2005

      Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 24 Tháng 7, 2006.




      :: Lập Thu

      (Tặng Ngô Kim Chi)

      Gió lập thu thổi ướt lòng

      Áo tà em mỏng phập phồng nao nao

      Ngàn cây ngây gió xôn xao

      Và mây về tự hôm nào đang trôi


      Thổi về một chút thu thôi

      Mà hiu quạnh thấu đất trời tịch không

      Mình em khép nép qua sông

      Dài tay kéo sợi che lòng bâng quơ


      Sau tà khói mỏng phất phơ

      Màu thu như nhuộm hai bờ Vân giang

      Lòng em như lá mơn man:

      Nửa xuân xanh biếc, nửa vàng theo thu.

      2005

      Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 25 Tháng 10, 2006.



      :: Nằm Mộng

      (Tặng Hải Phương, khi ở San Jose)

      Em nằm ngủ mái tây hiên

      Vàng tươi nguyệt thắm hồn nhiên như là

      Từ trong viễn mộng trôi ra

      Chảy dung nhan xuống giang hà chiêm bao


      Em nằm mộng - mộng tào lao

      Trần truồng như cá lội vào hư không

      Đẻ ra hạt trắng hạt hồng

      Nở ra muôn đóa phù dung hão huyền


      Em nằm mộng - mộng vô duyên

      Khỏa thân đọ với vô biên vô cùng

      Rập rờn đuổi sắc bắt không

      Như con bướm chợt bay trong biển mù


      Bay qua dằng dặc thiên thu

      Tam thiên thế giới tù mù mọc ra

      Tứ thiên huyễn mộng ngụy tà

      Xô em xuống cái ta bà nằm trơ!

      1995 - viết lại 2005)

      Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 25 Tháng 10, 2006.




      :: Mười Năm Nước Chảy


      Qua về nhẵn mặt con sông

      Đời trôi nước chảy suông lòng nào hay

      Ngày qua hối hả theo ngày

      Cứ giang đông sớm, thoắt tây ngạn chiều

      Thoắt mười năm chảy xiết theo

      Còn trơ nước bọt mây bèo bám chân


      Qua về hổn hển phong vân

      Hồn như núi dựng mà thân trôi hoài

      Trôi trôi... lầm lũi miệt mài

      Ngờ đâu mây nổi trên vai bồng bềnh

      Đâu ngờ cạn cợt nhân sinh

      Mà chao lượn gớm! dập dềnh cũng ghê!


      Ngày trôi tháng chảy ê chề

      Mười năm nhẵn mặt qua về ngó sông

      Đời trôi lũ lượt một dòng

      Căm căm tâm sự ôm lòng không trôi!

      8-2004 (chẵn 10 năm ngụ cư ĐN)

      Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 28 Tháng 7, 2007.




      :: Cuốc Đất Mà Chơi

      tặng Hạ Đình Thao & Lê Văn Trung

      Giao vườn nộp ruộng lìa quê

      Ra đi như thể trời thuê đi đày

      Thân không dung nổi đất này

      Lan man chi chuyện khói mây phương trời

      Mấy năm đời đổi - đổi đời

      Râu cùn mày cụt tả tơi chí tàn

      Thú cầm biết giữ ổ hang

      Cớ sao ta phải bỏ làng mất quê?

      Bao năm bấm bụng không về

      Vườn xưa ruộng cũ cứ nghe mọc nhà...


      Người xưa "thiên hạ vi gia"

      Nay thiên hạ bỏ mặc ta lưu đày

      Ngâm câu vận khứ... thời lai

      Nghe đau lưỡi cuốc đang mài mồ hôi

      Quê người cuốc đất mà chơi

      Cơ hồ đang cuốc ruộng trời trồng mây!

      7 - 2007

      Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 34 Tháng 12, 2008.




      :: Vô Tình

      tặng BT

      Em đến, lập đông, chiều nắng ngọt

      Tôi về, thời tiết ngỡ nằm mơ

      Đa tình cái gió Tuy Hòa mặn

      Xao xác lòng nhau gió ỡm ờ


      Đắm đuối xanh chiều xanh sóng mắt

      Mắt uống hoàng hôn sao tôi say?

