Head

 

Trang Thơ Phạm Ngọc Lư

Trang Thơ Phạm Ngọc Lư


Rụng Tim Người                         Bên Sông

Đêm ngồi café lộ thiên                Đất trích

Biên Cương Hành                       Cố Lý Hành

Sóng Vỗ                                    Nhớ Làng

Huế- Ngày về                             Phù Dung

Chỉ Còn Đan Tâm                       Bàn Tay

Người Trăm Năm Trước              Tuy Hòa Tái Ngộ

Trở Về Phá Tam Giang               Túy Hoài

Huyễn Mộng                              Nhớ Trầm

Mọc lên một đoá                        Ngó trời

Niệm Đặng Dung                        Bâng Khuâng Mùa Rụng

Gửi một thuở tình suông             Lập Thu

Nằm Mộng                                Mười Năm Nước Chảy

Cuốc Đất Mà Chơi                     Vô Tình

:: Rụng Tim Người


Uổng tình tôi một hòn đá vụn

Rớt vô tình xuống đáy sông tan

Cuốn theo tiếng hú hồn lẩy bẩy

Bay trên dòng nước siết mang mang

......

Người đến chi rét mầu nắng quái

Chốc nữa về đau ngọn mưa điên

Gớm chưa! mây một trời tan tác

Tôi một mình quấn quýt oan khiên


Bỗng ngó lại đời rung cánh đập

Nát lòng chưa ngàn giọt mưa xuyên

Nằm giả chết xuôi thân lá úa

Lá rụng thầm... cũng đủ vỡ tim

1970

Trích: Thơ Tình Miền Nam, Thư Ấn Quán - 2008.




:: Bên Sông


Chảy di chảy đi

Hởi sông buồn lắm

Nước thôi chờ chi

Thuyền xưa đã đắm

Người đi người đi

Trăm năm bến vắng

Xa hút bờ kia

Bóng người mây thoáng


Chảy maau chảy mau

Đời nông tình cạn

Mà nước quá sâu

Trăm chiều khổ nạn


Ta bơi qua sông

Mới hay đời nặng

Đời có như không

Tiếc gì tay trắng

Thôi thà rêu rong


Ta gieo xuống sông

Vỡ dòng nước chết

Nước đứng tim đêm

Ta còn thở hết?


Chảy đi chảy đi

Người về đâu biết

Chảy mau chảy mau

Đời: con nước siết

Tình: vực nước sâu

Em: dòng ly biệt

Ta chiếc lá chìm


Chảy thôi chảy thôi

Còn trông còn ngóng

Nhớ ai gương xưa

Chờ ai cửa rộng

Đưa ai tiễn ai

Phai hình mất bóng

Khổ lắm người ơi

Qua sông mất nón

Sông trôi sông trôi

Về đâu mà đón

Thôi hẹn hò chi...


Với người xưa ấy

Đã khói sương che

Chút tình xa ngái

Đã cách bến bờ

Biết lòng không đậu

Trông chi thuyền về

Người như khung cửa

Khép lại hững hờ


Người như gương vỡ

Trăm năm lỗi thề

Người như phong vũ

Lạnh màu thê thê...

Tuy Hòa, 1972, (Tập san VĂN)

Trích: Thơ Tình Miền Nam, Thư Ấn Quán - 2008.




:: Đêm ngồi café lộ thiên


thương ai mà nhớ nát lòng

chanh chua, đá lạnh, rượu nồng chưa nguôi

ngồi đây chưa tỏ bóng đời

đêm trong vườn chợt rụng rời trái non

nghe ra dạ đắng bồ hòn

thuốc tàn rượu hết tình còn lâng lâng

yêu ai bủn rủn tâm thần

tình chưa đi trọn mà chân mỏi rồi.

Trích: Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến. tập I, Thư Ấn Quán - 2007.




:: Đất trích


Mươi lít gạo trộn vài cân muối

Nấu với tình em ăn vẫn ngon

Tình em nước sông Ba đầy bát

Đời ta như nồi trống niêu trơn


Bốn phía rừng xanh mầu nước độc

Đông tây nam bắc núi chận đường

Một lũng đất bằng khu chén nhỏ

Trói chân ta vào chân Trường Sơn


Bó đời ta nửa manh chiếu rách

Đêm nằm mộng lớn nuốt mộng con

Chiêm bao cứ thấy mình mọc cánh

Bay với chim trời ra cố hương


Canh khuya cọp gầm vang núi Lá

Giật mình tưởng ai gọi đầu non

Nằm chi đây, thân tàn đất trích

Chờ ai đây, đói lã chết mòn


Mươi nắm gạo trộn vài vốc muối

Đeo lên vai nặng nghĩa đầy ơn

Mai ta bỏ thân ngoài sạn đạo

Xin tình em một mảnh đất chôn

Củng Sơn, 1971

Trích: Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến. tập I, Thư Ấn Quán - 2007.




