1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Từ Điển Anh Việt

       

          

       

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      Thư viện Người Việt:
      NAM PHONG
      TRI TÂN
      THANH NGHỊ
      NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
       

       

    2. Thơ Văn Hải Ngoại: Hà Nguyên Du đi giữa Duy Mỹ của Thơ Cũ và rất Hiện Đại của Thơ Tân Hình Thức (Trần Văn Nam)

      22-9-2017 | VĂN HỌC

      Thơ Văn Hải Ngoại: Hà Nguyên Du đi giữa Duy Mỹ của Thơ Cũ và rất Hiện Đại của Thơ Tân Hình Thức

       TRẦN VĂN NAM

       

      Bìa Sách Khảo Luận Thơ (xb. năm 2017 tại California) của Tác-giả Nguyễn Đức Tùng;
      và bìa Tạp chí “Chủ-Đề” số Mùa Thu năm 2001

      Nhà thơ Hà Nguyên Du đã xuất bản vài tập sách ở hải-ngoại, trong đó có hai tập với nhan-đề: Một nghe thật tối-tân; một nghe thật cũ mà lại còn như mang tính địa-phương. Đó là “Gene Đại Dương” và “Những Bài Hát Tân Cổ Giao Duyên”. Không rõ anh có giỏi về “Đàn Ca Tài-Tử” thuộc nghệ-thuật trình diễn Nam Bộ hay không; nhưng người viết bài này từng biết anh rất có kinh-nghiệm về thao-tác trên máy điện-tử. Anh là người Phụ-tá điều-hành tờ báo, trình bày bài vở cho Tạp chí “Chủ-Đề” của ông Nguyễn Trung Hối: tờ Tạp Chí xuất bản được 15 số báo (không phải chỉ có bốn hay năm số báo như tôi nhớ lầm), đã đóng góp nhiêù bài nghiên-cứu văn học và mỹ-học thuộc chủ nghĩa hiện-đại. Rồi đến lúc ta cần phải tìm tòi lại những số báo có công phổ-biến học-thuật để đừng quên sự đóng góp của tờ Tạp chí “Chủ Đề” trong quá trình hình thành Văn học Hải ngoại.


      Người viết bài này cũng có sáng tác về thơ, cũng đôi lần tìm một hướng đi riêng (ví dụ thơ Lục Bát thì Thi-hóa cảnh vật đô-thị nào mang dấu ấn kỹ-nghệ; thơ Bảy Chữ thì với đề-tài Vật Lý Thiên Văn Vũ Trụ; Thơ Tự Do hướng về loại Trường Ca, tự do với những câu khá dài nhưng vẫn “Duy Trì Vần” để người đọc nghĩ thơ được viết khá đắn đo và đăm chiêu từ-ngữ; và câu khá dài thì tránh được “tính ê-a” của tiết-điệu thơ). Nhưng rồi khi tổng kết tự chọn lọc lại thì mới biết CHỈ CÓ THƠ TÙY-HỨNG mới làm mình thấy hài lòng (đề-tài đặc-biệt chưa ai đề-cập cũng cần lúc tùy hứng thì mới khiến mình đắm chìm vào sự diễn-tả). Vì vậy, bàn về thơ thuộc chủ-nghĩa hiện-đại, Thơ Tân Hình Thức, của Hà Nguyên Du, thì người viết bài này là “Người Đứng Ngoài Cuộc”. Cũng từng đứng ngoài dòng Chủ Nghĩa Hiện Đại Trong Thi Ca Hải Ngoại (gồm Hậu Hiện Đại, Tân Hình Thức, Thơ Cụ-Thể), người viết đã có một số bài bàn-luận chủ nghĩa hiện đại trong thi-ca hải ngoại đăng trên “Tạp Chí Thơ” của Khế Iêm, trên mạng điên-tử “Talawas.blog” của Phạm Thị Hoài, trên Tạp chí “Văn Học” (lúc Nguyễn Mộng Giác, rồi Cao Xuân Huy, làm chủ-biên).


