1. Head_
    Trúc Phương
    (.0.1939-18.9.1995)
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Trần Cao Vân và thể loại thơ trong tù (Viên Linh)

      14-5-2021 | VĂN HỌC

      Trần Cao Vân và thể loại thơ trong tù

       VIÊN LINH
      Share File.php Share File
          

       


           Nhà yêu nước Trần Cao Vân
           (1866 - 3.5.1916)

      So với thi ca thế giới, thơ Việt Nam nổi bật về cả thể lẫn loại, chúng ta có dòng lục bát đặc thù, lại là thể thơ sở trường dùng để kể những câu chuyện dài, mặt khác về loại, chúng ta giàu có về loại thơ trong tù. Niềm vinh dự đó thật ra là niềm đau nỗi nhục: sĩ phu Việt Nam thời nào cũng ở tù, sống trong tù, và chết trong tù, thời nào chúng ta cũng có thơ tù, có rất nhiều.

      Tù nhân là sĩ phu Việt, quản ngục cũng là người Việt, Việt Nam phong phú thơ tù vì cứ một lần thay đổi cơ cấu cai trị, ngoài sự lệ thuộc Tầu và đô hộ Pháp, còn chính, và nhiều hơn hết, là dòng họ này diệt dòng họ kia, miền này kỳ thị phương khác, thơ tù phát sinh và phát triển từ nội chiến và quốc nạn phân ly. Hãnh diện thay!

      Trong một ngày cuối tuần hồi giữa tháng 5.2012, tại Little Saigon ở miền Nam California có hai cuộc họp mặt văn nghệ, một do nhà thơ Thành Tôn mời vào buổi sáng, một mời vào buổi chiều. Cuộc họp mặt buổi sáng tổ chức tại Cafe Gypsy trong Trung tâm Thương mại Catinat để đón tiếp nhà văn Nguyễn Xuân Hòang từ San Jose xuống tham dự hai cuộc ra mắt sách tại Hội trường báo Người Việt, còn cuộc họp mặt buổi chiều tại một tự gia ở Garden Grove, để đón tiếp một nhà thơ từ Việt Nam qua Little Saigon của dân tị nạn.


      Người viết bài này được mời trong cả hai dịp, song chỉ tham dự được vào buổi sáng. Nội dung hai cuộc họp mặt hắn có khác biệt. Trong buổi sáng, chúng tôi nói về nhiều chuyện, trong có “Văn chương Việt Nam trên mạng lưới internet,” và một chủ đề về “Chân dung Văn học Miền Nam,” nhất là khi Miền Nam được hiểu là miền Nam của giai đoạn 1954-1975. Mấy ngày hôm sau một vấn đề nổi lên trong đầu: đề tài thứ hai của tôi về các nhà văn nhà thơ Miền Nam chắc hẳn sẽ khó nói khi có mặt các cây bút từ trong nước ra, nhất là cây bút ấy đang cộng tác, ở vai trò cấp điều động kiểm soát an ninh một số báo chí lề phải, khác hẳn những người đang sống trong dòng nguyên thủy của nhân sinh.

      Hãy đưa ra một ví dụ.


      Trong văn thơ miền Nam, và trong văn thơ của các nạn nhân, có một thế loại (cả thể lẫn loại) đặc biệt chỉ có ở Việt Nam, vô cùng đặc sắc và phong phú, đó là “Thơ Trong Tù.” So với văn thơ thế giới nói chung, Việt Nam có thể không sút kém, vì tài năng sáng tạo, sự mẫn cảm của vốn người, cái tinh tế của nguồn gốc, quá khứ của nòi giống, kinh nghiệm của lịch sử kinh qua truyền thống sinh tồn, các nghệ sĩ sáng tạo Việt Nam sẽ không thua các nghệ sĩ thế giới. Mà có một thứ chắc chắn các nghệ sĩ Việt Nam vượt hẳn các nghệ sĩ thế giới: về tiềm năng quá khứ lẫn số lượng từ Thời đại cổ sơ, qua thời Trung đại và Cận đại hay Hiện đại, lúc nào chúng ta cũng đông đảo phong phú lượng và phẩm: Thơ-Trong-Tù và Thi sĩ trong Tù. Việt Nam có bao nhiêu danh sĩ, sĩ phu, anh hùng, liệt nữ làm thơ? Việt Nam có bao nhiêu nhân vật lịch sử làm thơ trong tù? Con số chính xác là bao nhiêu thì không ai có thể kiểm kê, song dõi theo các dấu mốc của thời đại, có thể tin chắc rằng chúng ta là vô địch hoàn cầu.


