1. Head_
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Trần Dzạ Lữ, nhà thơ hát dạo bên trời (Nguyễn Vy Khanh)

      2-4-2019 | VĂN HỌC

      Trần Dzạ Lữ, nhà thơ hát dạo bên trời

       NGUYỄN VY KHANH
      Share File.php Share File
          

       


           Nhà thơ Trần Dzạ Lữ

      Nhà thơ Trần Dzạ Lữ (còn ký Trần Yên Hồ) tên thật Trần văn Duận, sanh năm 1949, khởi làm thơ từ thập niên 1960 và đã có thơ đăng trên các tạp chí Văn, Văn Học, Thời Tập, Khởi Hành, v.v. Các tác phẩm Hát Dạo Bên Trời (NXB Trẻ, 1995)Gọi Tình Bên Sông (1997) được xuất bản sau hơn 30 năm góp mặt với làng thơ. Mở đầu tập Hát Dạo Bên Trời, nhà thơ đã ghi: "được thai nghén trên 30 năm nay đứa con đầu ra đời và hiện đang đứng Hát Dạo Bên Trời ...".


      Từng được đọc thơ ông từ trước 1975 và mới đây sau khi đọc Hát Dạo Bên Trời (1995), chúng tôi xin ghi lại một số nhận xét (phần thơ trích từ tập HDBT và một số tạp chí trước 1975 cũng như trên mạng). Đọc thơ Trần Dzạ Lữ với những người từng theo dõi văn-chương, cũng là một cách hồi tưởng, sống lại những năm 1960, 1970 là một thời nghệ thuật đáng nhớ của những con người từng sống ở miền Nam tự do.


      *


      Trước hết, thế giới thi ca của Trần Dzạ Lữ là cả một khung trời tình yêu, bắt đầu với thơ tình một thời học trò. Ở đây là những mối tình hoa mộng, lời hoa mà lòng gấm, lời đan thanh mà lòng đã nhiều đam mê. Không gian học đường đã đóng khung những bước chân chim non, những gót son thấp thoáng nơi sân trường và tản đi nhiều phương khi tan trường về. Tình thuở môi hồng được viết thành thơ :

      Anh chưa nhìn sao em đà cúi mặt

      Để buổi chiều bẽn lẽn ở sau lưng?

      Bước chân chim hình như cũng ngại ngùng

      Anh sửng sốt thả rơi tình, ân hận...

      (...) Anh chưa nhìn sao em đà hấp tấp

      Ướt mi chi cho xa lắc trăng rằm?

      Đến mây trời cũng ngừng cuộc lang thang

      Để bịn rịn theo ai về cuối ngõ ...

      (...) Anh chưa nhìn sao em đà cúi mặt

      Hay là anh giống hệt một gã khờ?

      Em - tháng giêng ngon cũng vừa bay mất

      Và cuối hồn anh còn chút dư hương...

      (Tặng người áo trắng)

      Những hẹn hò khi tình đã chín, những nuối tiếc vì tuổi học trò đơn sơ không tính toán, để phải "bây giờ thu bên đời lận đận":

      Sao không nói những khi mình gặp gỡ

      Những khi ngày còn chở mộng qua sông,

      Để bây giờ lòng chỉ mới hỏi lòng

      Mà đêm đã chia sầu tình vanh vách

      (...) Sao không nói những khi trăng còn hẹn

      Với lầu khuya say ngợp cả đất trời

      Để bây giờ trăng bỏ về phương khác

      Cho chim buồn kêu lẻ dưới sương rơi

      (...) Sao không nói những khi mình vương vấn

      Những chiều thu vàng thầm bước theo nhau

      Để bây giờ thu bên đời lận đận

      Lạ nhau rồi còn ai ngóng ai đâu ...

      (Sao không nói?)

      Người tình ấy từng da diết, rồi cũng có lúc chia phôi, tình chỉ còn trong nỗi nhớ:


      Tháng giêng gợi nhớ môi người,

      Trong đêm tóc rối một trời yêu thương.

      Bây giờ thêm nhớ mùi hương,

      Một giai nhân đã đổi đường chim bay

      (Khúc tháng giêng)


      Tiếc nuối trên những dấu chân xưa, nơi "phố chợ đó cũng hoang đường cổ tích":


      Người đã xa như một vì sao nhỏ

      Cuối chân trời thương nhớ vẫn chưa nguôi

      Tôi đếm những mùa xuân qua hút bóng

      Nghe trong hồn hoa cỏ cũng tàn phai ...

