1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Từ Điển Anh Việt

       

          

       

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      Thư viện Người Việt:
      NAM PHONG
      TRI TÂN
      THANH NGHỊ
      NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
       

       

    2. Đi Tìm Đường Bay Ưu Việt Của Thi Ca (Thái Tú Hạp)

      17-7-2017 | THƠ

      Đi Tìm Đường Bay Ưu Việt Của Thi Ca

       THÁI TÚ HẠP


          Nhà thơ Thái Tú Hạp
      (Hình: luanhoan.net)

      Qua những nguồn tài liệu sưu tập tham khảo từ những quyển sách Thi Nhân Việt Nam của Hoài Chân Hoài Thanh_Thi Ca Việt Nam Hiện Đại của Trần Tuấn Kiệt-Tổng Quan Văn Học Miền Nam của nhà văn Võ Phiến-Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến do Trần Hoài Thư chủ trương...Những bài viết của các nhà văn, nhà thơ, trên các tạp chí Văn học trong nước và hải ngoại. Tác Giả Việt Nam, sưu tập của Luân Hoán. Chúng ta chỉ tính từ thời điểm khi bài thơ Tình Già của Phan Khôi được xem như một tuyên ngôn khai sinh thơ mới hiện đại Việt Nam xuất hiện đầu tiên trên Phụ Nữ Tân Văn Số 132 vào ngày 10 tháng 3 năm 1932_Saigon.


      Trong khoảng thời gian gần nửa thế kỷ nếu tính từ năm 1932 đến năm 1975 căn cứ theo những nguồn tài liệu nêu trên chúng ta có thể ước tính số lượng thi sỹ có những bài thơ được tuyển chọn lên đến vài trăm người được đánh giá "trăm hoa đua nở" vì thế thật khó khăn để chọn một số bài thơ hay của ba miền đất nước thân yêu. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cố gắng nêu lên vài nhà thơ tiêu biểu qua hai điều kiện đã được đãi lọc thử thách qua thời gian cũng như sự thẩm định yêu thích của đa số quần chúng một cách khách quan và tương đối. Trước khi bước vào sự việc thẩm định thế nào là một bài thơ hay" Và địa vị của thơ trong Văn Học Việt Nam. Chúng tôi xin đan cử một vài kinh nghiệm về thơ của nhà giáo Nguyễn Sỹ Tế: "Thơ là một ngành nghệ thuật ngôn ngữ khó khăn vào bậc nhất. Thơ dễ vào mà khó ra. Làm thơ thật là dễ, nhưng làm thơ cho hay lại là thật khó. Thơ là một siêu nghệ thuật về ngôn ngữ. Ngôn ngữ là một cái thiên tài sáng tạo của một dân tộc. Ngôn ngữ của thi ca là một thứ ngôn ngữ siêu đẳng xôn xao âm hưởng và ấm áp sâu đậm sắc màu. Nắm được con ngựa thần bất kham chúng ta đã có điều kiện căn bản để trở thành một bài thơ hay rồi vậy!".


      Trong tiến trình văn học Việt Nam chưa bao giờ dân tộc lại sản sinh ra nhiều nhà thơ như trong thời điểm vài ba thập niên vừa qua cũng như hiện nay từ trong nước đến hải ngoại. Chúng ta bị ảnh hưởng sâu xa về phát biểu của Ngô Thời Nhậm: "Việt Nam đáng hãnh diện là một nước thơ. Và mỗi người Việt nam là một thi sĩ...". Chỉ có thể đúng một phần qua nhận định ở lớp bình dân sáng tạo những giòng văn học mang tính nhân gian trong sinh hoạt của đời sống thường nhật. Hay vì tâm lý muốn được người đời gọi mình là thi sỹ. Chính từ những tư duy thiếu khiêm tốn nên rất khó đồng thuận hợp nhất tiêu chuẩn đi tìm đường bay tuyệt đỉnh của thi ca. Trong cuốn Thi Nhân Việt Nam của Hoài Chân_Hoài Thanh cũng chưa phải là một nhà phê bình hoàn hảo đáng tin cậy mặc dù hai ông được giới trí thức đánh giá nhiều ưu điểm giới thiệu trên 40 nhà thơ với mấy trăm bài thơ đính kèm. Tuy nhiên Hoài Chân_Hoài Thanh vẫn không thoát ra những thành kiến khắt khe đối với thi sĩ Đinh Hùng, Nguyễn Bính, Vũ Hân, một số nhà thơ khác và nhóm Xuân Thu Nhã Tập....mặc dù cho đến nay đã hơn nửa thế kỷ qua ở hải ngoại vẫn có nhiều người còn thuộc thơ Nguyễn Bính yêu thơ Đinh Hùng...Từ suy nghiệm này chúng tôi đề cập đến trường hợp vua Tự Đức sáng tác rất nhiều thi phẩm nhưng chỉ được nhân gian nhắc đến bài thơ "Khóc Bằng Phi" với hai câu cuối cùng: "Đập cổ kính ra tìm lấy bóng/Xếp tàn y lại để dành hơi...


      Quá tuyệt vời và tôn vinh ông là một nhà thơ lẫy lừng trong thi đàn Việt Nam. Một trường hợp điển hình khác chúng tôi muốn đan cử đến bài thơ "Cáo Tật Thị Chúng" của thiền sư Mãn Giác với hai câu cuối bài:


      "Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận/Đình tiền tạc dạ nhất chi mai/... Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết.../Đêm qua sân trước một cành mai..."