      Thơ Trong Tù, xưa kia và cổ đại, kêu là Ngục Trung Thư đã là nhan đề liệt hạng của Lịch sử, đến nỗi có nhiều nhân vật lịch sử bị đi tù, nhưng không làm được thơ, đã phải lấy thơ tù của người khác rồi ghi tên mình lên đó? Cũng không phải là ít. Chẳng thế mà một ông giáo sư Hán Nôm đã viết một cuốn sách để trả lời những nghi vấn tương tự; ông còn xác định, chứ không hỏi nữa: “Ngục Trung Thư là do con người viết, không phải do cáo hồ viết.”


      Tóm lại, để trả lời hai câu hỏi nêu trên, chúng ta cần viết một bộ sách lớn. Tạm thời chỉ xin trích dẫn một vài bài, và vài nét ghi chú về Thơ Trong Tù.


      1. NGUYỄN HỮU HUÂN:


      Muôn việc cho hay số ở trời

      Cái thân chìm nổi biết là nơi

      Mấy hồi tên đạn ra tay thử

      Ngàn dặm non sông dạo gót chơi

      (Khi bị lưu đày, Văn Đàn Bảo Giám, III-22)


      2.- PHAN CHÂU TRINH:


      Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn

      Lừng lấy làm cho lở núi non

      Xách búa đánh tan năm bảy đống,

      Ra tay đập bể mấy trăm hòn

      Tháng ngày bao quản thân sành sỏi

      Mưa nắng chi sờn dạ sắt son

      Những kẻ vá trời khi lỡ bước

      Gian nan nào xá sự con con.

      (Đập đá Côn lôn)


      3. NHƯỢNG TỔNG


      Hàng vạn con người áo một màu

      Khác nhau con số chẳng đều nhau

      Xưa nay vẫn có câu bình đẳng

      Bình đẳng là đây lọ phải cầu.

      (Cảnh Nhà Tù)


      Việc cả ai hay chuyển hóa đùa

      Cơ đồ này đến thế này ru?

      Thanh danh chạy được ba kỳ báo

      Nhân vật trở ra một lũ tù

      Hàn gắn đành mong ngày tái tạo

      Bẽ bàng riêng để thẹn ngàn thu

      Biết bao tâm huyết, bao công của

      Nghĩ đến nguồn cơn lệ muốn khô.

      (Hỏa Lò Hà Nội, 1929)


      4. NỮ TÙ NHÂN CÔN ĐẢO


      Nhắn bảo cùng ai đến chốn này

      Đừng buồn đói khổ với chua cay

      Hy sinh hai chữ ta ghi nhớ

      Phấn đấu một lòng chớ chuyển lay

      Ba thước roi mây un máu nóng

      Một phen lao lý đúc gan dày

      Bất bình còn đó còn cơ hội

      Ngang dọc rồi đây cũng có ngày.

      (1920)


      5.- PHAN BỘI CHÂU


      Nếu chết phăng đi cái cũng hay

      Còn ta ta lại nghĩ sao đây?

      Trời đâu có ngục chôn thần thánh

      Đất há không đường ruổi gió mây?