:: Cố Lý Hành


Chiều chết đuối trên sông ngờm ngợp

Nước đua chen đớp bọt nắng tàn

Đò qua sông đìu hiu bến đợi

Buồn rút lên bờ cây khai quang

Mây đổ xù lông như chó ốm

Trời bôi nhòe mặt ngóng đêm sang

Thôn ổ tiêu sơ gầy khói bếp

Đồng không mốc thếch lạnh tro tàn


Có biết ta về không cố lý?

Mười năm chưa lạ mặt xóm làng

Sao phên giậu nghiêng đầu câm nín

Rơm rạ làm thinh chẳng hỏi han

Cổng khép rào vây vườn cỏ dại

Tường xiêu mái rách bóng nhà hoang

Ngõ vắng bàn chân như hụt đất

Tre già đang kể chuyện chôn măng

Nương rẫy đang phơi lòng dâu bể

Nói làm sao hết nỗi bàng hoàng?

Khóc làm sao vừa lòng cố lý?

Phải đây là cố lý ta chăng?

Đâu bóng mẹ già sau khung cửa

Và những người em mặt trái xoan

Đâu bóng chị hiền như hoa cỏ

Bên luống cà xanh liếp cải vàng!


Đất đá thở ra mùi u uất

Bốn bề hun hút rợn màu tang

Ai chết quanh đây mà cú rúc

Mà cơn gió lạnh réo hồn oan

Ai trong muôn dặm không về nữa

Cố lý mười năm mộng bẽ bàng

Cố lý mười năm ngày trở lại

Như ngày Lưu Nguyễn xuống trần gian!

1972

Trích: Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến. tập I, Thư Ấn Quán - 2007.




:: Sóng Vỗ *


Từ khi mưa nắng đổi thay

Đất trời dị biệt gió mây bất đồng

Người bờ Tây - ta bờ Đông

Ngồi nghe sóng vỗ bạc lòng ngày đêm...


Giờ này phương ấy nắng lên

Ở đây ta đốt ngọn đèn soi ta

Giờ này phương ấy nắng tà

Ở đây thao thức tiếng gà tàn canh

Nằm mơ biển ngọt dỗ dành

Tỉnh ra tâm sự kết thành muối khô

Từ khi Tý Ngọ khác giờ

Đêm không đồng mộng, đành mơ... mộng ngày

Lòng ta uống gió mà say

Tan ra cồn khói đảo mây chập chờn...

Biển sâu? Ly biệt sâu hơn!

Muôn đời sóng vỗ mỏi mòn bến không

Mỏi mòn tiếng sóng nghe chung

Bờ Tây tóc rụng... bờ Đông bạc đầu!

(Đà Nẵng 2002)



:: Nhớ Làng *


Dài đêm rả rích mưa suông

Bỗng đâu dăm tiếng ễnh ương dội về


Làng quê? Phải tiếng làng quê?

Ao khô hồ cạn não nề kêu mưa

Làng xưa! Ôi tiếng làng xưa!

Tiếng trong tiếng đục mấy mùa nước nôi

Lòng tôi? Bao tiếng lòng tôi!

Tiếng câm tiếng nghẹn một thời tang thương


Mấy mươi năm ở phố phường

Đêm nay nghe tiếng ễnh ương nhớ nhà

Nhớ làng vời vợi xót xa

Nhớ quê muôn dặm chắc là đang mưa

Thấm lòng bùn đọng nước chua

Ễnh ương đâu biết... tôi vừa bật kêu!

(tháng 9.2002)


(*) Tòa soạn ghi thêm:


... Sau 1975, Phạm Ngọc Lư đưa vợ con về Huế, những không thể chịu đựng nổi cảnh hàng ngày phải gánh từng đôi nước cách xa cả hàng cây số để tưới cho những vồng khoai lang khô cháy, mới gửi vợ con về quê ngoại (Qui Nhơn) và lang bạt vào Long Khánh, sau đó là Cao Lãnh kiếm sống. Cái miếng ăn thời "bao cấp" với nhiều người đã khó, và với anh càng khó hơn. Cuối cùng lại bồng bế nhau quay về Đà Nẵng để buôn văn bán chữ (kèm tiếng Anh cho trẻ con). Trước khi Hành Phương Nam, Lư ghé lại Tuy Hòa, nơi trước đây anh từng dạy học, viết văn để thăm bạn bè cũ (l979). Bữa cơm chia tay tại nhà chúng tôi chỉ có hột vịt đổ chả, nước mắm ớt và cơm trắng. Lư ngồi ăn và nói: "mình chưa ăn bữa cơm nào trong đời mà ngon như hôm nay". Nghe mà đau thắt cả lòng.


Phạm Ngọc Lư có những truyện ngấn rất Trung bộ, có duyên trên Văn, Bách Khoa, Nghệ Thuật... Còn nay, trong thế anh viết: "Con đường văn chương của tôi quá ngắn ngủi, sau 75, coi như tuyệt lộ. Đáng buồn. Tiếc thay giấc mộng của một thời thanh xuân! Bất phùng thời, đành vậy... không chơi, không tham dự gì với nền văn học nghệ thuật đương đại từ đó đến nay, và mãi mãi.". Ở đoạn khác anh viết: "Muôn viết văn xuôi lắm nhưng chắc phải học lại đã, lâu năm quá chữ nghĩa sét gỉ hết rồi... Thỉnh thoảng nghe VOA có biết TQBT. Nghe và lòng ít nhiều nôn nao, bỗng dưng quá khứ phục hiện, bằng hữu một thời tái hiện, bồi hồi giật mình khi thấy mình cứ chìm xuống bóng tối của thời gian lặng lẽ, rồi thở dài và thở dài" (NLU)

Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 9 Tháng 1, 2003.