      Hai câu cuối đã vượt trội xuất sắc, mang tư tưởng nhân sinh quan hiện thực, tăng giá trị bài thơ và được thẩm định là một bài thơ hay vượt qua thời gian. Cũng như trường hợp chỉ mấy câu thơ của dũng tướng Lý Thường Kiệt trước quân nhà Tống phương Bắc cũng đủ nói lên ý chí của người quân tử nước Nam: "Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư/Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/Như Hà nghịch lỗ lai xâm phạm/Nhử đẳng hành khan thủ bại hư.... Sông Núi nước Nam vua Nam ở/Rành rành định phận tại sách Trời/Cớ sao quân giặc sang xâm phạm/Thế nào cũng bị đánh tơi bời.." đã trở thành một bài thơ tuyệt tác lưu truyền cả ngàn năm trong lịch sử. Những nhà phê bình thi ca chưa hẳn có một thần trí siêu việt dễ thấu triệt những ẩn ý sâu xa bài thơ của mỗi thi sĩ như sự nhạy cảm tuyệt vời giữa Bá Nha với Chung Tử Kỳ nên đôi khi cảm nhận bài thơ có thể lạc hướng về cái nhìn chủ quan. Qua tài liệu của Hoàng Duy Từ "Đường Thi Tuyển Dịch" chúng tôi khám phá câu chuyện lý thú về thi ca. Nhân vật tiêu biểu đại thi hào Tô Đông Pha đã dám cậy tài làm thơ sửa thơ Tể Tướng Vương An Thạch cũng là một nhà thơ lừng lẫy vào đời nhà Tống bên Trung Hoa. Có một ngày đẹp trời Tô Đông Pha ghé đến thư phòng của Vương An Thạch nhìn lên vách thấy có hai câu thơ:


      "Minh Nguyệt sơn đầu khiếu/Hoàng Khuyển ngọa hoa tâm"


      Tô Đông Pha chê là vô lý bởi vì:

      "Trăng sáng sao lại hót ở đầu núi"/Chó vàng sao lại nằm giữa lòng hoa""


      nên lấy bút sửa lại:

      "Minh nguyệt sơn đầu chiếu/Hoàng khuyển ngọa hoa âm"

      với ý nghĩa: "Trăng chiếu ở đầu núi"/ "Chó vàng nằm dưới hoa".


      Sửa xong Tô Đông Pha cảm thấy đắc ý và cảm nghĩ cho dù Vương An Thạch tuy là tể tướng nhưng chưa chắc tài làm thơ hơn mình. Sau đó một thời gian Tô Đông Pha có tội với triều đình nên bị đày ải đến nơi rừng thiêng nước độc. Một hôm vào mùa xuân dạo trong rừng nghe tiếng chim hót rất hay mới hỏi dân địa phương cho biết "Tiếng chim hót hay đó có tên là Minh Nguyệt và loài sâu chuyên tìm ăn nhụy hoa có tên là Hoàng Khuyển..." Tô Đông Pha giật mình tỉnh ngộ và ân hận về sự thiếu hiểu biết và sự ngạo mạn lố bịch của mình.


      Xuyên qua sự kiện vừa dẫn chứng chúng ta nên suy ngẫm về sự thẩm định đánh giá một bài thơ hay có tính cách chủ quan không hiểu sâu nghĩa lý là một sự lầm lỡ đáng tiếc.


      TIÊU CHUẨN VỀ MỘT BÀI THƠ HAY


      Bởi vậy, chúng ta rất khó phân biệt để cùng đồng ý MỘT BÀI THƠ NHƯ THẾ NÀO CHO LÀ HAY và MỨC ĐỘ HAY CỦA MỘT BÀI THƠ" Chúng tôi xin trích dẫn qua một số nhà thơ, phát biểu chân thật về nguyên nhân sáng tạo nên những tác phẩm thi ca của họ. Đó cũng là ý niệm tốt để giúp cho chúng ta thẩm định giá trị một bài thơ hay.


      1. Nhà thơ Nguyên Sa (Đã từ trần)

      ...Làm thơ, với tôi, bao giờ cũng cần có cảm hứng, có cảm hứng mới làm được bài thơ đắc ý, không có cảm hứng thì chịu thua. Cảm hứng đưa tôi vào thơ, thời gian này, cũng như hơn bốn thập niên, luôn luôn đến từ sự xúc động chân thực. Có rung động thực và rung động giả, cho nên có cảm hứng thực vả cảm hứng giả. Lúc hai mươi tuổi, đam mê tình ái mang thơ lại cho tôi. Tôi nghĩ thơ tình thời học trò mà tôi nói chuyện suy tư về hữu thể và hư vô là xúc động giả, sâu xa giả, thơ làm dáng không phải thơ. Khi tuổi già đã tới, không còn đam mê tình ái, cánh cửa của tuổi đời sắp khép lại. Những xúc động của những ngày tháng đối diện với sự thật của kiếp người, một cuộc tình hồi tưởng lại, một cuộc tình mơ ước, giọt sương mai mong manh, cơn mưa đến muộn, buổi hoàng hôn nơi quê người, người bạn thâm niên bỏ xứ vĩnh viễn...là nguồn cảm hứng thật hôm nay của tôi.

      (Trả lời nhà văn Nguyễn Anh Nam tạp chí Văn số 13 & 14, Xuân Mậu Dần 1998)

      2. Nhà thơ Đỗ Quý Toàn (Hoa Kỳ)

      Nếu phải xếp hạng thứ thơ nào tôi thích hơn, thì tôi sẽ xếp theo thứ tự như sau:

      1/Thơ hay tự nhiên là thứ nhất

      2/Thơ hay và khéo cũng tốt

      3/Thơ hay mà không khéo thì dễ thương

      4/Thơ khéo không thôi thì hơi thường

      5/Thơ khéo mà không hay xin miễn


      Nói xếp hạng cho vui, chứ mỗi người sẽ nhận diện cái khéo và cái hay một cách khác nhau. Có những câu thơ nghe rất tự nhiên nhưng chỉ người làm thơ mới biết đã mất bao lần gọt giũa mới thành. Độc giả không cùng một kinh nghiệm thẩm mỹ, không được đào luyện trong các lò ngôn ngữ như nhau, thì cách thưởng thức sẽ khác nhau. Có những lời tự nhiên thanh thoát ở đời này, sang đời khác lại có vẻ cầu kỳ, không thích hợp. ...