      Ngông nghênh mua hết Tà Huy quận [*]

      Đổi hồng nhan một nét chân mày


      Hư ảo mùi hương chiều túy mộng

      Tôi chơi vơi quên lửng trần ai

      Vô tình con mắt Tuy Hòa nhọn

      Cắm xuống hồn thơ... tiếng thở dài!

      12-2012

      [*] Tà Huy = Tuy Hòa

      Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 55 Tháng 1, 2013.


      Ad-22-A_Newest-Feb25-2022 Ad-22-A_Newest-Feb25-2022


      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Xuân Thao, Thơ và Người Phạm Ngọc Lư Bình luận

      - Biên Cương Hành Phạm Ngọc Lư Thơ

      - Trang Thơ Phạm Ngọc Lư Phạm Ngọc Lư Thơ

      - Hoài Khanh và Thân Phận Phạm Ngọc Lư Nhận định

      - Nén Nhang Cho Người Bạc Mệnh Phạm Ngọc Lư Tạp bút

    3. Bài viết về nhà thơ Phạm Ngọc Lư (Học Xá) Ad-31 Ad-31 = QC_250-250 (Học Xá)

       

      Bài viết về Phạm Ngọc Lư

       
      Cùng Tác Giả (Link-1)

      Nhớ Phạm Ngọc Lư (Nguyễn Lệ Uyên)

      Vài suy nghĩ Về Tập Truyện Sợi Khói Bay Vòng Của Phạm Ngọc Lư (Đỗ Trường)

      Vài cảm nghĩ về thơ và truyện Phạm Ngọc Lư (Nguyễn Vy Khanh)

      Lưu Biệt và tính phổ quát trong thơ Phạm Ngọc Lư (Trần Hoài Thư)

      Phạm Ngọc Lư, người vẫn giữ lửa cho nền văn học miền Nam (Đỗ Trường)

      Đọc Đan Tâm của Phạm Ngọc Lư (Khuất Đẩu)

      Thơ Như Một Định Mệnh Oan Nghiệt (Nguyễn Lệ Uyên)

      Phạm Ngọc Lư (Học Xá)

      Vĩnh biệt Phạm Ngọc Lư (Trần Hoài Thư)

      Từ thơ thể loại “Hành,” tới thi ca một thời của Phạm Ngọc Lư (Du Tử Lê)

      “Biên cương hành”, địa-chấn-thi-ca Phạm Ngọc Lư (Kỳ 02) (Du Tử Lê)

      “‘Hành biên cương’, ‘đàn tràng chiêu hồn tử sĩ’, thời đại mới? (Du Tử Lê)

      Phạm Ngọc Lư (Luân Hoán)

      Đọc Đề thơ trước mộ thanh xuân (Trần Kiêm Đoàn)

      Nghĩ Về Nhà Thơ Phạm Ngọc Lư (Cung Tích Biền)

      Đọc Biên Cương Hành của tác giả Phạm Ngọc Lư (Huỳnh Xuân Sơn)

      Đọc Cố Lý Hành của tác giả Phạm Ngọc Lư (Huỳnh Xuân Sơn)

      Gặp Lư Ở Tuy Hòa (Huyền Chiêu)

      Đi Thăm Nhà Thơ Phạm Ngọc Lư (Nguyễn Quang Chơn)

       
      Thư Quán Bản Thảo số 70, chủ đề Phạm Ngọc Lư: (Bìa trước, bìa sau và 2 trang Mục lục)

       

       

      Bản .pdf

       

      Tác phẩm của Phạm Ngọc Lư

       
      Cùng Tác Giả (Link-2)

      Xuân Thao, Thơ và Người (Phạm Ngọc Lư)

      Biên Cương Hành (Phạm Ngọc Lư)

      Trang Thơ Phạm Ngọc Lư (Phạm Ngọc Lư)

      Hoài Khanh và Thân Phận (Phạm Ngọc Lư)

      Nén Nhang Cho Người Bạc Mệnh (Phạm Ngọc Lư)

      Đan Tâm

       

      Văn Học (Học Xá) Ad-31 Ad-31 = QC_250-250 (Học Xá)

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      An Khê,  Au Thị Phục An,  Bắc Phong,  Bàng Bá Lân,  Bích Khê,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Bích Hà,  Bùi Giáng,  Bùi Kỷ,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Vĩnh Phúc,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Mỵ Nhân,  

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)