      1967.

      (Xuân lối cũ, HDBT tr. 12)


      Tiếc hơn nữa mỗi khi mùa Xuân lại đến rộn ràng, hoa quỳ vàng đã choán hết ký ức:

      Dừng bên cầu hát quạnh / Nghe mưa bụi qua hồn

      Mới hay xuân trở lại / Xui nhớ người yêu thương

      Mùa nào hoa quỳ nở / Ta trao nhau mộng đầu

      Tuổi mười lăm mười bảy / Em ngọt đời như dao

      (...) Bây giờ Tết rồi nhỏ / Mình vẫn còn xa nhau

      Chắc em quàng khăn nhớ / Đợi anh về, xôn xao!

      Đừng có buồn nghe nhỏ / Ở thị trấn hoa vàng

      Có hồn anh theo nhỏ / Tình vẫn nồng trăm năm.

      1975

      (Mùa Xuân gửi thị trấn hoa vàng HDBT tr. 38-39)

      Thị trấn hoa vàng của mộng đầu tình non xanh tuổi mười bảy. Hoa quỳ vàng nhắc nhở người yêu bé nhỏ:

      Bên sông tình tự, nay gọi tình bên sông:

      Có một lần nhớ quá / ra sông đứng gọi tình

      tình xa, người hoá lạ / chiều mồ côi cánh chim...

      Có một đời xưa quen / đã mù sa cổ tích

      kỷ niệm sầu chia nhánh / Địa Ngục và Thiên Đàng

      (...) Có đôi lần đứng ngóng / ngày tình nhân chia lìa

      vỗ đàn mà hát hỏng / nhớ sum vầy xưa kia...

      Có nhiều lúc chơi vơi / hôn Cúc vàng thầm lặng

      thương ơi tờ lụa mỏng / em biệt dạng bên trời.

      1990

      (Gọi tình bên sông, HDBT tr. 59-60)

      Bài thơ sau được dùng lại làm chủ đề cho cả thi tập Gọi Tình Bên Sông xuất bản năm 1997.


      Rồi cũng có "ngày vẫy biệt khu rừng mơ tuổi nhỏ / ta xuống đời, biết chắc đã xa em ..." (tr. 29) để đi vào đời, "anh đi lẳng lặng bóng cò / chỉ mang theo lá thư hò hẹn xưa" (tr. 30).


      Tình đã dở dang, sao đổi ngôi, hay vật đã đổi sao đã dời:

      Trên đời có sao đổi ngôi

      Trong em kẻ lạ thay tôi đổi tình

      Tiếc công giữ mộng, canh hình

      Gương xưa đã vỡ sao lành được em?

      Chong đèn soi cổ tích đêm

      Thấy trong tiền kiếp bóng mình ngu ngơ...

      1991

      (Sao đổi ngôi, HDBT tr. 69).

      Lẳng lặng một bóng, nhưng đã là nòi tình thì tình vẫn đeo đuổi mãi, nhưng sau này thì theo thời thượng vi tính:

      Ngày xưa anh nhấp tình / Bây giờ thì nhấp chuột

      Dõi tìm trên vi tính / Tình trôi vào vô minh...

      Ấn tay vào bàn phím / Anh lại nhớ về em

      Mang mang tà áo tím / Thiếu nữ qua sông buồn!

      (...) Nhấp chuột - cũng không vui / Nhấp tình - tình vời vợi...

      Làm sao quên được người / Nụ hoa đỏ trên môi?

      Mùa xuân về dưới phố / Gác trọ mình đơn côi!

      (Nhấp tình)

      *


      Tình ở Trần Dzạ Lữ rốt cùng là tình Huế, tình với Huế, của Huế, của Huế hôm nay hoặc của quá vãng, trong tâm tưởng, hoặc Huế của trống vắng thần khí. Huế nơi nhà thơ sinh trưởng nhưng sống ở đó ngắn hơn Sài-Gòn và những chân trời lận đận của chiến tranh và thời hậu chiến bi ai. Nhớ nhất đôi mắt Huế, mắt của đam mê mời gọi một thời và xa xôi thì nhung nhớ thành ám ảnh đời:

      Dù ở đâu không thể nào lẫn được

      Đôi mắt em thăm thẳm mộng bên trời

      Mắt đợi chờ làm điếng cả hồn tôi

      Tình như rứa làm răng tôi cất bước?