      (Tìm Thơ Trong Tiếng Nói của Đỗ Quý Toàn)

      3. Nhà Thơ Luân Hoán (Canada)

      Thơ hay chính là thơ mới. Theo tôi nghĩ nên làm mới thi ca, nhưng làm mới như thế nào, ra sao thì tôi đang dọ dẫm thí nghiệm, chưa đạt được kết quả nào. Điều cần thiết là phải làm cách nào để cho cái mới đó có hồn, có vía đàng hoàng, phổ biến được đón nhận rộng rãi. Tuy nhiên kỹ thuật và hình thức là những điểm tất yếu phải có của một bài thơ. Nhưng nếu chú trọng quá đáng, có lẽ loãng bớt nội dung, đó là chưa kể nếu quá màu mè, bài thơ lại dễ biến ra một họa phẩm siêu thực...

      (Trích Đặc San Quảng Đà năm 1999. Phỏng vấn của Nguyễn Mạnh Trinh)

      4. Nhà thơ Tô Thùy Yên

      Đối với tôi thực sự làm thơ không khó, làm thơ hay mới là chuyện khó, rất khó. Khó đến độ nhiều khi từ cái ý muốn khởi đầu cho đến khi hoàn tất bài thơ, không tưởng tượng mình có thể đạt tới được ngoài trí lực của mình. Nói chung làm bất cứ việc gì trong bất cứ lĩnh vực nào mà làm cho tốt làm cho hay thật là khó, rất khó, chớ làm lơ mơ, bất kể, được chăng hay chớ thì ai làm chẳng được. Một bài thơ có hồn mới chuyển đạt xúc cảm đến người khác...

      5. Nhà thơ Yên Thao (Hà Nội-Việt Nam)

      Tác giả bài thơ "Nhà Tôi" nổi tiếng.

      Hiện nay rất nhiều người làm thơ nhưng thơ hay thì hiếm. Thơ tình yêu lạm phát. Không nên nghĩ tình yêu là tất cả của thơ và thơ chỉ viết về tình yêu lứa đôi.


      Thơ là tinh hoa của tiếng nói, tiếc có những bài thơ từ ngữ quá trần truồng, thô kệch, song lại được các báo chí đăng tải như một cái gì mới mẻ, dám nghĩ dám viết("!!).


      Gom từng hạt bụi phấn

      góp từng phân tử đường

      con ong làm nên mật

      cho cuộc đời lên hương

      người làm thơ chúng ta

      hơn con ong cần mẫn

      càng phải biết chọn hoa

      đừng làm ra mật đắng!

      6. Nhà thơ Hoàng Hương Trang (Huế-Việt Nam)

      Thơ hiện nay nhiều người làm, số lượng thi sĩ đông đảo hơn bao giờ hết, số lượng thơ cũng rất nhiều. Nhưng những bài thơ đi sâu vào lòng người, gây ấn tượng mạnh, làm người đọc yêu và nhớ thì quả thật rất ít, không bằng được những bài thơ gọi là "thơ tiền chiến". Vì sao" Theo tôi, thơ bây giờ dùng ngôn ngữ quá xa lạ với người đọc, làm cho người đọc không thể hiểu nổi tác giả nói gì, có nhiều bài đọc lên tôi cứ tưởng không phải thơ Việt! Bí hiểm, khổ độc, ẩn dụ, làm dáng thời thượng, khoe chữ, đánh đố...đó là những yếu tố làm thơ xa người đọc, có đọc cũng chẳng nhớ lâu nổi. Tôi thích loại thơ "để nhớ suốt đời" như "Chiều" của Hồ Dzếnh, "Hai Sắc Hoa Ti Gôn" của T.T. Kh, như "Lỡ Bước Sang Ngang" của Nguyễn Bính, như "Nhớ Rừng" của Thế Lữ, như "Đây Thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử v.v.. hay xa hơn nữa, như thơ Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm. Ước mong thế hệ chúng ta sẽ để lại nhiều bài thơ "nhớ suốt đời" cho thế hệ sau như chính chúng ta đã được thừa hưởng những áng thơ tuyệt tác của các thế hệ trước.

      7. Bình luận gia Nguyễn Hưng Quốc (Úc Đại Lợi)

      Ở miền Nam, trong thời kỳ 1954-1975, tương đối tự do hơn, không ai buộc thơ phải là công cụ cho chính trị, tuy nhiên, tận trong thâm tâm mỗi người, dường như họ vẫn coi thơ như một phương tiện, với nó, họ dấn thân vào thời cuộc. Người ta dùng thơ để phát ngôn lập trường, một quan điểm, một thái độ. Chỉ có thời gian ngắn, sau hiệp định Geneve, một số nhà thơ còn say mê theo đuổi cái Đẹp, nhưng ngay sau đó, không khí chính trị và xã hội càng lúc càng bức bối, người ta bỗng quên bẵng thơ đi, chỉ nhớ đến thời cuộc. Theo nhà văn Võ Phiến, thơ miền Nam thời kỳ này có thể chia thành hai giai đoạn: giai đoạn đầu từ 1954 đến 1963; giai đoạn sau từ 1964 đến 1975. Đặc điểm của giai đoạn đầu là sự hục hặc phá phách về hình thức, cầu kỳ tối tăm trong ngôn ngữ, khắc khoải dằn vặt trong tâm tình; đặc điểm của giai đoạn sau là trở về truyền thống, trở về khuôn khổ, trở về những vần điệu êm đềm quen thuộc cũ, thơ, do đó, trở thành nhẹ nhàng, trong sáng và dễ hiểu hơn. Nếu nhận định của Võ Phiến đúng, tôi nghĩ sự thay đổi ấy là điều đáng tiếc: thực chất đó là sự quy hàng của con người nghệ sĩ trước con người công dân; sự quy hàng của ý thức thẩm mỹ trước ý thức trách nhiệm. Cuối cùng, cái ông 'nhà nho' tưởng đã chết trong tâm hồn mỗi người lại được hồi sinh.