:: Huế- Ngày về


Ngày về - Về Huế - Huế xưa

Về em xuân muộn - anh vừa chớm thu


Đưa nhau ra bến sa mù

Lơ ngơ kỷ niệm chần chừ bước theo

Lòng em đẩy nhẹ mái chèo

Trôi đi... trôi với bọt bèo lòng anh...


Đưa nhau qua mấy cửa thành

Màu rêu bất tuyệt còn xanh não nùng

Xưa chờ em cửa chính Đông

Anh in vào đá nỗi lòng héo hon

Xưa tìm em cửa Hiển Nhơn

Đá câm gạch lạnh rêu mòn dấu tay...


Sao lòng ngèi nghẹn nước mây

Trôi đi... trôi với tháng ngày mù sương

Đưa nhau qua những con đường

Thâm u lá rụng cuối vườn tịch liêu

Xưa em guốc mộc khua chiều

Giấu trong tà áo ít nhiều vu vơ

Anh qua cửa phủ đứng chờ

Chiều em về muộn rêu mờ dấu chân...


Sao lòng gợn sóng bâng khuâng

Mây trôi... nước lại ngập ngừng chưa trôi

Trôi đi... bèo bọt một thời

Mái chèo tâm sự... rã rời lòng nhau


Đưa em lên ngọn giang đầu

Chia ly ngày ấy rầu rầu Huế mưa

Sông Hương no nước căng bờ

Tim anh cuồn cuộn - lững lờ tình em!

Tình ơi không nặng sao chìm

Trăm năm rời rợi nằm im đáy lòng!


Rồi thôi... gió bụi mịt mùng

Cuốn em ra khỏi khuê phòng đài trang

Rồi thôi... nước mắt lỡ làng

Vùi trong vạt áo vô vàn tiếc thương


Ngày về... lặng khói im sương

Về trong Huế mới... buồn buồn Huế xưa

Về em ngấn lệ chưa mờ

Về anh tay lạnh thẫn thờ nâng tay

Nhìn nhau lòng nghẹn nước mây

Hồng nhan em cạn... anh đầy đa truân

Lòng như gợn sóng bâng khuâng

Chuyến đò dĩ vãng tần ngần... đang trôi

Trôi vô lòng Huế - Huế ơi!

mùa thu năm 2000

Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 10 Tháng 4, 2003.



:: Chỉ Còn Đan Tâm


(Gửi nàng Thơ và tình Thơ)

Xưa ta cầm tuổi hai mươi

Vay em nhan sắc về nuôi tâm hồn

Nuôi bao mộng mị vàng son

Một đêm trắng mộng... chỉ còn đan tâm!


Kể từ bén tiếng tri âm

Nợ tình lẽo đẽo bao năm dày vò

Đời cùn, chí cạn, lòng khô

Hồn ta xanh một nấm mồ tịch liêu!


Mười lăm năm nát thân Kiều

Còn thân ta nát bao nhiêu năm rồi?

Đoạn trường tuế nguyệt gấp đôi

Từ đêm trắng mộng, vốn lời trắng tay!


Vật vờ hồn khói xác mây

Thoát đêm mộng dữ gặp ngày hỗn mang

Đi trong địa ngục huy hoàng

Gặp em trước cổng thiên đàng xác xơ

Ôm nhau đồng thiếp bóng trưa

Buông nhau rơi xuống chiều mưa mịt mùng

Dìu qua bến sắc bờ không

Chơi vơi ngã xuống muôn trùng phù vân

Bất ngờ tái ngộ thanh xuân

Cầm tay nhan sắc... rưng rưng cúi đầu

Ôm ta... ôm nỗi buồn đau

Vòng tay nghiệp dĩ siết nhau đứt lìa!


chong đèn thức với mưa khuya

Hồn thơ xác chữ đầm đìa mưa xanh

Mộng con, mộng lớn tan tành

Chỉ còn bút mực đan thanh tươi màu

Bao nhiêu năm nợ nần nhau

Tình ta trăm bể ngàn dâu héo mòn

Trao em một tấc lòng son

Mai kia bia mộ tâm hồn... đề thơ...

4.2003

Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 11 Tháng 7, 2003.



:: Phù Dung


Phải em là khách chiêm bao?