      Mặc dù tự xác định “không cùng hội cùng thuyền” với Chủ-Nghĩa Hiện Đại, nhưng người viết đã tìm thấy và nêu ra nhiều điều người làm thơ ở hải-ngoại muốn không lặp lại Thơ thuộc Văn học Miền Nam trước 1975 (nghĩa là muốn tránh bước Thơ Tự Do của Thanh Tâm Tuyền; tránh bước Thơ Thiền hay Haiku âm-hưởng diệu-vợi Phật Giáo; tránh bước thơ Duy Linh của Thiên Chúa Giáo; tránh bước thơ Hiện Sinh của nhiều thi sĩ trong thời nhiễu-nhương do chiến tranh không lối thoát; tránh bước Thơ Tình Hiện Đại của Nguyên Sa; tránh bước Thơ Lục Bát Tân Kỳ của Cung Trầm Tưởng; tránh bước Thơ Bảy Chữ Tân Kỳ của Tô Thùy Yên...)


      Theo Hà Nguyên Du, thơ của anh gồm: “....Những số thơ thuộc nhiều thể loại khác nhau... Từ vần điệu đến thơ Tự Do, kể cả những thơ không vần hay thơ Tân Hình Thức... Tóm lại, tất cả thơ trong tập này là những đứa con tinh thần đã sinh ra đời từ lâu... tôi nghĩ việc thu gom thơ để in ấn... chôn chung trong một nấm mồ với mộ-bia mang tên VẦNG THƠ TRÊN ĐÓA QUỲ VÀNG”. Làm thơ đủ loại, nhưng anh mong bàn về thơ Tân-Hình-Thức của anh hơn các loại thơ khác. Tại sao vậy: Ta nghĩ anh có xu-hướng muốn nhập Dòng Thi-Ca Hải-Ngoại Thuộc Chủ Nghĩa Hiện Đại, mà nổi lên trong đó những người như Nguyễn Đăng Thường; Nguyễn Xuân Thiệp (được ông Hoàng Hưng nêu ra là những người tiếp tục đổi mới đáng kinh ngạc); Đỗ Kh.; Lê Đình Nhất Lang; Nguyễn Hoàng Nam; Ngu Yên (được ông Hoàng Hưng nêu ra là những người xác lập tính đương-đại, hậu-hiện-đại); Chân Phương, Linh Đinh (được ông Hoàng Hưng nhận định là những người từ chỗ quen làm thơ tiếng Pháp, Anh hơn tiếng Việt; bây giờ lại sử dụng tiếng Việt ngày càng sắc... cập nhật những vốn từ đang sống, tiếng lóng từ đường phố...); và Khế Iêm (được ông Hoàng Hưng liên-kết vào Hiện-tượng Tân-Hình-Thức ảnh hưởng rất mạnh vào trong nước.... có thể coi là “phong trào” duy nhất trong thơ Việt từ sau 1975); Đỗ Lê Anh Đào, Trang Đài Glassey TrầnNguyễn, Lưu Diệu Vân, Như Quỳnh de Prelle, Pháp Hoan (đựợc ông Hoàng Hưng nhận-định là Thế-hệ mới đầy sức sáng tạo). Những dòng chữ in xiên trên đây, xin quy-chiếu vào bài phát biểu của ông Hoàng Hưng trong buổi ra mắt cuốn sách “40 Năm Thơ Việt Hải Ngoại” của tác giả Nguyễn Đức Tùng; tổ chức ngày Chủ-nhật 3 tháng 9 năm 2017 tại báo-quán của nhật báo“Người Việt” ở thành phố Westminster, California.


      Những trích dẫn thơ Hà-Nguyên-Du sau đây chứng tỏ anh muốn nhập dòng vào Chủ Nghĩa Hiện Đại của Thơ Hải Ngoại, bao gồm tính-chất “Thơ không vần, xuống hàng bất chợt”, ví dụ:

      ... đưa mắt trông mong người

      đi đó! Ơi người về

      đâu đâu là cõi riêng

      an lành vết oan khiên...