      (Biên Khảo về Thơ của Nguyễn Hưng Quốc)

      Sở dĩ chúng tôi nêu lên những phát biểu của các nhà thơ đã thành danh trên Thi Đàn Việt Nam trước 1975 ở quê nhà với mục đích để gợi ý quý vị tự thẩm định chọn lựa tác phẩm thi ca nào mà quý vị cảm nhận cho là hay nhất một cách công bằng hợp lý và khách quan. Vì khó giải thích hết ý nghĩa của mỗi bài thơ, cảm nhận mỗi người mỗi khác, nhiều khi tương phản. Không nên đặt vấn đề lý giải về thơ để tìm sự đồng thuận hợp nhất.


      Như quý vị đã biết sau biến cố đau thương trên quê hương miền Nam thân yêu. Dòng Văn Học diệu kỳ như dải lụa rực rỡ trên trường giang Văn Học Sử thể hiện Tình Tự Quê Hương Dân Tộc, Sáng Ngời Lý Tưởng Tự Do, Nhân Bản Khai Phóng và Sáng Tạo của một thời lừng lẫy vàng son giá trị khởi sắc và phong phú nhất của miền Nam đã hoàn toàn bị triệt hủy tận tình sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975 đau thương của lịch sử Dân Tộc.


      Những nhà hoạt động Văn Học miền Nam bị đưa vào các trại cải tạo đày đọa nghiệt ngã.


      Trong số thi văn nhân này đã có một số người đã bỏ xác trong trại tù và tử nạn trên đường vượt biển tìm Tự Do.


      Sau hơn 35 năm Cộng Sản Việt Nam thống trị trên quê hương họ vẫn cứ tin đã đốt hết kho tàng văn học miền Nam nhưng trên thực tế điều đó chỉ là hoang tưởng vì sự thật bạo tàn đã được lịch sử lưu truyền đến mai sau thấu hiểu sự kinh hoàng trong ký ức dân tộc. Những tác phẩm thể hiện đạo lý nhân bản dân tộc đó vẫn khắc sâu trong tim óc của dân chúng miền Nam và khoảng 3 triệu người Việt lưu vong nơi hải ngoại. Cho dù mọi biến cố lịch sử đã thuộc về quá khứ nhưng quá khứ vẫn tích lũy những kinh nghiệm quý báu cho cuộc hành trình hướng đến tương lai. Chính nhờ vào bản chất truyền thống văn hóa dân tộc hiền hòa nhân ái nên ngay trong thời gian hai miền Nam Bắc đối nghịch nhau về ý thức hệ, nhưng trong giới sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật, trí thức, sinh viên học sinh ở Miền Nam đều có thiện cảm say mê những tác phẩm thi ca của các thi sĩ Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Hồ Dzếnh, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Anh Thơ, Vũ Đình Liên, Thâm Tâm...của thời tiền chiến trữ tình lãng mạn, khởi sắc thăng hoa, dĩ nhiên có nhiều bài thơ hay đến bây giờ vẫn còn được yêu thích. Đại khái như: Lưu Trọng Lư: "Em không nghe mùa thu/Lá thu kêu xào xạc/Con nai vàng ngơ ngác/Đạp trên lá vàng khô...". Hay Hồ Dzếnh: "Tình chỉ đẹp khi còn là dang dở/Đời mất vui khi đã vẹn câu thề/Thơ viết đừng xong thuyền trôi chớ đỗ/Cho nghìn sau lơ lửng với nghìn xưa." Xuân Diệu với câu thơ ai cũng nhớ: "Yêu là chết trong lòng một ít/Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu"/Cho thật nhiều mà nhận chẳng bao nhiêu." Với bài thơ Ngậm Ngùi nhẹ nhàng quyến rũ mãnh liệt của Huy Cận:

      Nắng chia nửa bãi; chiều rồi...

      Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu.

      Sợi buồn con nhện giang mau;

      Em ơi hãy ngủ...anh hầu quạt này;

      Trăm con chim mộng về bay đầu giường.

      Ngủ đi em, mộng bình thường!

      Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ..

      Cây dài bóng xế ngẩn ngơ...

      Hồn em đã chín mấy mùa thương đau"

      Tay anh em hãy tựa đầu,

      Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi...

      Những hiện tượng ngưỡng mộ những bài thơ hay trong tinh thần bao dung tự nhiên đó chúng ta không thể phủ nhận. Mặc dù các nhà thơ này đang nắm giữ chức vị quan trọng trong chính quyền Cộng Sản và chính họ đã hèn nhát tự treo cổ tác phẩm của mình như trường hợp của nhà văn Nguyễn Tuân. Hoặc khai tử đoạn tuyệt những đứa con tinh thần như thi sĩ Xuân Diệu, Huy Cận trong giai đoạn phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bùng vỡ khắp nơi trong giới văn nghệ sĩ miền Bắc.