Từ đêm thiên cổ lạc vào đêm nay

Xiêm vàng áo giấy lay bay

Mơn man nét khói đường mây đa tình


Em từ quê quán Vô Minh

Thoát thai cát bụi tái sinh đào hồng

Khuya nay mở quán Phù Dung

Mời ta khai vị sắc lòng phấn hương


Đêm xưa tao ngộ Tầm Dương

Nhận ra giòng dõi đoạn trường với nhau

Khóc cười chung một biển dâu

Tài hoa đồng hội, khổ đau đồng thuyền


Phong trần xé áo rách xiêm

Ba đào đắm mộng, truân chuyên hớp hồn

Ta chơi vơi giữa sinh tồn

Em chưa thoát nợ phấn son kiếp nào

Đêm nay rượu gửi tình trao

Đề thơ lên cửa chiêm bao, chạnh lòng...


Lạnh dần một quán hư không

Khép dần một đoá phù dung vô hình

Em chìm xuống đáy Vô Minh

Bỏ ta trên bến nhân sinh bàng hoàng

Sương rơi, đêm cạn, quán tàn

Cô đơn vòi vọi... trần gian ta ngồi

Chung quanh vẫn vậy cuộc đời!

(1999-2003)

Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 14 Tháng 4, 2004.



:: Bàn Tay


Tặng Nguyễn Lệ Uyên, tác giả truyện "Vợ chồng già"

Đêm đêm môi ngậm mắt ngùi

Đào sâu thương tiếc chôn vùi xót xa

Bốn bàn tay quá thật thà

Lau mưa rửa nắng cứ là tay trơn!


Lau chùi xác áo xơ cơm

Hai mươi ngón mỏi ngón mòn ốm o

Níu nhau: đau đớn dày vò

Rời nhau: Tang-hải-trận-đồ bủa vây.


Từng đêm anh trở em xoay

Biết đâu bụi đỏ trói tay nhau rồi!

Xót xa thân ngậm thế ngùi

Em lau bạch lệ anh chùi phù vân

Bốn bàn tay vẫn trắng ngần

Đem thanh cao chọi phong trần, mà chơi!

Hai mươi ngón rã ngón rời

Đêm đêm ấm lạnh... bồi hồi dìu nhau.

12-2003

Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 14 Tháng 4, 2004.



:: Người Trăm Năm Trước


Người trăm năm trước về chơi?

Y thường vẫn đẹp, mắt môi đang nồng...


Gặp nhau đêm hội Phù dung

Nhận ra thanh khí tương đồng, kết giao

Biết ta thua trận Ba Đào

Thiên Thư vạn quyển trôi vào hư vô

Biết người hồn mỏng như tơ

Căng ra mà nối hai bờ Âm Dương

Tỉnh người lệ kết tình sương

Mà nay ẩn một trùng dương sóng cồn

Ta thì chất ngất cô đơn

Giương lòng khinh bạc che hồn đan thanh

Bách niên chi kế bất thành

Uổng hồng môi nọ, tiếc xanh mắt này!


Thôi thì ngẫu hợp đêm nay

Trăm năm vẫn ngọt vòng tay nõn nà

Lìa nhau, người bỗng khóc ta:

Hồng nhan đang mặn… tài hoa phai rồi!


Giật mình... gió hú ma trơi

Dưới cồn sương lạnh trên đồi trăng khô

Nhìn nhau... bối rối sững sờ:

Người trăm năm trước... không ngờ: hồn ta!

01.2004

Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 16 Tháng 10, 2004.



:: Tuy Hòa Tái Ngộ

Tặng Trần Huiền Ân, Võ Tấn Khanh, Mang Viên Long, Nguyễn Lệ Uyên

Vẫn người xưa, vẫn trăng này

Rượu nguyên tiêu cứ rót đầy thâu đêm

Thâm tình còn mấy anh em

Và người rót rượu tay mềm như trăng

Ba mươi năm... ba mươi năm

Vẫn xanh đôi mắt đăm đăm một thời

Nâng cao bao chén rượu mời

Chén buồn hắt xuống ngàn khơi muôn trùng

Chén vui xin cụng môi hồng

Chén buồn chén tủi tạ lòng Trước Sau

Kể gì sớm bể chiều dâu

Tấc-Lòng-Thiên-Cổ bạc đầu chưa yên (*)

Xưa ta đồng nội hoa niên

Ba mươi năm vẫn đồng thuyền, ô hay!

Vẫn tình xưa, vẫn đất này

Kể chi vật đổi người thay, thắt lòng!


Cụng đầu... một chén uống chung

Ba trăm năm nữa... tương phùng phương nao?

16-02-2003

(*) "Ta hồ! Văn chung chi sự, thiên cổ thốn tâm" (cổ văn)

Trích từ tập thơ Đan Tâm. Thư Ấn Quán in lại - tháng 10 năm 2004.