      (trong bài: Hoàng Hôn Mưa)

      Và bao gồm “Cách viết chữ hoa hay không hoa ở đầu câu có tính Bất Định”, không bị ràng buộc quy-định nào, tùy theo tác-giả ngẫu-hứng:

      Dù ngăn đò qua sông hay chặn đường

      Vó ngựa dù bão tố cuồng phong dù

      Gai chông lối về cây sinh ra để

      trổ hoa đúng giờ hoa nở mộng về

      với mơ và tôi về với tôi dù

      che trời mênh mông hay khoanh vòng tối

      mịt mù mãi với đêm đen dù truân

      Chuyên kiếp người cây sinh ra để trổ...

      (trong bài: Đúng Giờ Hoa Nở))

      Và bao gồm “Tính Chất Liên-Văn-Bản” nối-kết những giai-thoại, hay nối kết một số câu thơ của người khác. Mặc dù Hà Nguyên Du cũng có nêu “nguồn” hay “xuất xứ”, nhưng đây là những câu quen thuộc và những giai-thoại đã phổ-biến, nên độc-giả rất dễ nhận ra ai là những tác giả trong “liên-văn-bản”:

      không như khăn quấn cho ấm cổ suốt

      mùa đông của cụ già miệt quê bầu

      trời anh lại quấn mãi những cuộn mây

      xám vần vũ răn đe viên đá lửa

      nằm trong cái quẹt gas với ngón

      tay bật khiến con ngựa trời khóc róng

      cáo nại giới-tính tội nghiệp vây đến

      “con dế buồn tự tử giữa đêm sương”

      vì ước“biến cuộc đời thành những tối

      tân-hôn” nên chiếc chìa khóa anh lạnh...

      (trong bài: Mây Xám Mầm Mưa))

      Và bao gồm “tính truyện kể” mà trong chủ-trương “Tân-Hình-Thức” của Khế Iêm cũng đã đề cao, vì một đặc-tính trong thơ Tân Hình Thức của Khế Iêm là chú trọng số âm-tiết qua cách nói đàm-thoại đời thường của người Mỹ (nói một hơi gồm bao nhiêu âm-tiết thì dừng lại để thở): Thơ song hành theo cách ấy là nhấn mạnh tính-truyện-kể. Còn Hà Nguyên Du làm ta lưu ý tính-truyện-kể nhờ ở những điệp khúc lặp lại nhiều lần. Ví dụ điệp-khúc này được lặp lại ba lần trong bài “Nước Mắt Của Dì Bảy”:

      Lần nào cũng như lần nào

      dì bảy cũng rươm rướm nước mắt mỗi

      khi gặp tôi. Mặc dù nói lần nào

      cũng như lần nào nhưng đôi khi cũng

      có chút khang khác....

      Chút khang khác đó thật ra là những hung-tin thời loạn lạc ập đến gia-đình Dì Bảy với bối cảnh anh em trong gia đình mà ở hai bên chiến tuyến. Nghịch cảnh vừa là mẹ liệt sĩ, vừa là mẹ sĩ quan chế-độ cũ. Nghịch cảnh người con gái còn lại không sao tốt nghiệp Đại Học được, vì lý-lịch bà mẹ nửa phe bên này, nửa phe bên kia. Nhưng rồi có một đồng-cảnh: Dì Bảy cùng con gái và đứa cháu trai sinh ra thời người con trưởng của Dì Bảy ở trong bưng vùng Bình-Trị-Thiên, cả ba vượt biên đến được nước ngoài. Người con trai trưởng cúa Dì Bảy thuộc quân Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tử-trận ở chiến-trường Miền Trung ấy. Người con trai thứ hai của Dì Bảy là sĩ quan Quân Đội Miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) thì chết vì vượt trại tù cải-tạo sau năm 1975. Tính truyện kể được nhà thơ Hà Nguyên Du chủ-tâm đi vào khía cạnh làm cho rườm rà, kéo dài theo kiểu “cà kê dê ngỗng”, không cần lược bớt cho đơn giản như sau đây:

      ... Nói có chút khang khác... chứ thật ra... trước sau gì thì dì bảy cũng rươm rướm nước mắt. Trước sau gì thì dì bảy cũng khóc mỗi khi gặp tôi...