      Nói chung hầu như đa số những nhà thơ, văn tiền chiến đó đã thực sự thay đổi, khoác một chiếc áo khác để trở thành những công cụ phục vụ cho chế độ. Như nhà thơ Tế Hanh: "Hai mươi năm dưới ngọn cờ cách mạng/Ta đem câu thơ thành vũ khí chống quân thù..." hay Chế Lan Viên: "Hoan hô cái hầm chông. Ta yêu ngươi hơn vạn đóa hoa hồng.." những bài thơ có xác mà không có hồn. Tuy nhiên cũng có những nhà văn nhà thơ can trường thẳng thắn đầy hào khí của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm do nhà văn, thơ Phan Khôi chủ xướng phản kháng với chế độ độc tài đòi quyền tự do sáng tạo của người trí thức. Nổi bật nhất là thi sĩ Phùng Quán với bài thơ Lời Mẹ Dặn. Được giới sinh hoạt Văn Học Miền Bắc ca ngợi là một bài thơ xuất sắc:

      "...Như lời mẹ dặn thuở lên năm

      Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ

      Người làm xiếc đi dây rất khó

      Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn

      Đi trọn đời trên con đường chân thật

      Yêu ai cứ bảo là yêu

      Ghét ai cứ bảo là ghét

      Dù ai cầm dao dọa giết

      Cũng không nói ghét thành yêu

      Tôi muốn làm nhà thơ chân thật

      Chân thật trọn đời

      Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

      Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

      Bút giấy tôi ai cướp giật đi

      Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá..."

      (năm 1957)

      Những phản kháng quyết liệt của Hữu Loan (Màu Tím Hoa Sim) của Hoàng Cầm (Bên Kia Sông Đuống), Trần Dần (Nhất Định Thắng) tinh thần can trường kiên định của nhà thơ Lê Đạt. Nhất là thái độ cứng rắn can đảm với lý luận bướng bỉnh của Phan Khôi: "Làm sao cũng chẳng làm sao/Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi/Làm chi cũng chẳng làm chi/Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao!"


      Nhưng chỉ là ngọn lửa bùng lên trong một thời gian ngắn để rồi tắt lịm, trước cơn bão hủy diệt tàn bạo của nhà cầm quyền Hà Nội.


      Theo thiển ý và kinh nghiệm riêng của chúng tôi khi một bài thơ đạt những tiêu chuẩn như sau:

      1. Cảm hứng xuất thần khi sáng tác (hồn thơ)

      2. Thể hiện sự chân thật và tự nhiên

      3. Tư tưởng chuyển đạt cảm xúc

      4. Cấu trúc ngôn ngữ để tạo sự dễ nhớ


      Hy vọng sẽ được đa số quần chúng và giới phê bình văn học đánh giá là một bài thơ hay. Với tiêu chuẩn vừa nêu trên, chúng tôi xin mạn phép đóng vai trò người phu già vực lên trong tro than của quá khứ để tìm những viên ngọc quý không bị hủy hoại của lửa phần thư và không bị thời gian làm phai mờ trong tiềm thức của chúng ta. Đó là những tác phẩm Văn Học dân tộc tuyệt vời trân quý của một thời rạng rỡ tinh hoa của những tên tuổi được yêu thích như Đinh Hùng, Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng, Trần Dạ Từ, Lê huy Oanh, Du Tử Lê, Hoàng Trúc Ly, Hoài Khanh, Viên Linh, Cao Tiêu, Thanh Nam, Tô Thùy Yên, Trần Hoài Thư, Hoàng Anh Tuấn, Tuệ Nga, Kim Tuấn, Nguyễn Tất Nhiên, Vũ Hữu Định, Huy Phương, Diên Nghị, Cao Mỵ Nhân, Song Nhị, Hà Thượng Nhân, Nguyễn Bắc Sơn, Hoàng Lộc, Hà Thúc Sinh, Thành Tôn, Tạ Ký, Lâm Hảo Dũng, Lữ Quỳnh..v.v..


      Chúng tôi chỉ mạo muội đan cử một vài tác phẩm thi ca tâm đắc theo sở thích riêng tư. Đó là những bài Tình Già của Phan Khôi, Tống Biệt Hành của Thâm Tâm, Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, Chào Nguyên Xuân của Bùi Giáng, Áo Lụa Hà Đông của Nguyên Sa, Tiếng Chuông Thiên Mụ của Nhã Ca, Đôi Mắt Người Sơn Tây của Quang Dũng và Nguyện Cầu của Vũ Hoàng Chương.

      TÌNH GIÀ

      Phan Khôi.


      "Hai mươi bốn năm xưa,

      Một đêm vừa gió lại vừa mưa.

      Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,

      Hai mái đầu xanh kề nhau than thở.

      "Ôi! đôi ta tình thương nhau thì vẫn nặng,

      Mà lấy nhau hẳn là không đặng.

      Để đến rồi tình trước phụ sau;

      Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!"

      Hay! nói mới bạc làm sao chớ!

      Buông nhau làm sao cho nỡ"

      Thương được chừng nào hay chừng nấy,

      Chẳng qua ông trời bắt đôi ta phải vậy!

      Ta là nhân ngãi đâu có phải vợ chồng mà tính việc thủy chung"

      Hai mươi bốn năm sau,

      Tình cờ nơi đất khách gặp nhau!

      Đôi cái đầu đều bạc.

      Nếu chẳng quen lung đố có nhìn ra được!

      Ôn chuyện cũ mà thôi.

      Liếc đưa nhau đi rồi!

      Con mắt có đuôi".


      TỐNG BIỆT HÀNH

      Thâm Tâm


      Đưa người ta không đưa sang sông,

      Sao có tiếng sóng ở trong lòng"

      Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

      Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong"

      Đưa người, ta chỉ đưa người ấy

      Một giã gia đình, một dửng dưng...

      - Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ.

      Chí lớn chưa về bàn tay không

      Thì không bao giờ nói trở lại

      Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.

      Ta biết người buồn chiều hôm trước,

      Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,

      Một chị, hai chị cùng như sen

      Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

      Ta biết người buồn sáng hôm nay:

      Trời chưa mùa thu, tươi thắm thay,

      Em nhỏ thơ ngây đôi mắt biếc

      Gói tròn thương nhớ chiếc khăn tay...

      Người đi" Ừ nhỉ, người đi thực!

      Mẹ thà coi như chiếc lá bay.