      (...) Dù đi đâu cũng không thể nào xa được

      Mắt - Huế - xưa theo dõi bóng giang hồ

      Tôi phải trôi về những cơn mơ

      Áo - tím - Huế bay trong chiều lụa - bạch

      Đôi mắt ấy thoạt nhìn như sắp khóc

      Dẫu đời tôi hoá đá cũng chao lòng

      Mắt u buồn vẫn liếc dáng thuỷ chung

      Như mắt mạ chờ cha nơi phố cũ...

      Dù ở đâu tôi không thể nào quên được

      Mắt - Huế - em ngái ngút vẫn đâm gần

      Mắt níu đời quen cho đến trăm năm

      Tình như rứa làm răng tôi cất bước?

      (Mắt Huế)

      "Đôi mắt em thăm thẳm mộng bên trời" phải chăng là đôi mắt huyền của Tôn Nữ của một không gian thi-thoại lá ngọc cành vàng?

      Xưa, em buồn trong Nội / Mắt ướt mấy cửa thành

      Chiều chiều ra hong tóc / Thấp thoáng mộng ngày xanh...

      Ta, thường hay lui tới / Dưới đường mưa âm thầm

      Vì yêu đời Tôn Nữ / Mong em, cháy nỗi lòng...

      Khi biết ta hàn sĩ / Giấu nỗi sầu trăm năm

      Em che tình mãi rộng / Ru nhau vào đời ngoan!

      Yêu nhau như chim uyên / Dắm như ván trong thuyền

      Dẫu búa rìu dư luận / Bủa vây ta và em

      Những con đường thề thốt / Lá thấp mùa sương quen

      Dấu chân tình ta đẫm / Tuyệt vời phải không em?

      Nhưng rồi tới một ngày / Ta khăn gói ra đi

      Mộng tàn trong đáy cốc / Khôn xiết nỗi biệt ly...

      Bỏ em sầu trong Nội / Bỏ lại một đoạn lòng

      Ta đi làm lữ khách / Viễn xứ hề long đong!

      Ta, đứa lạc trong sương / Mù thêm ngày cô đơn

      Lắm lúc mơ vàng - đá / Thấy phai màu uyên ương...

      (Tôn Nữ có chờ ta?)

      Tôn Nữ được nhà thơ nhiều lần nhắc đến, như kỷ niệm đầu đời hay đã như nỗi nhớ khôn nguôi hoặc mùi hương hằng tưởng nhớ. Tôn Nữ được trang trọng viết hoa, trở thành một cụm từ dễ thương chỉ người đẹp miền sông Hương núi Ngự, ở các bài khác như: Gửi người áo tím, Đêm mưa nghe tiếng đàn bầu, Cảnh tượng tháng Giêng, Ngày tàn cuộc, Mùa Hạ về Thành Nội, v.v.:


      Tìm đâu ra em hở / Tôn Nữ của ngày xưa

      Một thời ai nghiêng nón / Sửng sốt hồn trai tơ! ...

      1995

      (HDBT tr. 82), và v.v.


      Tôn Nữ hay người nữ tên bắt đầu bằng chữ H. ? H là 'Huế'?

      Mình tan loãng vào nhau / từ lúc nào không biết

      em như là chiêm bao / mềm trong anh cần thiết

      thương lúc nào không biết / mà nghiêng ngửa hồn xưa

      (...) nhưng rồi mình xa nhau / bất ngờ như lúc đến

      (...) năm năm em mật đắng / vàng lạnh chiếu chăn người

      năm năm anh gặm nhấm / dấu ăn năn bên trời

      bây giờ thu em ơi / còn đâu mà tan loãng

      em đã thành dĩ vãng / anh là gíó trùng khơi.

      1993

      (Thơ Tặng H. khi Mùa Thu Đến, HDBT tr. 73-74)

      Người tình Thành Nội tha thiết trở lại trong Bài thơ thứ hai cho người tình sâu cố xứ:

      Hỡi người em lệ sầu mắt đỏ

      Áo trắng dài trong nắng vàng rung

      Em biết không chiều nay anh nhớ

      Thân lạc xứ người hồn đau gửi cố hương

      Anh gửi hồn về thăm thành nội

      Ơi mùa thu nhả lá đổ sương mù

      Chiều xưa em hát như chim hát

      Giọng vàng lòng đá cũng mềm luôn ...

      (HDBT, tr. 16)

      Lòng đá cũng phải mềm thì lòng trai sao thoát được lưới tình?

