Head



 

 

Nguyễn Trãi Huyễn Thực và Sắc Không (Trần Ngọc Ninh)
14-03-2013 | THƠ

Nguyễn Trãi Huyễn-Thực và Sắc-Không

 GS. TRẦN NGỌC NINH


           MỘC CẬN


Ánh nước hoa in một đóa hồng

Vẩn nhơ chẳng bén bụt là lòng

Chiều mai nở chiều hôm rụng

Sự lạ cho hay tuyệt sắc không.

     Nguyễn Trãi (Quốc Âm thi)




    Nguyễn Trãi (1380-1442)
   (nguồn: Từ điển Văn học)

Nguyễn Trãi là một đại anh hùng và một đại văn hào của dân tộc. Trong lịch sử của nước Việt Nam, ông đứng ngang với Trần Quốc Tuấn và Nguyễn Huệ. Nhưng trong lịch sử văn chương Việt Nam, thì không có một ai có thể sánh với ông, vì ông là người khai sinh ra nền văn chương quốc âm của ta.


Trước ông, truyền thống nói rằng có Hàn Thuyên, có Chu Văn An, có Nguyễn Biểu, có Trần Quý Khoáng. Nhưng nếu các vị này có văn thơ bằng tiếng Việt thực, thì tất cả đều đã bị ngọn lửa tàn bạo của quân Minh đốt hết, không còn để lại được một chữ nào gọi là chắc chắn, và Nguyễn Trãi vẫn là người khai nguyên cho dòng văn Việt, trong đó sau này đã nổi lên một Lê Thánh Tông, một Nguyễn Gia Thiều, một Nguyễn Du, một Hồ Xuân Hương, một Phan Bội Châu, một Nguyễn Đình Chiểu. Cho đến giờ phút này, tập Thơ Quốc Âm của Nguyễn Trãi với 254 bài thơ vẫn là tác phẩm cổ nhất viết bằng tiếng Việt mà chúng ta còn có.


Thơ Quốc âm của Nguyễn Trãi rất khó đọc: đó là một điều dĩ nhiên, vì ông viết bằng tiếng Việt của thời ông là một thế kỷ thứ XV; lúc ấy là lúc kim-Việt-ngữ đang hình thành, tuy đã có những nét cơ cấu chính của Việt ngữ đời nay, nhưng vẫn chưa bỏ hẳn ngữ pháp của trung-Việt-ngữ. Một số chữ được dùng trong Thơ Quốc Âm lại đã mai một và không còn ai biết nghĩa nữa, nếu không có công nghiên cứu.


Một điều rất đáng chú ý là Nguyễn Trãi, một người không gì là không biết trong khoảng thời gian ba ngàn năm trăm năm văn chương học thuật của Trung Quốc, lại đặt một vài câu sáu tiếng, khi thì vào đầu, khi thì vào giữa, khi thì vào cuối, một bài thơ phần lớn là dùng câu bảy tiếng. Nhìn qua những niêm luật đời nay, người ta lại còn có cảm tưởng rằng có nhiều câu thất niêm, thất luật.


Tiếp tục công cuộc xây dựng sự độc lập của Việt Nam, Nguyễn Trãi đã muốn dựa vào Đường thi mà đặt ra những thể thơ đặc thù cho dân tộc. Ông đã thử nhiều cách, nhưng chưa đi đến một sự quyết định dứt khoát nào cả. Sau ông, cho đến thời Nguyễn Bỉnh Khiêm với Bạch Vân Thi Tập, thơ bốn câu và thơ tám câu vẫn còn chấp nhận sự xen kẽ của một câu sáu tiếng. Nhưng từ họ Mạc trở đi thì thể thơ này mất hẳn, và nhường chỗ cho thơ theo luật của Đường thi, mỗi câu bảy chữ.


Trên đây là một bài thơ, trích ở Thơ Quốc Âm. Trong toàn thể Thơ Quốc Âm, người ta thấy ở Nguyễn Trãi một vị đại nho, nhưng là một vị đại nho thấm nhuần nền văn hóa của dân tộc. Tư tưởng của ông luôn luôn hướng về sự kinh bang tế thế. Thái độ của ông là thái độ của người quân tử, lấy chữ “Trung” làm cái đích của cuộc đời. Lời văn của ông vô cùng trang nhã: các cách nói của dân gian được hòa đồng với những điển cố tế nhị mượn trong văn chương Hoa ngữ, một cách tuyệt diệu.