      Chị thà coi như là hạt bụi

      Em thà coi như hơi rượu say.


      ĐÂY THÔN VĨ DẠ

      Hàn Mặc Tử.


      Sao anh không về chơi thôn Vĩ,

      Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên

      Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

      Lá trúc che ngang mặt chữ điền

      Gió theo lối gió mây đường mây

      Giòng nước buồn thiu hoa bắp lay

      Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

      Có chở trăng về kịp tối nay

      Mơ khách đường xa khách đường xa

      Áo em trắng quá nhìn không ra

      Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

      Ai biết tình ai có đậm đà.


      CHÀO NGUYÊN XUÂN

      Bùi Giáng.


      Xin chào nhau giữa con đường

      Mùa xuân phía trước miên trường phía sau

      Tóc xanh dù có phai màu

      Thì cây xanh vẫn cùng nhau hẹn rằng

      Xin chào nhau giữa lúc này

      Có ngàn năm đứng ngó cây cối và

      Có trời mây xuống lân la

      Bên bờ nước có bóng ta bên người

      Xin chào nhau giữa bàn tay

      Có năm ngón nhỏ phơi bày ngón con

      Thưa rằng: những ngón thon thon

      Chào nhau một bận sẽ còn nhớ nhau

      Xin chào nhau giữa làn môi

      Có hồng tàn lệ khóc đời chửa cam

      Thưa rằng bạc mệnh xin kham

      Giờ vui bất tuyệt xin làm cỏ cây

      Xin chào nhau giữa bụi đầy

      Nhìn xa có bóng áng mây nghiêng đầu

      Hỏi rằng: người ở quê đâu

      Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà

      Hỏi rằng: từ bước chân ra

      Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài

      Thưa rằng: nói nữa là sai

      Mùa xuân đương đợi bước ai đi vào

      Hỏi rằng: đất trích chiêm bao

      Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau

      Thưa rằng: ly biệt mai sau

      Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân.


      ÁO LỤA HÀ ĐÔNG

      Nguyên Sa.


      Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát

      Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

      Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng

      Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng

      Anh vẫn nhớ em ngồi đây, tóc ngắn

      Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh

      Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung

      Bày vội vã vào trong hồn mở cửa

      Gặp một bữa anh đã mừng một bữa

      Gặp hai hôm thành nhị hỉ của tâm hồn

      Thơ học trò anh chất lại thành non

      Và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu

      Em không nói đã nghe lừng giai điệu

      Em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh

      Anh đã trông lên bằng đôi mắt chung tình

      Với tay trắng em vào thơ diễm tuyệt

      Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết

      Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng vì đâu

      Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau

      Để anh gọi, tiếng thơ buồn vọng lại

      Để anh giận mắt anh nhìn vụng dại

      Giận thơ anh đã nói chẳng nên lời

      Em đi rồi, sám hối chạy trên môi

      Những ngày tháng trên vai buồn bỗng nặng

      Em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn

      Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông

      Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng

      Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng


      TIẾNG CHUÔNG THIÊN MỤ

      Nhã Ca.


      Tôi lớn lên bên này sông Hương

      Con sông chẻ đời ra những vùng thương nhớ

      Cây trái Kim Long, sắt thép cầu Bạch Hổ

      Cửa từ bi vồn vã bước chân sông

      Mặt nước xanh trong suốt tuổi thơ hồng

      Tháp cổ chuông xưa sông hiền sóng mọn

      Những đêm tối bao la những ngày tháng lớn

      Những sáng chim chiều dế canh gà

      Tiếng chuông buồn vui dợn thấu trong da

      Người với chuông như chiều với tối

      Tôi bỏ nhà ra đi năm mười chín tuổi

      Đêm trước ngày đi nằm đợi tiếng chuông

      Cuối cơn điên đầu giấc ngủ đau buồn

      Tiếng chuông đến dịu dàng lay tôi dậy

      Tiếng chuông đến và đi chỉ mình tôi thấy

      Chỉ mình tôi nhìn thấy tiếng chuông tan

      Tiếng chuông tan đều như hơi thở anh em

      Tiếng chuông tan rời như lệ mẹ hiền

      Tiếng chuông tan lâu như mưa ngoài phố

      Tiếng chuông tan dài như đêm không ngủ

      Tiếng chuông tan tành như tiếng vỡ trong tôi

      Từ dạo xa chuông khôn lớn giữa đời

      Đổi họ thay tên viết văn làm báo

      Cơm áo dạy mồm ăn lơ nói láo

      Cửa từ bi xưa mất dấu đứa con hư

      Tháp cổ chuông xưa, sông nhỏ sương mù

      Dòng nước cũ trong mắt nhìn ẩm đục

      Con đường cũ trong hồn nghe cỏ mọc

      Chuông cũ giờ đây bằn bặt trong da

      Tuổi hồng sa chân chết đuối bao giờ

      Ngày tháng cũ cầm bằng như nước lũ

      Nhưng sao chiều nay bỗng bàng hoàng nhớ

      Tiếng chuông xưa bừng sống lại trong tôi

      Tiếng chuông xưa kìa tuổi dại ta ơi

      Chuông òa vỡ trong tôi nghìn tiếng nói

      Những mảnh đồng đen như da đêm tối

      Những mảnh đồng đen như tiếng cựa mình

      Những mảnh đồng đen như máu phục sinh

      Những mảnh đồng đen kề nhau bước tới

      Tôi thức dậy rồi đây chuông ơi chuông hỡi

      Tôi thức dậy đây tôi thức dậy rồi

      Thức dậy thực sự rồi

      Thức dậy cùng dông bão, thức dậy cùng tan vỡ

      Thức dậy cùng lịch sử

      Mẹ hiền ơi thành phố cũ chiều nay

      Có tiếng chuông nào rơi như lệ trên tay

      Trên mặt nước trên mặt người mặt lộ

      Cho con trở về đừng mê sảng ngó.