      H. phải chăng là Huyền hay Cúc Hoa, ... và nàng áo tím?


      Ừ nhỉ, mười năm sầu xa xứ

      Cô-lữ-hành rung tiếng đàn xưa

      Nhớ ai như nhớ tình Tôn Nữ

      Và màu áo-tím-huế trong mơ ...

      1991

      (Gửi người áo tím, HDBT tr. 71).


      Lưới tình bủa vây nhà thơ, ngày kia, người đẹp Cúc Hoa bên cửa giáo đường Gia Kiệm đã làm lòng nhà thơ nhói đau, vì con tim chợt hồi tưởng mối tình tưởng đã xa nhưng hãy hiện diện dù đã mười lăm năm:

      Nép mình bên cửa giáo đường

      Ta chờ em giữa vô thường trần gian

      Mắt nai trôi giữa hồi chuông

      Hồn ta trôi giạt theo hương tóc thề

      Mười năm, làm cách chim di

      Thèm khăn áo mộng đi về với nhau

      Nhưng em nào biết ta đau

      Chiều Gia Kiệm có con tàu thương ga?

      Hồi chuông làm nhớ quê nhà

      Môi cười làm nhớ Cúc Hoa tần ngần...

      1989

      (Chiều Gia Kiệm, HDBT tr. 54)

      Huế ở Trần Dzạ Lữ là Huế của tâm hồn, Huế ở âm vang con chữ hơn là ngôn ngữ Huế sử dụng như với Hoàng Xuân Sơn, một nhà thơ khác của đất Thần Kinh. Với Trần Dzạ Lữ, Huế là những mối tình đam mê đầu đời và da diết, là không gian của những nơi tình tứ như Đồi Vọng Cảnh:

      Trên đồi Vọng Cảnh với em

      Bao cay đắng cũng hoá nên ngọt ngào

      Sá gì đất thấp trời cao

      Ta bay trong mộng với hào hoa xưa

      Cho dù Huế chiều nay mưa

      Ta xin nghiêng bóng che vừa tình em

      Trên đồi chia một trái sim

      Nửa ta bối rối, nửa em ngập ngừng ...

      1995

      (Trên đồi Vọng Cảnh, HDBT tr. 81)

      Tình của nơi Thành Nội những mùa hoa phượng nở, khi mất rồi có tìm về thì cảnh đó cũng đã phai bóng người xưa: "Bây chừ hoa phượng nở / Rưng rưng chiều nội thành / Ta về phơi thương nhớ / Bên đường kỷ niệm xanh”... (1995. Mùa Hạ về Thành Nội, HDBT tr. 82).


      Huế là nơi chốn của những kỷ niệm đầu đời thuở mới lớn, nơi đã chứng kiến những mối tình non dại. Những bài của Trần Dzạ Lữ về Huế là những bàn tình ca trung thật nhất, vì Huế cũng là nơi sinh trưởng nhưng người con xứ Huế thân yêu đã phải đi xa lang bạt theo dòng đời. Những giây phút chạnh lòng, nhà thơ nhớ về quê xưa và nếu có những dịp may, con đường xưa lối cũ dĩ nhiên làm con tim người trở về rộn ràng, hàng cây, con đò, ... và người con gái tên Huyền :

      Ta trờ lại con đường mười tám

      Heo may về lướt thướt bên cây

      Những bầy chim trắng xưa khuất bóng

      Tóc mun ai thôi đổ sông dài

      Nắng hanh vàng ơi-chiều Đại Nội

      Ta vô ra một bóng phiêu bồng

      Dấu tích vẫn còn rêu phong cũ

      Mà tình kia quảy gánh long đong

      Toà Khâm-vẫn lầu cao còn đó

      Nhưng em xưa nay đã xa rồi

      Câu mái đẩy giờ ai buông giọng

      Mà nghe sầu cổ tích chơi vơi

      Ta trở lại, nhớ Huyền xưa ơi!

      Cốc cà phê Bưu Điện một thời...

      Mai đi như gió-đời vô định

      Biết dặn dò chi nữa hở người.

      (Mùa Thu về cố xứ)

      *


      Mặt khác, 'Hát dạo bên trời' có thể xem như chủ đề của tập thơ của hơn 30 năm trời lận đận phận người trong thời ly loạn, chiến tranh. Nhà thơ từng triết lý rằng:

      Ôm nửa vầng trăng lạnh / ta về bên trời cao

      hát điên đời hiu quạnh / chống gậy nhìn mưa mau

      Tuổi nay gần tam thập / sống lẻ như đá mòn

      bằng hữu mù tăm tắp / tình nhân như dao đâm

      Mấy năm rồi không gặp / hồn nứt nỗi âm thầm

      nhất túy buồn thêm đậm / ca ngâm vời cỏ cây

      Cùng chỉ màu khói sương / ngẫm nghĩ hoài hương đỏ

      mắt mờ đường chiêm bao / Ngắt một cành hoa nhỏ

      nhớ thu biếc hôm nào / hồn ta chao chớn gió

      nay biết về nơi đâu?