:: Trở Về Phá Tam Giang


Phá Tam Giang, phá Tam Giang

Gió hiu hiu sóng gợn mơ màng

Trời vẫn xanh màu xanh cố cựu

Mây trầm ngâm, khói nước miên man


Mười năm dong ruổi mòn đất khách

Về cố hương chiều xế bóng tàn

Bỏ nón, tháo giầy, xăn tay áo

Rửa phong trần thẹn với Tam Giang


Kè đá rêu xưa ngâm bến cũ

Còn người đi người đợi đò ngang

Còn xóm chài lưa thưa mành lưới

Còn nhấp nhô thuyền thúng thuyền nan


Không còn người chèo đò năm xưa tóc bạc

Cô lái đò chiều nay trán nhăn

Trừng mắt nhìn ta trách móc

"mười mấy năm chú mới về làng"


Mười mấy năm? Phải rồi, ta quên mất

Cái thuở áo cơm trở mặt phủ phàng

Điêu đứng năm Mùi ra đi năm Tuất

Ra đi mưu cầu y thực

Trở về nặng trĩu gian nan


Nhớ buổi ra đi thân tình đưa tiễn

Vợ xếp trang thơ chị gói khúc đàn

Đệ tử mươi người tung hô dâng rượu

Thôn nữ vài em gởi gắm gió trăng

Mẹ tóc trắng nhìn theo lặng lẽ

Con tóc xanh hai đứa dùng dằng

Ta mím môi, chỉ Tam Giang thề hẹn

Không là Tương Như mà khí khái dâng tràn

Bước xuống thuyền nhìn trời cao dõng dạc

Gõ mạn thuyền ngâm khúc "Hành Phương Nam"


Hành phương Nam, hành phương Nam

Mười mấy năm tấm cám, thau vàng

Thấp cao danh lợi

Chí khí dở dang

Tơi tả bao phen buồn thân thế

Đắng cay mấy bận kiếp hồng nhan

Mưa miền Nam, nắng miền Nam

Trông mây thấp thỏm, nghe gió bàng hoàng

Mười mấy mùa trôi qua không nhớ

Quá đổi mưa đau

Quá nhiều nắng khổ

Lẽ nào Trời bỏ ta chăng?

Đọc thơ Nguyễn Bính chua tâm sự

Đọc lại thơ mình thẹn gió trăng

Chén rượu quê người sao mà bạc

Ân tình đất khách lắm đa đoan

Chiều nay về... bên phá Tam Giang

Phía bờ Đông vẫn xóm vẫn làng

Mười mấy năm còn ai trông ngóng

Mười mấy năm mỏi mòn ước vọng

Mẹ có thương con gió bụi lầm than?

Chị có xót em một đời thất chí?

Em không buồn ta?

Sao lòng ta phai nhạt đá vàng?


Phá Tam Giang, ôi phá Tam Giang!

Gió hiu hiu sóng gợn mơ màng

Nước vẫn mặn mòi, mây quen thuộc

Sao lòng ta sóng gió ly tan

Xin xấu hổ với lời thề ngày trước

"Không công danh bất phục hoàn"


Xin biết ơn cô lái đò nhân hậu

Còn thương ta mời ta quá giang

Thôi rửa hết phong trần nơi bến nước

Để trở về... đứng khóc dưới hương quan!


Trích từ tập thơ Đan Tâm. Thư Ấn Quán in lại - tháng 10 năm 2004.



:: Túy Hoài

(Gởi Quan San
Gẫm thân ly khách man man túy hoài)

Uống cạn mươi ly

Nhớ quên rồi cũng hết

Trời buổi chiều bỗng dưng mù mịt

Đầu ta như khói bốc miên man

Lòng lênh đênh lạnh buốt sông Hàn


Cơn say nào cao vút Hải Vân

Ta bay vèo… mây gió lâng lâng

Xôn xao trời thu tung tăng hoàng diệp

Mênh mông ngàn thu... rụng rời thương tiếc


Ô hô!

Ngươi có – ta không

Ta còn – ngươi mất

Thoắt bóng thoắt hình

Chập chờn hư thực

Chưa say, ném hồ trường qua biển Bắc

Yên ba tan tành im bặt

Hương quan gờn gợn mù tăm

Say rồi, tung chén rượu xuống trời Nam

Trời Nam ào ào mưa ngây ngất

Giang hồ lênh láng, sóng lên men

Say rồi,

Nhớ tuổi quên tên

Xót lòng trông cây nhớ cội

Phải ngươi ba chìm bảy nổi

Bắt ta mười kiếp long đong

Mây có – gió không

Tình câm – thơ điếc

Giai nhân còn mà anh hùng hết

Chưa mùa đông sao tóc xanh rơi bạch tuyết.

Ngũ thập rồi, tay trắng xóa bạch vân

Ô hô!

Thiên địa vô cùng

Uống say mà khóc Đặng Dung - Thuật hoài!


Khóc rồi,

Đập nát cơn say

Hốt nhiên bừng bừng hào khí

Vươn vai nhập thân hào sĩ

Dậm chân nổi gió Đông – Đoài

Cởi chim hồng nhạn mà bay

Theo trăng qua Đằng Vương các

Thâu lại hồ trường nơi biển Bắc

Nhặt lên chén rượu cuối trời Nam

Chơi hết tháng ngày chưa tương đắc

Tung hê cơm áo bất phùng thời


Uống nữa ngươi ơi

Một ngàn ly một lần xin cạn

Ấm lạnh sông Hàn ơi!

Chỉ còn ngươi…

Chỉ còn ngươi soi bóng ta thôi

tháng 10, 1994

Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 19 Tháng 4, 2005.