Nhưng đây là một bài thơ khác thường, chứng tỏ rằng Nguyễn Trãi cũng có một sự kính trọng đặc biệt đối với Đạo Phật. Tôi đã trích bài này, một phần vì lý do ấy: đó là một sắc thái chưa được nói tới của Nguyễn Trãi. Nhưng lí do chính đã khiến cho tôi nói đến bài ấy là lí do văn chương và lịch sử.

 

*

 

Bài này là bài số 237 của Quốc Âm Thi; đầu đề là Mộc Cận, tức là bông hoa thường được gọi là “râm bụt”, (Hibiscus rosasiensis), nhưng chính tên thì là “bông bụt” hay “hoa dâng bụt”. Trong thời ấy, người ta thường gọi Đức Phật là Bụt, ở Cổ Ấn ngữ Buddha mà ra, vì nước ta cũng như Chiêm Thành và Phù Nam, đều đã đón nhận Đạo Phật trực tiếp từ Ấn Độ sang.


Bài thơ có bốn câu, cấu tạo vô cùng tinh vi, tỏ ra rằng tác giả đã nhìn sự vật một cách tượng trưng, qua thuyết Không Tính mà một cái bóng hoa in trong ánh nước đã gợi lên.


Mới đọc, một người nghĩ theo kiểu nhà trường sẽ cho rằng ba câu đầu là để tả bông hoa bụt: câu I là bông hoa trong một cảnh trí; câu II là tính cách của hoa, câu III là cuộc đời ngắn ngủi của hoa. Sau cùng, để kết luận, câu IV nói về ý nghĩa của đời hoa theo giáo lý nhà Phật.


Thực ra, không phải là tác giả đã tả một bông hoa, mà ông đã nói đến một cái bóng hoa lồng dưới nước: đó là một cái ảnh, một sự ảo huyễn. Cái thực chỉ được nói tới bằng một tiếng hoa, và chỉ hiện ra như một cái bóng chiếu trong nước. Nó ở đâu, nó như thế nào, người ta không biết. Nó không có một chất liệu, nó không được chống đỡ. Người ta chỉ thấy nó vì có một đóa hồng in trong ánh nước.


Đó là câu mở đầu. Một thế giới huyền ảo được mở ra, trong đó cái được nói tới là một cái giả, lồng trong một cái, không phải là chính đề, nhưng lại là một cái thực. Ý nghĩa “sắc không” bắt đầu ngay từ đây. Nước là một chất liệu thực, bông hoa là một cái giả ảnh. Nhưng cái thực lại được gọi là cái ảo, là ánh nước; còn cái ảnh giả thì lại được gọi như thực, là một đóa hồng. Cái ánh nước thì không có màu sắc gì cả, nhưng cái ảnh hoa được tả như một nét chấm đỏ, với một màu sắc rực rỡ.


Câu thứ hai vẫn là nói đến cái ảnh hoa dưới đáy nước. Vẩn nhơ  (*) thuộc về nước, những cái vẩn trong nước, những cái nhơ trong nước trôi qua, nhưng không rây vào cái ảnh của đóa hoa bụt được. Tác giả dùng tiếng bén, là một tiếng cổ, nghĩa là “quệt phải, chạm vào” như bén lửa, bén duyên; và những thành ngữ này làm cho ta nghĩ rằng những “vẩn nhơ” chính là tình đời, là những bụi bậm của trần gian, là những cái ô trọc của kiếp sống mà hoa đã không cho bợn tới lòng mình. Sự táo bạo của tác giả là đã ghép tiếng bén vào những vẩn nhơ của dòng nước, trong khi tiếng bén thường chỉ đi với lửaduyên. Các vẫn nhơ đột nhiên được khêu lên cho cháy với sức nóng của dục tình và lòng tham.


Nhơ cũng là một tiếng cổ, nay đã thành dơ, “bẩn” nhưng còn tồn tại trong từ nhơ nhuốc, và vì thế, với chúng ta ngày nay, tiếng nhơ có một âm hưởng tinh thần. Vẩn nay chỉ còn dùng để chỉ những hạt bụi ở trong nước; biến thể của vẩnbẩn, được dùng một cách rộng rãi trong thổ ngữ Bắc Việt. Cái hình ảnh của đóa hoa mà bụi bậm trong nước có thể đi qua được, làm cho tác giả nghĩ rằng hoa đã có cái tâm của Phật. Bụt là lòng có nghĩa là bông hoa trong suốt, và cũng có nghĩa là trong lòng hoa có Đức Toàn Giác thuần thành thanh tịnh. Tâm Phật trong lòng hoa cũng là tâm Phật trong lòng người.