      1973

      (Hát dạo bên trời, HDBT tr. 32)

      Hát dạo trong cuộc đời, rồi ca 'cô lữ' những bản nhạc đời:


      Ta đứng lại bên đường xuân hiu hắt

      Nghe hồn mình như có bước ai xưa

      Gõ sung mà ca chuyện người cô lữ

      Mộng rất gần mà thực ở đâu xa ...

      1974

      (Cô lữ ca, HDBT tr. 36)


      Người lữ khách đó theo dòng đời trôi nỗi. Đà Nẵng cũng là nơi của tình yêu, của môi má, của người thân, nay trở về như 'lữ khách', nơi phải tất bật 'theo cơm áo' nhân sinh:

      Đà Nẵng ơi ta là người về muộn

      cuối sân ga môi má ấy em còn?

      hay đã tắt nụ cười theo cơm áo?

      mộng tao phùng theo gió trắng qua sông


      (...) Đà Nẵng ơi, làm sao có lại một thời

      em mắt biếc đi qua trường viện

      ta chao về cánh chim chiền chiện

      hạnh phúc ghé vào là tấm gương soi!

      Đà Nẵng ơi, thương quá một thời

      thuở chị đẹp trang đời lóng lánh

      giọng Hoàng Oanh bắt đầu ngày ráo tạnh

      lúa ngoài đồng hương cốm sinh sôi!

      (Đà Nẵng, ngày ta về)

      Cũng đành, như phận người, ở một đất nước như Việt Nam từng đã được hơn một nhà văn đề cập đến. Một buông xuôi bi thảm như thân phận nhược tiểu không tiếng nói:

      Cũng đành người bỏ xa tôi

      Để vun bên đó, để vơi bên này

      Chim giờ lệch cả đường bay

      Trời xanh đã thẳm những ngày hư hao!

      Cũng đành buồn chuyện ca dao

      Trầu cau đôi ngã, nắng nhàu, mưa xiên...

      Cũng đành ngựa lạc, người điên

      Suối trôi cô độc, sông biền biệt xa!

      Tôi giờ "Trong cõi người ta"

      Chiều không, quán vắng, đường xa độc hành...

      (Cũng đành)

      Thuở trời đất nổi cơn gió bụi, có những lần về phép trở lại thành phố, người sĩ quan Truyền tin Trần Dzạ Lữ lại phải lên đường bỏ người yêu ở lại nơi thị tứ hậu phương, nơi cũng đã nhuốm mùi lửa đạn chiến tranh:

      Em đừng hỏi ở rừng có gì lạ

      có gì đâu xương rã với hồn đau

      và khi không tháng giêng lên núi

      đời đày ta và thần thánh xa nhau


      (...) Em đừng hỏi ở rừng có gì lạ

      có gì đâu ta từ buổi lên đường

      hôn chưa kịp em - bây giờ hôn đất

      thay chiếu giường bằng hầm hố cô đơn


      Em đừng hỏi ở rừng có gì lạ

      có gì đâu rừng rú điêu tàn

      nai lạc dấu ngàn thương trăng cũ

      ta nhớ người quay quắt trong sương.

      1971

      (Thư Gởi Người Ở Lại, HDBT tr. 25-26)

      Tâm sự đôi lúc đành gửi bạn tri âm, như Cung Tích Biền, rằng phận chúng ta đã vậy, bước phiêu bồng đã mỏi, thì sao không như Đỗ Phủ một thời Đường thi? Vì:

      Tôi sinh sau đẻ muộn / sao tâm sự giống ông

      tình mây bay gió cuốn / đau từng câu thơ Đường

      Đã đi khắp xứ sở / từng đụng nỗi hàm oan

      đời sống và trang kinh / chưa bao giờ là một!

      (...) Thà say như Lý Bạch / thà cuồng như Trí Thâm

      tỉnh như tôi và ông / chỉ thêm mầm bệnh tật!

      Nhưng mình mau nước mắt / mặn nồng với cố hương

      lẽ nào ta ngoảnh mặt / trước bức bách đời thường?