      Có lý-thuyết-gia theo Chủ Nghĩa Hiện Đại ở Hải Ngoại như ông Nguyễn Đăng Thường chủ-trương cần làm thơ bạch-thoại, triệt hạ tu-từ, theo sát với “bốn không” khi làm thơ: Đó là không ẩn-dụ; không siêu-hình; không vũ-trụ; không ngôn-ngữ tu-từ. Nhưng ta nhận ra trong thơ Hà Nguyên Du tiềm-tàng tính-mỹ-cảm. Tinh mỹ-cảm này phảng phất do độc-giả cảm nhận, có thể nhà thơ Hà Nguyên Du không chủ-tâm đưa vào thơ, vì vậy lời thơ tản mác mà không tập trung vào một hai câu thơ cô đọng. Tuy vậy: Tản mác, Hờ hững, mà vẫn có nét đẹp lung-linh. Nó không tập trung như cách tập-trung vào hai câu cuối của một bài “Thơ Lục Bát Ngắn”. Nó không tập trung vào số chữ trong vài câu “Thơ Tám Chữ”; hoặc vài câu trong Thơ Bảy Chữ. Một số câu thơ của Hà Nguyên Du bất-định trong số câu (thơ tự-do không vần) và có khi mấp mé gần một thể-loại thơ nào đó (tương tự như thơ ngũ-ngôn, tương tự như thơ bảy chữ); nhưng những câu thơ này đều toát ra mỹ-cảm, càng quý ở chỗ tác-giả ngẫu-hứng mà tình cờ vượt qua tính thơ bạch thoại trần trụi:

      ... lữ hành động lòng mây

      nên gió mưa giăng trời

      thương nhớ ơi người về

      đâu đâu là cõi riêng...

      (trong bài: Hoàng Hôn Mưa)


      ... tưởng tượng mình là con đom đóm

      nhỏ xíu những con đom đóm chớp

      chớp chớp chớp và chỉ chớp chớp

      le lói le lói nhưng đủ soi

      cho đường bay của mình hỡi đường bay

      bay của những con chữ...

      (trong bài: Động Đến Con Chữ))


      ... ngón tay đã nhiều lần làm tôi

      có những cảm giác như một thỏi

      sắt rơi tủm xuống đáy biển hoặc

      như một vật nhẹ bỗng bay vút

      (trong bài: Ngón Tay Của Em))

      Thiển nghĩ “tính mỹ cảm” trong thơ cứ âm-thầm còn đó trong cảm thức thi ca của nhiều thế-hệ người Việt, nay cư-ngụ tại Mỹ. Xin nêu một trường hợp cụ-thể (của người viết bài này và chung cho các người cùng thế-hệ trang lứa) trong quá-trình tiếp-thu văn-học từ lúc bước vào Trung-học: Khi lên lớp Đệ Ngũ (lớp 8 Trung học) niên-khóa 1953-1954, ta từng học đến tác-phẩm thơ dài “Cung Oán Ngâm Khúc”, đến nay vẫn còn giữ trong lòng câu thơ mỹ-cảm âm-ỉ này: “ Đền Vũ-tạ nhện giăng cửa mốc/ Thú ca-lâu dế khóc đêm dài”. Qua lớp Đệ Tứ rồi tiếp tục ở Đệ Nhị (lớp 9 và lớp 11Trung học) niên-học 1955-1956; niên-khóa 1957-1958, ta lại có dịp mừng vì học trùng hai lần một tác phẩm văn chương lớn nhất của Việt Nam là Truyện Kiều, và câu thơ mỹ cảm không bao giờ lỗi thời về dùng từ ngữ; mãi làm ta thán phục cách mô-tả rất vị-nghệ-thuật về thời-kỳ hoa Đỗ Quyên và Hoa Lựu nở trong mùa hè oi bức: “Dưới trăng quyên đã gọi hè/ Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”. Còn năm học lớp Đệ Tam (tức lớp 10 Trung học) niên-khóa 1956-1957, ta ngậm ngùi cùng nỗi buồn chinh phu tử sĩ, trong bối cảnh xa xôi vùng hoang mạc Trung Quốc ở tác-phấm “Chinh Phụ Ngâm”, nhưng câu thơ mỹ-cảm trong bối cảnh quen thuộc nửa thị-trấn nửa thôn quê Việt Nam mới lảm ta không quên: “Giọt sương phủ bụi chim gù/ Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi”.