      Tát cạn bể Đông chìu tấc lưỡi

      Phá tan rừng Bắc vẫy đôi tay

      Anh em ai nấy xin thêm gắng

      Công nghiệp ngàn thu há một ngày?

      (Ngồi tù cảm tác)


      6.- TRẦN CAO VÂN


      Đứa nào muốn chết chết như chơi

      Chết vị non sông chết vị trời

      Chết thảo bao nài xương thịt nát

      Chết ngay há ngại cổ đầu rơi

      Chết trung tiếng để ngoài muôn dặm

      Chết nghĩa danh lưu đến vạn đời

      Chết được như vầy là hả lắm

      Ta không sợ chết hỡi ai ơi.

      (Chết chém)


      Bài này Trần Cao Vân, anh hùng chống Pháp, làm trước khi bị hành hình. Bài thơ và thực tế có khác biệt. Ông biết là Pháp xử mình chết chém, nên làm câu thơ “Chết ngay há ngại cổ đầu rơi.” Có lẽ biết được bài thơ này, giặc Pháp (hay tay sai của giặc) đã làm khác đi, là khi xử ông ở Cống Chém, An Hòa, ngày 3 tháng 5 năm 1916, đã không chém ông ở cổ (cổ đầu rơi), mà tàn nhẫn hơn, chém ông ở ngang lưng.


      Chúng ta có nên tổ chức một cuộc họp mặt văn nghệ khác lấy chủ đề là “Soạn thảo một thi tập Thơ Trong Tù Việt Nam?”


      Viên Linh

      Nguồn: Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn Việt Nam
      Nxb Khởi Hành, Hoa Kỳ, 2017



      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Phạm Cao Củng (1913-2012), nhà văn trăm tuổi Viên Linh Hồi ký

      - Trần Cao Vân và thể loại thơ trong tù Viên Linh Hồi ký

      - Ngô Tất Tố, chuyện xưa tích cũ Viên Linh Hồi ký

      - Nguyễn Văn Vĩnh: ‘Ông tổ của nghề báo’ Việt Nam Viên Linh Hồi ký

      - Nhà văn Duyên Anh (1935-1997) chọc trời khuấy nước Viên Linh Hồi ký

      - Trần Văn Tuyên, chính khách, người khách lạ Viên Linh Hồi ký

      - Vương Hồng Sển (1902-1996), lịch sử nhân văn miền Nam Viên Linh Hồi ký

      - Ðọc ‘Trọn Bộ Dòng Việt,’ nhớ người xưa bạn cũ Viên Linh Giới thiệu

      - Chu Thiên, Ông Thầy Thời Niên Thiếu Viên Linh Hồi ký

      - Hồ Ðiệp, Giọng Ngâm Vàng Viên Linh Hồi ký

    3. Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Một Người Viết Nữ Ngoài Vòng Đai Nhà văn Nguyễn Thị Thanh Sâm (Trần Thị Nguyệt Mai)

      - Về Một Cuộc Hội Thảo Văn Học và Báo Chí Miền Nam 1954-1975 (Nguyễn Vy Khanh)

      - Người yêu thơ, yêu sách vở Nguyễn Mạnh Trinh đã ra đi vĩnh viễn (Phúc Quỳnh)

      - Thơ của người viết văn làm lính chiến Trần Hoài Thư (Luân Hoán)

      - Phỏng Vấn Nhà Văn Trang Châu (Châu Hải Châu)

        Giai Thoại Văn Học

       

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Tạp Văn (Nguyễn Kim Phượng)

      - Văn học miền Nam ở hải ngoại (Viên Linh)

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975: Nhận Định, Biên Khảo, Thư Tịch (Nguyễn Vy Khanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      An Khê,  Au Thị Phục An,  Bàng Bá Lân,  Bích Khê,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Bích Hà,  Bùi Giáng,  Bùi Kỷ,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Vĩnh Phúc,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Mỵ Nhân,  Cao Thoại Châu,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)