Chiều mai nở, chiều hôm rụng là câu sáu tiếng độc nhất của bài thơ. Câu này được cắt thành hai nửa giống nhau về hình thức (cấu tạo của mỗi nửa) và nghịch nhau trong nội dung (ý nghĩa). Về phương diện âm vận, lại có một sự tương đồng và tương phản nữa: cả hai nửa câu đều dùng một tiếng chiều để mở đầu; những tiếng sau trong nửa câu trên là vần thông, và trong nửa câu dưới là vần chặn. Câu III nổi bật lên trong cơ cấu của bài thơ, vì chỉ có sáu tiếng, lại có những đối chiếu ẩn trong sự tương tự trên cả hai bình diện biểu hiện và nội dung. Đó là cái nhân của bài thơ, để chuyển xuống câu IV.


Từ cái bóng hoa dưới nước được tả trong hai câu đầu, xuống đến câu III thì tác giả lại đưa ta lên cái thực là bông hoa, mà ta cũng vẫn không nhìn thấy, và chỉ thấy qua sự nở và sự tàn. Cái giả thì đặt trong không gian với hình ảnh, với cảnh trí, với tính cách và với tâm hồn. Cái thực thì được để trong thời gian như một sự thoáng qua, chiều mai nở, chiều hôm rụng. Tiếng chiều ở đây còn giữ cái ý nghĩa thời xưa, là “buổi”, là “ban” cũng như trong tục ngữ nói là nắng quái chiều hôm. Cuộc sống của hoa gói trọn trong nửa ngày, từ buổi mai đến buổi hôm, mai nở, hôm rụng. Đó cũng là cái hình ảnh của sự vô thường, đến rồi lại đi, có sinh và có tử.


Câu IV là câu giải:

- Sự lạ cho hay tuyệt sắc không.

Sự lạ là bông hoa bụt mà đời sống ngắn ngủi điển hình cho sự vô thường; là sự trong suốt không bợn của bóng hoa trong những vẩn nhơ trong đời; là cái ảnh hồng của đóa hoa in trong dòng nước. Nhưng sự lạ cũng là cái cơ cấu của bài thơ. Cơ cấu của bài thơ được dựng lên để diễn tả cái tương quan giữa sắc và không, hai cái tuy đối nghịch trong hình thức nhưng đồng nhất trong bản chất, mà sự vận chuyển và biến hóa làm thành ra cả cái vũ trụ duy thức. Ta hãy nhìn lại bài thơ trong toàn thể.


Trong câu I, cái sắc (thực) là nước, nhưng nước chỉ có ánh và vô hình, vô sắc; cái không là cái bóng, nhưng cái bóng ấy có hình, là một đóa, và có sắc là màu đỏ. (hồng)


Trong câu II, cái lộ ra đối với cái tìm ẩn, hay nói cách khác, cái ngoài đối với cái trong, cái giả đối với cái thực; nhưng cái giả là cái trông thấy, là sự không vấy bụi của bóng hoa, còn cái thực là cái giác thấy, là cái Phật tâm hoàn toàn trong sáng của hoa. Tới đây, không và sắc lại đối nhau và lồng vào nhau trong những cặp đối nghịch khác.


Câu III lập ra hai sự đối nghịch nữa để tả cái tương quan sắc không: một sự đối nghịch giữa hai lúc, là chiều mai và chiều hôm; sự đối nghịch thứ hai là giữa hai sử trình, sự nở và sự rụng. Cái đồng nhất trong bản thể không được nói ra, nhưng chính là bông hoa bụt với một kiếp sống vô thường.


Bao gồm cả những nhận xét trên lại, ta có thể lập thành bảng dưới đây:


Có ba cái ô ở trong, là những sắc tướng; ô đầu là hình thể và màu sắc, ô thứ hai là cấu tạo, ô thứ ba là hiện tượng. Hình và sắc thuộc về vật và chất; hiện tường gồm cái đã thành và cái sẽ thành.


Với hai cặp đối nghịch đầu tiên, là nước/bóngtrong/ngoài, thực với huyễn lồng vào với nhau, cái thực thì có tính huyễn, cái huyễn lại có tính thực. Cái thực đựng cái huyễn với cặp nước (thực) và bóng hoa (huyễn).


Ngược lại, với cặp ngoài/trong, cái huyễn (giác thấy) lại ở trong lòng của cái thực (nhìn thấy).

Tới cặp đối nghịch thứ ba, giữa quá khứ + hiện tại (mai: “sáng”) và tương lai (hôm: “chiều”), thì sự phân biệt đã trở nên rõ ràng giữa sự nở (đã nở rồi) và sự rụng (chưa nhưng sẽ rụng). Sự hỗn mang đã thành sự sáng tỏ để bước vào thuyết sắc không.