      Nêu ra đây 3 tác-phẩm trường-thiên cổ-thi có rất nhiều từ-ngữ Hán-Việt và tư-tưởng chủ-đạo cũng chịu ảnh-hưởng từ sách vở Trung Quốc, người viết có ý tự nhắc nhở xin nhớ lấy vài câu thơ thuộc mỹ-tính đã diễn tả tài-tình “gần như toàn là ngôn-ngữ Thuần-Việt” (tuy vậy, đôi khi cũng còn vướng víu một hai từ Hán-Việt). Cảm-thức mỹ-tính trong thơ không chỉ ở tả cảnh, mà còn ở tả tình, còn ở trực cảm huyền-diệu (như qua bài thơ Thược Dược của Quách Thoại); và còn ở trong loại thơ buồn về Định Mệnh (như qua thơ Nguyễn Tất Nhiên: “Người từ trăm năm về như dao nhọn/ Dao vết ngọt đâm/ Ta chết trầm ngâm... Người từ trăm năm về qua sông rộng/ Chỉ thấy sông lồng lộng/ Chỉ thấy sông chập chùng”). Vậy mỹ-tính trong thơ chính là hướng vị-nghệ-thuật chủ trì sáng tác những gì làm ta động-tâm về nghệ-thuật, không nhất thiết mỹ-miều hay tráng-lệ.


      Nhà thơ Hà Nguyên Du với khuynh hướng tán-thành Chủ Nghĩa Hiện Đại: Có khi cũng chủ-trương theo vẻ cực-đoan “Bốn Không”; hoặc chủ-trương thơ “Bạch Thoại”; hoặc đề-cao “Tính Đời Thường”; hoặc “Cấu-trúc đặt câu Bất-định” ... Nhưng ta nhận thấy bóng nhà thơ Hà Nguyên Du trong sáng tác vẫn có lúc “Đi Giữa Duy-Mỹ Của Thơ Cũ và Rất-Hiện-Đại Của Thơ Tân-Hình-Thức”.


      TRẦN VĂN NAM

      City of Walnut, California, tháng 9 năm 2017


      Những bài báo của Trần Văn Nam về Chủ Nghĩa Hiện Đại trong Thơ:


      1/ Những Dấu Hiệu Hiện-Đại-Hóa Của Thơ Hái Ngoại (đăng trong TẠP CHÍ THƠ, Garden Grove, California, số Mùa Xuân 2002)

      2/ Thơ Vắt Dòng (đăng trong TẠP CHÍ THƠ, số Mùa Thu 2002)

      3/ Ảnh Hưởng Thơ Hậu-Hiện-Đại Hoa Kỳ Trong Thơ Tân-Hình-Thức Việt (đăng trong TẠP CHÍ THƠ, số Mùa Xuân 2003)

      4/ Đọc Những Chủ Trương Và Thơ Gọi Là Triệt Để Cách Tân (đăng trên mạng “talawas blog” của nhà văn Phạm Thị Hoài, ngày 20/12/2009)

      Trần Văn Nam

      Nguồn: Tác giả gởi




      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Hà Nguyên Du đi giữa Duy Mỹ của Thơ Cũ và rất Hiện Đại của Thơ Tân Hình Thức Trần Văn Nam Nhận định

      - Với nhà văn Mặc Đỗ, ta biết thêm vài điều qua cuốn sách mới nhất của ông Trần Văn Nam Nhận định

      - Nhà Văn Lữ Quỳnh Viết Truyện Phản Chiến Ở Vị Trí Và Bối Cảnh Nào? Trần Văn Nam Nhận định