:: Huyễn Mộng


Xuân tình phì nộn tốt tươi

Một năm xuân sắc trên người bất kham

Liếc ta một khóe hồng nhan

Ranh ma chồn cáo điếm đàng mắt môi

Cầm con dao nhọn săm soi

Găm lên miếng vận miếng thời, ba hoa

Cuốn lên váy mị xiêm tà:

Miếng mê miếng hoặc nở hoa đỏ lòm:

Màu hoa anh túc nhiếp hồn

Màu môi rờn rợn tô son huyết người

Mơ màng mặt tốt mày tươi

Sướng em ngả ngớn nói cười huênh hoang

Muốn nhe răng cắn hồng nhan

Giận thân lực khí tàn... ngồi câm

3. 2005

Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 20 Tháng 7, 2005.



:: Nhớ Trầm


Lòng ấp ủ một làn hương

Từng đêm âm ỉ lịm buồn lửa tro

Từng đêm le lói, cơ hồ...

Người về thắp mộng đốt lò chiêm bao


Cháy lòng từng ngọn khát khao

Từng canh hoài tưởng cồn cào tro than

Cứ nghi ngút khói mơ màng

Sao người tắc mộng khép làn hương đau!

Đắng lòng ngậm biển nuốt dâu

Treo chân địa võng gối đầu thiên la

Đất - trời - im - lặng trêu ta

Mùi hương ấp ủ... chỉ là hương câm!

4. 2005

Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 20 Tháng 7, 2005.


hà nội, 2.6.2012



:: Mọc lên một đoá


Nằm dài trước mặt trùng dương

Dang ra... mở hết ngọn nguồn châu thân

Phơi em hơ hớ trắng ngần

Cơ hồ một đoá bạch vân tượng hình

Hương trời sắc nước kết tinh

Như chưa hề vấy dục tình trần gian


Rướn người em thở hân hoan

Với đê mê sóng mịn màng trườn qua

Lịm người trước biển bao la

Ồ... em dang rộng... mở ra muôn trùng

Mọc lên một đoá hư không!

8.2005

Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 21 Tháng 10, 2005.




:: Ngó trời

(Tặng Nguyễn Lệ Uyên)

Gối tay nằm ngửa ngó trời

Mây... mây hí lộng vẽ chơi đủ trò


Quen tay vẽ chó đầu to

Vẽ trâu mặt cụt cỡi bò lưng cong

Vẽ chồn đổi lốt thay lông

Mỏi tay vẽ rắn vẽ rồng linh tinh...

Chán phèo một lũ súc sinh

Xoá đi... vẽ đám âm binh lộn đầu

Mặt lừa lưng ngựa vai trâu

Những hình nhân khéo tô râu điểm mày

Vẽ thằng nam đang múa may

Vẽ thân con nữ vỗ tay reo mừng


Xem trò vân cẩu... cẩu nhân!

Ngứa tay, lột cái phong trần vẽ chơi

Tung hê... vung vãi khắp trời

Ào ào gió nổi... mây trôi cuống cuồng.


Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 21 Tháng 10, 2005.




:: Niệm Đặng Dung


Mài gươm!

      Gươm khuyết bao giờ?

Cắm chuôi gươm gỉ trước mồ trượng phu!

Cảm hoài khí tiết thiên thu

Ngâm câu "thế sự du du..." lệ nhoà

Lão hà! Ôi... nại lão hà! (*)

Mày râu vô mệnh hoá ra tầm thường


Cúi đầu trả lại thanh gươm

Trăng tà đá khuyết... mài suông nỗi lòng.


(*) Câu đầu trong bài thơ Thuật Hoài của Đặng Dung (tuẫn tiết năm 1413): "Thế sự du du nại lão hà"

Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 21 Tháng 10, 2005.




:: Bâng Khuâng Mùa Rụng


Gói bằng màu đỏ lá phong

Gởi về tôi một sắc lòng còn tươi

Vô tình gói cả mùa rơi

Mang mang phong vị phương trời tri âm


Bồi hồi khói quyện "đan tâm"

Có ai vừa thả hương trầm vào thơ?

Mà thao thức nhúm tàn tro

Mà nghe mực nghẹn bút khô thở dài!


Mơ màng đang chạm tay ai

Bâng khuâng mùa rụng... nhặt vài lá phong

Gói giùm tôi một nỗi lòng

Thả vào mây trắng bềnh bồng chiều thu...

9.2005

Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 22 Tháng 1, 2006.




:: Gửi một thuở tình suông


Ú ớ tìm nhau đêm mộng du

Tài hoa điếc lác giai nhân mù

Ê chề hương lửa như cơm nguội

Rỗng cái tình suông lúc mãn thu


Sóng soải một hồng nhan ẩm mốc

Thườn thượt buồn nỗi buồn nhọn hoắt

Em và ta tua tủa gai non

Săm soi nhìn nhau mặt đanh mặt


Nhìn xuống bóng mình nằm lạnh ngắt

Nhìn ra rần rật mây đùa mây

Nhìn quanh cửa đóng đời im ỉm

Nhân thế đi rồi bỏ ta đây?