      ĐÔI MẮT NGƯỜI SƠN TÂY

      Quang Dũng.


      Em ở thành Sơn chạy giặc về

      Tôi từ chinh chiến cũng ra đi

      Cách biệt bao ngày quê Bất bạt

      Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

      Vừng trán em vương trời quê hương

      Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương

      Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm

      Em có bao giờ em nhớ thương.

      Từ độ thu về hoang bóng giặc

      Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn

      Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ

      Em có bao giờ lệ chứa chan"

      Mẹ tôi em có gặp đâu không"

      Những xác già nua ngập cách đồng

      Tôi cũng có thằng con bé dại

      Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông

      Đôi mắt người Sơn Tây

      U uẩn chiều lưu lạc

      Buồn viễn xứ khôn khuây...

      Em mơ cùng ta nhé

      Bóng ngày mai quê hương

      Đường hoa khô ráo lệ

      Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn

      Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng

      Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ quốc

      Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

      Bao giờ tôi gặp em lần nữa

      Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa

      Đã hết sắc màu chinh chiến cũ

      Em có bao giờ nhớ đến ta.


      NGUYỆN CẦU

      Vũ Hoàng Chương.


      Ta còn để lại gì không"

      Kìa non đá lở, này sông cát bồi...

      Lang thang từ độ luân hồi,

      U minh nẻo trước, xa xôi dặm về.

      Trông ra bến Hoặc bờ Mê,

      Ngàn thu nửa chớp, bốn bề một phương.

      Ta van cát bụi trên đường

      Dù nhơ dù sạch, đừng vương gót này.

      Để ta tròn một kiếp say,

      Cao xanh liều một cánh tay níu trời.

      Thơ ta chẳng viết cho đời,

      Không vang nhịp khóc dây cười nào đâu!

      Tâm hương đốt nén linh sầu

      Nhớ quê dằng dặc ta cầu đó thôi,

      Đêm nào ta trở về ngôi

      Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian

      Một phen đã nín cung đàn,

      Nghĩ chi còn mất hơi tàn thanh âm.

      (Hà Nội 1950)

      Chúng ta ai cũng hiểu, thời gian rồi sẽ qua đi, tất cả mọi hiện tượng vật chất rồi sẽ tan biến vào cõi vô thường.


      Nhưng cái còn lại chúng ta mang theo trong tâm thức nơi viễn xứ là nét văn hóa đặc thù của dân tộc. Không có nguồn văn chương lưu vong nào không cưu mang Tổ Quốc


      Hiện trạng của chúng ta là những nạn nhân của một chế độ thiếu tự do nhân bản. Cho dù định cư ở nơi nào trên thế giới chúng ta đều phải kiên trì vượt qua những khó khăn đối diện với đời sống thực tế. Tuy nhiên chúng ta hãy nhận thức vai trò và bổn phận cao quý hơn nữa là phải quyết tâm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa cội nguồn của Dân Tộc, chuyển đạt đến các thế hệ mai sau niềm tự hào là người Việt Nam chúng ta cũng có một nền Văn Hóa đầy Tình Tự Quê Hương, Nhân Bản và Sáng Tạo bằng trái tim từ ái ưu viễn tôn vinh tình người, thăng hoa hướng tới Chân Thiện Mỹ của nhân loại.


      THÁI TÚ HẠP

      (Bài nói chuyện với dề tài "Khái Quát Văn Học Ba Miền và Những Áng Thơ Tiêu Biểu" với các khóa sinh tham dự Khóa Huấn Luyện & Tu Nghiệp Sư Phạm Kỳ XXII - 2010 do Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Nam California tổ chức tại Coastline Community College, Le-Jao Center, Westminster vào ngày 14 tháng 08 năm 2010)


      Thái Tú Hạp

      Nguồn: vietbao.com




      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Đi Tìm Đường Bay Ưu Việt Của Thi Ca Thái Tú Hạp Nhận định

      - Nguyên Sa - Thế giới của Tình yêu thơ mộng Thái Tú Hạp Tiểu luận

      - Hoàng Thi Thơ: nửa thế kỷ dành cho tình yêu & quê hương Thái Tú Hạp Tạp bút

    3. Tho

       

       

        Thơ:

       

      Khát Vọng (Trần Yên Hòa)

      Chất Thơ Do Cảm Nhận Vài Kiến Thức Về Tư Tưởng Của Kant Và Hegel (Trần Văn Nam)

      Các Bài Thơ Nôm Đầu Tiên Trong Văn Học Chữ Nôm (Tuệ Chương)

      Đi Tìm Đường Bay Ưu Việt Của Thi Ca (Thái Tú Hạp)

      Tứ Thơ Và Chiến Tranh: Chiến-Sự Dù Nhỏ, Cũng Đã Lưu-Dấu Trong Thơ (Trần Văn Nam)

      Những Dời Đổi Địa Hình và Mối Hoài Cảm Thi Ca (Trần Văn Nam)

      Đất Nước Của Ma Quỷ (Bùi Chí Vinh)

      Thời Đại Tôi Đang Sống (Nguyễn Thị Thanh Yến)

      Bài thơ độc vận “ơ” làm trong men rượu say (Trần Thoại Nguyên)

      Đất nước mình ngộ quá phải không anh (Trần Thị Lam)

      Những đôi mắt ngủ quên (Trương Đình Phượng)

      Con đường mới | Mở cửa (Trương Đình Phượng)

      Mưa lạnh trên đèo (Xuân Thao)

      Ân Tình Mẹ (Trần Kiêm Đoàn)

      Mùa Xuân Và Linh Hồn Mới (Trần Mộng Tú)

       

        Thơ Dịch:

       (Vietnamese Poetry translated into English)

       

      Đàm Trung Pháp & Viên Linh dịch và chú giải:

       

      Vịnh Hai bà Trưng (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)