      - Dẫn Lược Từng Chương Tiểu Thuyết Danh Tiếng của Thomas Hardy Trần Văn Nam Giới thiệu

      - Chất Thơ Do Cảm Nhận Vài Kiến Thức Về Tư Tưởng Của Kant Và Hegel Trần Văn Nam Nhận định

      - Nhà Thơ Thành Tôn Và Những Hình Ảnh Tận Tụy Với Văn Học Trần Văn Nam Tạp bút

      - Tứ Thơ Và Chiến Tranh: Chiến-Sự Dù Nhỏ, Cũng Đã Lưu-Dấu Trong Thơ Trần Văn Nam Thơ

      - Nghĩ Về Thơ Biểu Cảm Và Thơ Biện Luận (Qua Thi Phẩm của Thành Tôn) Trần Văn Nam Nhận định

      - Những Dời Đổi Địa Hình và Mối Hoài Cảm Thi Ca Trần Văn Nam Thơ

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975 Của Nguyễn Vy Khanh: Động Cơ Thực Hiện Trần Văn Nam Nhận định

    3. Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Chuyện Phiếm Về Tiểu Thuyết (Triều Sơn)

      - Nuôi Sẹo (Trần Hoài Thư)

      - Lê Hữu Mục: Tâm moa là mây (Nguyễn Văn Sâm)

      - Điểm sách Vietnamese/Tiếng Việt Không Son Phấn của GS Nguyễn Đình Hòa (Đàm Trung Pháp)

      - Thơ Tình Vương Đức Lệ (Giang Hữu Tuyên)

      - Nhà thơ Nguyễn Bính và "Tỉnh Giấc Chiêm Bao"

      (Nguyễn Ước)

      - Thử đọc lại vài trang sách của Trần Doãn Nho

      (Lương Thư Trung)

      - Thơ Thành Tôn, thân xác như một ám ảnh hiện sinh (Trần Doãn Nho)

      - Một Vài Kỷ Niệm Với Bùi Giáng (Mai Thảo)

      - ‘Thơ Tuyển’ vào cuộc lữ hành (Viên Linh)

      - Tô Kiều Ngân và Mặc Khách Sài Gòn (Viên Linh)

      - Tạp chí Bách Khoa được 'số hóa' toàn bộ

      (Phạm Phú Minh)

      - Thành Tôn, chàng ‘thư si’ (Trần Doãn Nho)

      - Phan Nhiên Hạo phỏng vấn Hồ Đình Nghiêm

      (Phan Nhiên Hạo)

      - Điểm sách Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn

      (Đàm Trung Pháp)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Dẫn Lược Từng Chương Tiểu Thuyết Danh Tiếng của Thomas Hardy (Trần Văn Nam)

      - Một chuyến đi (Trăm lần vui. Vạn lần buồn) (Phạm Văn Nhàn)

      - Viết về Duyên (Đỗ Xuân Tê)

      - Hình như cây súng con lạ lắm (Trần Hoài Thư)

      - Đôi mắt La Ronda (Trần Hoài Thư)

      - Bằng Hữu, Thật Sống Đủ Ngay Đây (Phan Nhật Nam)

      - Gặp anh Đặng Tiến và đi thăm Trần Hoài Thư (Phạm Văn Nhàn)

      - Những Giải Thưởng Văn Chương Trên Nước Việt (Nguiễn Hữu Ngư)

      - Đứng Trước Thực Tại (Lý Hoàng Phong)

      - Tản Mạn Về Tính Nhân Bản Trong Thi Ca Miền Nam Thời Chiến (Trần Hoài Thư)

      - Nhận Định Về Thơ Hậu Chiến (Lê Huy Oanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      - Cuộc Phỏng Vấn Văn Nghệ (Nguyễn Ngu Í)

      - Đi tìm nguồn cội (Nguyễn Xuân Hoàng)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      ,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Du Tử Lê,  Dương Nghiễm Mậu,  Duy Liêm,  Hà Thúc Sinh,  Hà Thượng Nhân,  Hàn Mặc Tử,  Hồ Đình Nghiêm,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)