Kìa em sống sượng chùi son phấn

Đo cái truân chuyên xem mỏng dày

Cởi cái đa tình trau chuốt lại

Lột nỗi buồn rửa gió lau mây


Thôi ghé đời nhau như quán trọ

Bởi cái trăm năm quá vội vàng

Một tấm tài hoa còn mấy tấc

Ơ hờ đắp điếm mảnh hồng nhan


Ơ hờ kéo áo che tâm sự

Hai nỗi lòng bốn phía hở hang

Chiều thu xuống gió như trêu cợt

Đụng cái tình suông kêu rổn rang.

Tháng 11.2005

Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 24 Tháng 7, 2006.




:: Lập Thu

(Tặng Ngô Kim Chi)

Gió lập thu thổi ướt lòng

Áo tà em mỏng phập phồng nao nao

Ngàn cây ngây gió xôn xao

Và mây về tự hôm nào đang trôi


Thổi về một chút thu thôi

Mà hiu quạnh thấu đất trời tịch không

Mình em khép nép qua sông

Dài tay kéo sợi che lòng bâng quơ


Sau tà khói mỏng phất phơ

Màu thu như nhuộm hai bờ Vân giang

Lòng em như lá mơn man:

Nửa xuân xanh biếc, nửa vàng theo thu.

2005

Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 25 Tháng 10, 2006.



:: Nằm Mộng

(Tặng Hải Phương, khi ở San Jose)

Em nằm ngủ mái tây hiên

Vàng tươi nguyệt thắm hồn nhiên như là

Từ trong viễn mộng trôi ra

Chảy dung nhan xuống giang hà chiêm bao


Em nằm mộng - mộng tào lao

Trần truồng như cá lội vào hư không

Đẻ ra hạt trắng hạt hồng

Nở ra muôn đóa phù dung hão huyền


Em nằm mộng - mộng vô duyên

Khỏa thân đọ với vô biên vô cùng

Rập rờn đuổi sắc bắt không

Như con bướm chợt bay trong biển mù


Bay qua dằng dặc thiên thu

Tam thiên thế giới tù mù mọc ra

Tứ thiên huyễn mộng ngụy tà

Xô em xuống cái ta bà nằm trơ!

1995 - viết lại 2005)

Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 25 Tháng 10, 2006.




:: Mười Năm Nước Chảy


Qua về nhẵn mặt con sông

Đời trôi nước chảy suông lòng nào hay

Ngày qua hối hả theo ngày

Cứ giang đông sớm, thoắt tây ngạn chiều

Thoắt mười năm chảy xiết theo

Còn trơ nước bọt mây bèo bám chân


Qua về hổn hển phong vân

Hồn như núi dựng mà thân trôi hoài

Trôi trôi... lầm lũi miệt mài

Ngờ đâu mây nổi trên vai bồng bềnh

Đâu ngờ cạn cợt nhân sinh

Mà chao lượn gớm! dập dềnh cũng ghê!


Ngày trôi tháng chảy ê chề

Mười năm nhẵn mặt qua về ngó sông

Đời trôi lũ lượt một dòng

Căm căm tâm sự ôm lòng không trôi!

8-2004 (chẵn 10 năm ngụ cư ĐN)

Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 28 Tháng 7, 2007.




:: Cuốc Đất Mà Chơi

tặng Hạ Đình Thao & Lê Văn Trung

Giao vườn nộp ruộng lìa quê

Ra đi như thể trời thuê đi đày

Thân không dung nổi đất này

Lan man chi chuyện khói mây phương trời

Mấy năm đời đổi - đổi đời

Râu cùn mày cụt tả tơi chí tàn

Thú cầm biết giữ ổ hang

Cớ sao ta phải bỏ làng mất quê?

Bao năm bấm bụng không về

Vườn xưa ruộng cũ cứ nghe mọc nhà...


Người xưa "thiên hạ vi gia"

Nay thiên hạ bỏ mặc ta lưu đày

Ngâm câu vận khứ... thời lai

Nghe đau lưỡi cuốc đang mài mồ hôi

Quê người cuốc đất mà chơi

Cơ hồ đang cuốc ruộng trời trồng mây!

7 - 2007

Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 34 Tháng 12, 2008.




:: Vô Tình

tặng BT

Em đến, lập đông, chiều nắng ngọt

Tôi về, thời tiết ngỡ nằm mơ

Đa tình cái gió Tuy Hòa mặn

Xao xác lòng nhau gió ỡm ờ


Đắm đuối xanh chiều xanh sóng mắt

Mắt uống hoàng hôn sao tôi say?

Ngông nghênh mua hết Tà Huy quận [*]

Đổi hồng nhan một nét chân mày


Hư ảo mùi hương chiều túy mộng

Tôi chơi vơi quên lửng trần ai

Vô tình con mắt Tuy Hòa nhọn

Cắm xuống hồn thơ... tiếng thở dài!

12-2012

[*] Tà Huy = Tuy Hòa

Trích Thư Quán Bản Thảo, tập 55 Tháng 1, 2013.