      1990

      (Gửi Đỗ Phủ, HDBT tr. 61-62)

      Hết tâm sự đến nỗi nhung nhớ những người bạn thơ, bạn văn một thời chữ nghĩa khác, những Huy Tưởng, Nguyễn Mộng Giác, Vũ Hữu Định, ... và cả những chốn vui bạn hữu như Quán cà phê Làng Văn. Vì buồn nhớ nào hơn những khi một mình "Gối đầu lên hiu quạnh / Ngước nhìn mắt sao khuya / Tự dưng hồn lay động / Có phải người xưa về ? " (Có phải, HDBT tr. 70).


      Nhà thơ bỏ thế giới thi ca cao quí để đối đầu với thực tế cuộc đời. Ở chợ đời, nhà thơ phải bươn chải với đủ thứ 'nghề', phải vịn lấy để sống còn với đời:

      Mười năm ở chợ không tri kỷ

      Ta đứng thu thân một nỗi buồn

      Sáng bảnh mắt ra, ngồi độc ẩm

      Chiều về tra vấn lấy lương tâm


      (...) Ở chợ đông, sao hồn cứ lạnh

      Đốt thuốc hoài không ấm nửa chiều?

      Thiên hạ đùn nhau đi kiếm sống

      Nhân ái? Tang-thương-ngẫu-lục nhiều


      Ta bán rau xanh, ngày mệt lử

      Đêm còn ngồi đọc sách thánh hiền

      Cố quên cơm áo - vòng danh lợi

      Sao đời nỡ hối thúc bên lưng?


      (...) Mười năm ở chợ không tri kỷ

      Gác chuyện văn chương thấy chẳng đành

      Nên ta độc thoại - Ta đây nhỉ?

      Thương nhớ xa xăm một bóng hình.

      1989

      (Ở chợ, HDBT tr. 47-48)

      Sau biến cố tháng Tư 1975, nhà thơ lao động nhọc nhằn quá mà vẫn không nhìn thấy tương lai cũng như không đủ cho hôm nay. Cuộc sống đa đoan đưa người thơ phiêu lưu đến những nơi hiểm hốc, trở ra miền Trung đi tìm trầm tìm sống, lòng nao nao nhớ về Nam nơi người thân sinh sống:

      Trong đám đi tìm trầm / Chốn thâm sơn cùng cốc

      Có người là nông dân / Bỏ cày lên mạn ngược

      Có kẻ ở thị thành / Bẻ bút làm hảo hớn

      Cũng có 'Anh-hùng-tận' / Vác rựa lên sườn non


      (...) Lại có người xưng thánh / Có kẻ là ma vương

      Tất cả đều thượng sơn / Cô hồn chung một lũ

      Ngày rừng chan mưa lũ / Râu tóc ướt phiêu bồng...

      Nói chung, đám tìm trầm / Vì đói cơm rách áo


      Người yêu coi như không / Vợ con là gió thoảng

      Chiều nay, qua Ba Lòng / Vì đâu mà thương nhớ

      Đâu phải giò phong lan / Tim tím chiều quyến rũ

      Cũng không phải chùn chân / Trước núi rừng muông thú


      Nhưng tất cả "binh đoàn" / Đều rưng rưng nước mắt

      Lúc leo qua con dốc / Có tên là Mạ ơi

      Dốc còn cao mong đợi / Tình còn sầu chơi vơi

      Riêng ta, thì em ơi / Nhớ miền Nam tha thiết

      Sài Gòn em có biết / Nỗi đau của mưa rừng

      Không ngãi cũng tìm trầm / Áo cơm đang nặng nợ.

      1985

      (Qua dốc Mạ Ơi ở Ba Lòng HDBT tr. 43-44).

      Xa 'cố xứ', tình cảnh lưu lạc 'đêm mưa nghe tiếng đàn bầu' sao lòng không não nuột thương đau?

      (...) Mưa, mù đường chiêm bao / Đàn bầu rung rung nhớ

      Mở ngực đời cô lữ / Chỉ là vết tình đau

      (...) Tiếng mưa lẫn tiếng đàn / Nhớ ai ngoài nội cũ

      Bao năm rồi mẹ hử / Con chưa lần về thăm!

      (...) Đêm nay, nghe đàn bầu / Réo rắt, về gác lửng

      Chợt hồn ta quay dựng / Quê người? Quê xưa đâu? ...

      1989

      (HDBT tr 49-50).