 

*

 

Ngữ pháp cũng phản ảnh những bước đi của tư tưởng. Về phương diện ngữ pháp, bài Mộc Cận có thể chia ra thành hai đôi là (I+II) và (III+IV). Trong đôi thứ nhất, cú pháp theo cách đảo ngược được ưu thắng. Xuống đến đôi sau, lại là cú pháp thuận thuần túy. Sự đảo ngược không những đã khêu lên những tiếng hình dung trong câu, mà còn diễn tả một trạng thái của tự nhiên như mới được nhìn thấy trong toàn thể. Nếu là lời nói thường, thì sẽ là: Hoa (Mộc Cận) in (trong) ánh nước một đóa hồng (cái đóa hoa trong ánh nước ấy) không bén (những) vẫn nhơ. Nay đã thành:


Ánh nước / / hoa in / một / đóa hồng

Vẩn nhơ / chẳng bén / / (bụt/ là lòng).


Sau đó thì mọi sự như lắng xuống với đôi sau, để đưa tới hai chữ sắc không.


Các diễn-thuật-từ trong bài này có bảy tiếng, chia thành sáu loại khác nhau. Trong câu I là in, một diễn thuật từ động, chuyển tác: hoa in một đóa hồng. Câu II có hai diễn-thuật-từ, một là bén, hình thức thì động và chuyển tác, nhưng nội dung thì thụ: (đóa hoa) chẳng bén vẩn nhơ; hai là , một diễn-thuật-từ nối tiếp và trống rỗng, để đặt một phương trình giữa đoạn trước và đoạn sau: bụt là lòng. Câu III dùng hai diễn-thuật-từ không-chuyển-tác, tức là đồng loại nhưng đối nhau về ý nghĩa: nởrụng. Đến câu thứ IV, thì hai từ chohay, với hai chủ từ ở ẩn thể là (ta) cho (anh) hay: Sự lạ (này là) tuyệt sắc không. Sự biệt tạp của các diễn-thuật-từ thực là kỳ diệu.


Thi thước và thi điệu của bài thơ còn có tính cách tự do, và chính sự tự do này có nghĩa lý.

Tác giả theo thể thơ bốn câu bảy tiếng, với câu III chỉ có sáu tiếng.

Bằng và trắc là sự đối nghịch về thanh, được coi là quan trọng nhất, sau vần, trong niêm luật cổ điển của Việt thi. Hai tính cách âm thanh trọng yếu nữa là cường độ và trường độ của mỗi tiếng. Bài thơ Mộc Cận được xây dựng như sau:


Tiếng trắc có kí hiệu +; bằng là – .

Những tiếng có cường độ mạnh được khoanh tròn.

Trường độ của tiếng không được ghi.

Điểm ngắt ngắn là một vạch dọc; điểm ngắt dài là hai vạch dọc.


Điều nhận xét đầu tiên là sự giống nhau về thước và điệu của câu I và câu IV. Bài thơ được đóng khung bởi hai câu ấy.


I       2  //  2  /  3.

IV    2  //  2  /  3.


Câu II và câu III không theo cùng một thước điệu với câu I và câu IV. Mới đọc lên thì tưởng là hai câu không giống nhau về nhịp. Nhưng theo thiển ý, đó chỉ là một cái cảm tưởng đầu tiên, mà sự ngâm, theo dụng tâm của tác giả, có thể giải tỏa. Toàn bài thực ra được xây dựng theo một cái khuôn đối xứng.


Câu II, tôi nghĩ rằng ngâm lên, thì phải là:

Vẩn nhơ/ chẳng bén // bụtlòng cho đúng với cái ý nghĩa mà tác giả muốn đặt vào câu ấy: sự không bén các vẩn nhơ là điều quan trọng, để giảng giải cho (hoặc được giảng giải bằng) câu bụtlòng.


Câu III chỉ có sáu tiếng, với một điểm ngưng dài sau tiếng thứ 3 nở, là một tiếng có một nguyên âm dài và một thanh uốn. Tiếng này khác hẳn, trong cấu tạo âm thanh, với tiếng thứ 6, rụng, là một tiếng có một vần chặn và một thanh uốn bị ngắt ở cửa hầu. Người ngâm kéo dài tiếng thứ ba (nở)ra thành trường độ ngang với hai tiếng, một dài một ngắn, trước khi ngưng lại. Câu III sẽ có một thước điệu giống như câu II, nhưng đối nhau về bằng trắc ở ba tiếng nhấn là tiếng I, tiếng 5 và 7:


II -

III -

[Thời Nguyễn Trãi, nở là một từ song-tiết (có 2 âm vận) làm cho câu sáu chữ thực ra là có bảy tiếng]


Về phương diện thước điệu, sự đối xứng dọc lại được nâng lên vì câu III tận cùng bằng vần (-ung), nhắc lại những vần (-ông)(-ong) của các câu I, II, IV. Về một phương diện nào đó, cũng có thể nói rằng I và IV dùng một vần (-ông), còn II và III dùng (-ong)(-ung) để tiếp nhau. Sự đối xứng hình thức như vậy là gần như hoàn toàn giữa hai đôi (I+II) và (III+IV).