 

Link (Phạm Ngọc Lư)

 

Bài viết về Phạm Ngọc Lư

 

Nhớ Phạm Ngọc Lư (Nguyễn Lệ Uyên)

Vài suy nghĩ Về Tập Truyện Sợi Khói Bay Vòng Của Phạm Ngọc Lư (Đỗ Trường)

Vài cảm nghĩ về thơ và truyện Phạm Ngọc Lư (Nguyễn Vy Khanh)

Lưu Biệt và tính phổ quát trong thơ Phạm Ngọc Lư (Trần Hoài Thư)

Phạm Ngọc Lư, người vẫn giữ lửa cho nền văn học miền Nam (Đỗ Trường)

Đọc Đan Tâm của Phạm Ngọc Lư (Khuất Đẩu)

Thơ Như Một Định Mệnh Oan Nghiệt

(Nguyễn Lệ Uyên)

Vĩnh biệt Phạm Ngọc Lư (Trần Hoài Thư)

Từ thơ thể loại “Hành,” tới thi ca một thời của Phạm Ngọc Lư (Du Tử Lê)

“Biên cương hành”, địa-chấn-thi-ca Phạm Ngọc Lư (Kỳ 02) (Du Tử Lê)

“‘Hành biên cương’, ‘đàn tràng chiêu hồn tử sĩ’, thời đại mới? (Du Tử Lê)

Phạm Ngọc Lư (Luân Hoán)

Đọc Đề thơ trước mộ thanh xuân (Trần Kiêm Đoàn)

Nghĩ Về Nhà Thơ Phạm Ngọc Lư (Cung Tích Biền)

Đọc Biên Cương Hành của tác giả Phạm Ngọc Lư (Huỳnh Xuân Sơn)

Đọc Cố Lý Hành của tác giả Phạm Ngọc Lư (Huỳnh Xuân Sơn)

Gặp Lư Ở Tuy Hòa (Huyền Chiêu)

Đi Thăm Nhà Thơ Phạm Ngọc Lư (Nguyễn Quang Chơn)

 
Thư Quán Bản Thảo số 70, chủ đề Phạm Ngọc Lư: (Bìa trước, bìa sau và 2 trang Mục lục)

 

 

Bản .pdf

 

Tác phẩm

 

Xuân Thao, Thơ và Người (Phạm Ngọc Lư)

Trang Thơ Phạm Ngọc Lư (Phạm Ngọc Lư)

Hoài Khanh và Thân Phận (Phạm Ngọc Lư)

Nén Nhang Cho Người Bạc Mệnh (Phạm Ngọc Lư)

Đan Tâm

 

Van Hoc

 

 

Tác Giả

 

Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

  Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

  Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

  Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

  Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

  Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

 (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Du Tử Lê,  Dương Nghiễm Mậu,  Hà Thúc Sinh,  Hà Thượng Nhân,  Hàn Mặc Tử,  Hoài Khanh,  Hoàng Khởi Phong,  Hoàng Ngọc Hiển,  Hoàng Xuân Sơn,  Huỳnh Hữu Ủy,  Khoa Hữu,  Lâm Chương,  Lâm Hảo Dũng,  Lâm Vị Thủy,  Lê Hữu,  Lê Văn Trung,  Luân Hoán,  Mặc Đỗ,  Mai Thảo,  Minh Đức Hoài Trinh,  Ngô Nguyên Nghiễm,  Nguyễn Âu Hồng,  Nguyễn Bắc Sơn,  Nguyễn Lệ Uyên,  Nguyễn Mạnh Côn,  Nguyễn Ngọc Tư,  Nguyễn Phan Thịnh,  Nguyên Sa,  Nguyễn Tất Nhiên,  Nguyễn Thị Hoàng,  Nguyễn Thị Thanh Bình,  Nguyễn Thị Thuỵ Vũ,  Nguyễn Văn Sâm,  Nguyễn Vỹ,  Nguyễn Vy Khanh,  Nguyễn Xuân Hoàng,  Nguyễn Xuân Thiệp,  Nguyễn Đình Toàn,  Nguyễn Đức Sơn,  Nhật Tiến,  Nhất Tuấn,  Phạm Cao Hoàng,  Phạm Ngọc Lư,  Phạm Phú Minh,  Phan Lạc Phúc,  Phan Nhật Nam,  Phan Trang Hy,  Phùng Cung,  Phùng Thăng,  Sơn Nam,  Tâm Thanh,  TchyA,  Thái Văn Kiểm,  Thanh Nam,  Thanh Tâm Tuyền,  Thành Tôn,  Thảo Ca,  Thảo Trường,  Tiểu Tử,  Tô Thùy Yên,  Trần Hoài Thư,  Trần Mộng Tú,  Trần Phù Thế,  Trần Thúc Vũ,  Trần Tuấn Kiệt,  Trần Văn Nam,  Trần Yên Hòa,  Trịnh Y Thư,  Từ Thế Mộng,  Tuệ Sỹ,  Viên Linh,  Võ Phiến,  Vũ Hữu Định,  Vũ Khắc Khoan,  Xuân Thao,  Xuân Vũ,  Y Uyên,  Đặng Phú Phong,  Đào Anh Dũng,  Đỗ Quyên,  

 
 

 

 

© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)