      Trong những cơn khốn cùng, nhà thơ càng trân quý tình nghĩa tào khang của người vợ. Hình ảnh trở nên đẹp dù trong tăm tối của ngõ cụt:

      Ơi ngày ấy đắm cơn mê

      Săm soi gương lược ta về với nhau

      Ngờ đâu tuổi mộng bay mau

      Hai vai lại nặng mối sầu áo cơm

      ... So dây đàn Thúy âm thầm

      Mười lăm năm ấy đoạn trường là bao

      Ơi ngày ấy đã chiêm bao

      Thôi em ráng bước qua cầu cùng anh ...

      1990

      (Nói với vợ hiền, HDBT tr. 56)

      "Anh trăn trở ngóng, em mường tượng mong", làm người tình rồi vợ, người nữ đã xẻ chia vui buồn cuộc đời. Hoàn cảnh khó nhăn, ngay cả ngày cưới em nhà thơ cũng không về được, đành làm thơ xin lỗi gửi người em gái quê nhà 'chơn chất' "Hãy âm thầm lo toan cuộc sống / Cho chính mình, ấy là đã thương anh" (HDBT tr. 65). Buồn, thất vọng, bất lực trước tàn nhẫn của cuộc đời, là những lúc nhà thơ đã nghĩ đến người xa xưa của một cõi hư vô nào!


      *


      Nhìn chung, nhiều bài thơ Trần Dzạ Lữ là những vần thơ hay, về Huế, về tình yêu, về cuộc lo toan sau 1975. Ông làm đủ loại thơ nhưng lục bát của ông có những nét rất riêng - những vần thơ của cuối thập niên 1960:


      Tay tôi vuốt mặt theo ngày

      Chim bay về nhánh sầu cây âm thầm

      Hồn xưa vừa chín ăn năn

      Em đi biển động đã trăm nỗi buồn

      Tôi về dáng thú buồn hơn

      Trong hang mưa lạnh lưng khom sợi chiều.

      1970

      (Sợi chiều tà, HDBT tr. 17).


      Hai hàng nến thắp áp quan

      Người đi nhỏ giọt linh hồn mai sau

      Nụ cười sẽ tắt ngàn thâu

      Vầng trăng, xiêm áo trên đầu hư vô ...

      1966

      (Bài hư vô, HDBT, tr. 11)


      Chiến tranh đã hiện diện trong thơ Trần Dzạ Lữ một cách bình thường, thủ phận, như không lựa chọn; bài Thầm hỏi trên tạp chí Văn (SG) số 138 (1969) là một điển hình:

      Sao đêm chưa là đêm mở hội

      Cho người về vui từng bước chân chim

      Cho người quên tuổi-vàng-chinh-chiến

      Đã ba năm dong ruổi trên ngàn


      Sao đêm chưa là đêm mở hội

      Cho mẹ già quên nỗi tủi chờ con

      Cho thiếu phụ quên đời đá-đợi

      Đã bao năm cắn lệ thương chồng


      (...) Sao đêm chưa là đêm mở hội

      Cho tôi về bên ánh lửa đêm đông

      Hong thương nhớ những năm dài quạnh quẽ

      Bên mẹ già em gái hết buồn trông.

      Lời thơ hiền lành, kể cả khi buồn tức tột cùng, lời hằn học nhẹ nhàng như thoáng qua, như khi 'trò chuyện với gác lửng' trong khi vợ "Vì áo cơm mà em ra chợ / Một hồn buồn giữa cõi rau xanh / Ngày văng tục trên miệng người láu cá/ Mà em thì líu lưỡi bởi không quen ..." (HDBT tr. 45-46).



           (Kệ sách Học Xá)

      Ở Trần Dzạ Lữ, những hình ảnh Tôn Nữ, Hoa quỳ, Tháng Giêng, Thành Nội, Thành phố Hoa Vàng, ... có mặt thường xuyên; đó là thành tố của một thế giới thơ lãng mạn, đam mê, mặc dù nhà thơ phải sống "giữa một biển đời giàu chất quỉ, lắm dạng ma, luôn huyên náo, huyền động, nồng cay trong từng lời mật ngọt ..." - nói như nhà văn Cung Tích Biền trong lời Tựa cho tập Hát Dạo Bên Trời (tr. 8). Rồi những chữ dùng của riêng nhà thơ: cuộc về, giấc ngủ ca dao, đắp chiếu thương đau, chở mộng qua sông, mùa tôi dựng tóc lạnh màu thanh niên (Cảnh tượng tháng Giêng), v.v.