      Ăn Cỗ Đầu Người (Nguyễn Biểu)

      Đoạt Sáo Chương Dương Độ (Trần Quang Khải)

      Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

      Thề Non Nước (Tản Đà)

      Thi Nhiệt (Lý Đông A)

      Vịnh Tranh Gà Lợn (Vũ Hoàng Chương)

       

      Huỳnh Sanh Thông dịch:

       

      Thăng Long (Nguyễn Du)

      Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du)

      Hồ Hoàn Kiếm (Vô Danh)

      Thăng Long Thành Hoài Cổ

       (Bà Huyện Thanh Quan)

      Chiều Hôm Nhớ Nhà (Bà Huyện Thanh Quan)

      Lên Đèo Hải Vân (Huỳnh Mẫn Đạt)

      Vịnh Bức Dư Đồ Rách (Tản Đà)

      Màu Tím Hoa Sim (Hữu Loan)

      Nhà tôi (Yên Thao)

      Sóng (Xuân Quỳnh)

      Hai Sắc Hoa Tigôn (T.T.Kh.)

       

      Lê Đình Nhất-Lang & Nguyễn Tiến Văn dịch:

       

      Cùng khổ (Bùi Chát)

      Hoa sữa (Bùi Chát)

      Bài thơ một vần (Bùi Chát)

      Đèn đỏ (Bùi Chát)

      Ai? (Bùi Chát)

      Những người đáng trọng & những kẻ đáng khinh

       (Lý Đợi)

       

      Các tác giả khác dịch:

       

      Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi (Nguyễn Đình Toàn)

       (Do Dinh Tuan dịch)

      Bữa Tiệc Hòa Bình (Nguyễn Thị Thanh Bình)

       (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

      Từ Một Cuốn Rún (Nguyễn Thị Thanh Bình)

       (Đinh Từ Bích Thúy dịch)

      Vì Người Ta Cần Ánh Mặt Trời (Nguyễn Đắc Kiên)

       (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

       

        Thơ Cổ:

       

      Chinh Phụ Ngâm diễn nôm, một dịch phẩm thần kỳ (Đàm Trung Pháp)

      Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào? (Trần Từ Mai)

      Đọc lại một số thi phẩm của Phan Châu Trinh (Phan Thành Khương)

      Nhất Chi Mai - Chất Người Muôn Thuở (Phan Trang Hy)

      Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

      Nguyễn Trãi Huyễn-Thực và Sắc-Không (Trần Ngọc Ninh)

      Quá Phong Khê, Một Bài Thơ Kỳ Tuyệt (Phạm Khắc Hàm)

      Giới thiệu Bài Thơ "Trừ Tịch" của Đặng Đức Siêu (Trần Từ Mai)

      Xuân Xưa Thơ Trước, Hồn Ngàn Mùa (Viên Linh)

      Bạch Đằng Giang Phú (Trương Hán Siêu)

      Thuật Hoài (Phạm Ngũ Lão)

      Thuật Hoài (Đặng Dung)

      Lâm Cảng Dạ Bạc (Nguyễn Trãi)

      Ngày Xuân Đọc "Đào Hoa Thi" của Nguyễn Trãi (Trần Uyên Thi)

      Thơ Lý Bạch (Đàm Trung Pháp)

       

        Thơ Tuyển:

       

      Khói Trắng (Kiên Giang)

      Lòng Mẹ (Nguyễn Bính)

      Tình yêu mẹ - Tình yêu con (Nguyễn Thu Hằng)

      Hẹn Anh Một Ngày Tái Ngộ (Ngô Minh Hằng)

      Những tháng tư buồn (Nguyễn Thị Hằng)

      Nỗi buồn tháng 4 (Huy Uyên)

      Khởi Hành (Trần Thúc Vũ)

      Quà Tặng Trong Chiến Tranh (Trần Mộng Tú)

      Mã Viện (tác giả: Vô Danh) (Nguyễn Văn Ngọc)

      Mẹ và sự lặng im (Trần Mộng Tú)

      Thơ Về Mẹ (Nhiều tác giả)

      Hai Chữ Nước Nhà (Trần Tuấn Khải)

      Đói (Bàng Bá Lân)

      Lời Mẹ Dặn (Phùng Quán)

      Nước Tôi (Nguyễn Văn Cổn)

      Thơ Tưởng Niệm Ngày 30 Tháng Tư (Nhiều tác giả)

      Thơ Tình Ngày Valentine (Nhiều tác giả)

      Kỷ Niệm Chiến Thắng Đống Đa (Hoàng Phong Linh)

      Thơ và Câu Đối Mừng Xuân (Nhiều tác giả)

      Quốc Nam, Quốc Việt (Hồ Bạch Thảo)

      Bài Thơ Vô Đề Viết Trong Trại Tù Tập Trung (Tú Kếu)

      Thơ Tưởng Niệm Các Anh Hùng Tử Sĩ ở Hoàng Sa (Nhiều tác giả)

      Bình Giảng: Đời Đáng Chán và Tống Biệt của Tản Đà (Thạch Trung Giả)

      Thơ Tiền Chiến (Nhiều tác giả)

      Tây Tiến (Quang Dũng)

      Đêm Liên Hoan (Hoàng Cầm)

      Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Cao Tiêu)

      Biên Cương Hành (Phạm Ngọc Lư)

      Thơ Xuân (Nhiều tác giả)

      Đồng Lầy (Nguyễn Chí Thiện)

      Ta Về (Tô Thùy Yên)

      Trường Sa Hành (Tô Thùy Yên)

      Kịch thơ: Hận Nam Quan (Hoàng Cầm)

       

        Tục ngữ (Proverbs)

       

      Tre già măng mọc

      Đục nước béo cò

      Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng

      Gà một mẹ đá nhau

       

        Danh Ngôn

        Đố vui (Puzzles)

       
       
  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)