      Như đã dẫn nhập, đọc thơ Trần Dzạ Lữ đối với những người từng theo dõi văn-chương, cũng là một cách hồi tưởng, sống lại: hồi tưởng một thời đại tức thời-gian. Xưa nay yếu tố thời-gian vốn được các nhà phân tích văn chương xem trọng, trong khi không-gian thường được xem như cái khung, cái vỏ vây quanh các định mệnh, nhân tố. Thực ra yếu tố không-gian cũng khá quan trọng trong thế giới nghệ thuật nhất là thi ca; không-gian liên hệ mật thiết với thực tại, cái sống, làm nền và nội dung cho nghệ thuật. Huế, Thành Nội, Thành phố Hoa Vàng mà cả Sài-Gòn, Đà Nẵng, Đà-Lạt, Ba Lòng, ... đã là những thành tố quan trọng trong sự nghiệp thơ của Trần Dzạ Lữ; đọc thơ ông tức đọc không-gian Huế (và những nơi chốn khác). Văn bản ấy được người đọc khám phá như đã được miêu tả, bao gồm, nhắm đến, mơ tưởng đến, ... Tùy tài năng tác giả mà ấn-bản thơ trở nên khác nào là một bản địa hình táo bạo. Huế mà mọi người đã biết hoặc sẽ biết trong thực tại hoặc với các nhà thơ Nam Trân, Hàn Mặc Tử, ... chưa hẳn đã là không-gian Huế của nhà thơ họ Trần. Thời-gian bao trùm, dĩ nhiên, nhưng phải bám vào một địa lý, nơi chốn, để có thể hiện diện, thành hình ảnh. Các địa danh đó khiến cho tình ý, tâm sự tác giả đã-đầy nhưng như vẫn-trống, đó là đặc tính đọc-được của không-gian trong nghệ thuật, nhất là thi-ca.


      Montréal, 5-2008


      Nguyễn Vy Khanh

      Nguồn: Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương, Tập Một
      Thư Ấn Quán 2010




      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Du Tử Lê Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Nguyễn Đức BạtNgàn Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Văn-Học Việt-Nam Trong-Ngoài Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Trùng Dương Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Hoàng Ngọc Biên và "Tiểu Thuyết Mới” Nguyễn Vy Khanh Biên khảo

      - Sài Gòn, Ngày Trở Lại Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Hiện-tượng hồi-ký hải-ngoại Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Nguyễn Thụy Long Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Diên Nghị Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Trần Dzạ Lữ, nhà thơ hát dạo bên trời Nguyễn Vy Khanh Nhận định

    3. Bài viết về nhà thơ Trần Dzạ Lữ

       

      Bài viết về Trần Dzạ Lữ

       

      Trần Dzạ Lữ và Hát Dạo Bên Trời (Trần Doãn Nho)

      Trần Dzạ Lữ, nhà thơ hát dạo bên trời (Nguyễn Vy Khanh)

      Trần Dzạ Lữ và những dấu chân đời phiêu lãng…  (Lương Thư Trung)

      Trần Dzạ Lữ Gọi Tình Bên Sông  (Trần Yên Hòa)

      Trần Dzạ Lữ - Thơ Và Tôi  (Nguyễn Kim Tiến)

      Trần Dzạ Lữ – Ngôn ngữ Huế trong thi ca  (Thu Thủy)

       

      Tác phẩm

       

       

      - Trang Thơ Trần Dzạ Lữ (Học Xá)

       

         Bài viết trên mạng:

       art2all.net, voque.org

       vanchuongviet.org.

       

      Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Tiễn Trần Tuấn Kiệt, nhớ chuyện viết văn làm báo (Viên Linh)

      - Du Tử Lê (Nguyễn Vy Khanh)

      - Sa Giang Trần Tuấn Kiệt, người làm thơ lãng tử (Trần Yên Hòa)

      - Viết về Trần Phong Giao qua những sách báo sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tô Đình Sự, Người Ngoài Chân Mây Thênh Thang

      (Ngô Nguyên Nghiễm)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Tạp Văn (Nguyễn Kim Phượng)

      - Văn học miền Nam ở hải ngoại (Viên Linh)

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975: Nhận Định, Biên Khảo, Thư Tịch (Nguyễn Vy Khanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Bàng Bá Lân,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Vĩnh Phúc,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Tiêu,  Cao Đông Khánh,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Chu Tử,  Diễm Phượng,  Diên Nghị,  Doãn Dân,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)