Tác giả đã dùng cái hình thức đối xứng ấy làm một hình ảnh để diễn tả bông hoa và cái phản ảnh của nó trong nước, cũng như cái quân thế giữa sắc và không.


Theo chiều ngang, lại có một kiến trúc âm thanh và tiết điệu lạ lùng, với sự láy lại một nhạc khúc trong cấu tạo của mỗi câu. Cái cảm tưởng của ta là đứng trước một ngôi chùa có những cái cột, những khuôn cửa và những pho tượng đứng thành hàng, giống nhau trong sự xếp đặt, nhưng khác nhau trong nghĩa lý; qua một đợt này rồi, lại đến một đợt sau, tuy xây dựng khác nhưng cũng vẫn là một lối kiến trúc, cứ như thế ba tầng, rồi cuối cùng lại thấy lại cái mẫu hình ở mặt trước, nhưng tâm hồn đã hòa vào với cái mênh mông của đạo lý.


Câu I mở đầu bằng bốn tiếng, chia thành hai cặp với các thanh là [sắc-sắc] [không-không]. Khúc thứ nhì dùng một thanh [huyền] ở cuối, nói lên sự bừng tỉnh của tác giả trước cảnh đẹp của bóng hoa lồng trong ánh nước. Câu có bảy tiếng, thì năm tiếng là vần chặn, chỉ có hai tiếng hoa, đóa là vần thông, và hai tiếng ấy lại âm hưởng với nhau, hoa trên, đóa dưới, như trong thực cảnh:


I-   Ánh nước  //  hoa in  /  một đóa hồng.


Câu II mở đầu cùng với bốn tiếng chia thành hai cặp, nhưng theo một mẫu hình thanh âm khác:


II-  Vẩn nhơ  /  chẳng bén  //  bụt  /  là lòng.


Các thanh nối nhau trong khúc này theo mẫu [hỏi - không/ hỏi - sắc]. Khúc sau dùng hai thanh huyền và hai phụ âm lỏng [l-] liên tiếp, như thể tháo gỡ một sự bế tắc. Hai khúc đối nhau trong nội dung và cú pháp, lại được đối nhau cả về âm thanh và tiết điệu, khúc trên chặt, khúc dưới lỏng, khúc trên đóng, khúc dưới mở.


Câu III với sáu tiếng, láy lại tiếng Chiều hai lần và cũng láy lại hai lần một thanh-khúc thành [huyền-không/ không-huyền]:


III-  Chiều mai nở  //  Chiều hôm rụng


Nhưng mai nở thì là hai vần thông; hôm rụng thì là hai vần chặn; tiếng cuối trong mỗi khúc dùng những thanh đối nhau, nở thì thanh [hỏi] là một thanh uốn lên và kéo dài, rụng thì thành [nặng] là một thanh uốn xuống và ngắt cụt ở họng. Cái âm điệu đóng - mở của câu II đã bị đảo ngược lại thành mở - đóng trong câu III.


Câu IV lấy lại nhạc điệu của câu I: một khúc đầu bốn tiếng, theo điệu [nặng-nặng / không-không], theo sau bởi ba tiếng theo điệu [nặng-sắc-không]. Nhưng ba tiếng thanh [không] đều ở cuối khúc, kết liên với ba tiếng thanh [nặng], đồng thời lại có một chùm ba chính-âm dài và hai nhị-trùng-âm nối đuôi nhau trong cấu tạo của câu, đã làm cho câu kết này kéo dài ra đến vô tận:


IV-  Sự lạ  //  cho hay  /  tuyệt /  sắc không.


Từ câu I đến câu cuối cùng, bài thơ đưa ta đi từng đợt, từ cái đẹp của cảnh đến cái chân lý của cuộc đời. Toàn bài có một giọng bình thản tuy không dấu được một nỗi buồn man mác mà không bợn một chút oán hận hay tiếc thương. Nhưng hơn năm trăm năm sau, thắp một nén hương đọc lại bài thơ dâng hoa lên Bụt, ta không khỏi chảy hai dòng nước mắt khi hiểu rằng bài thơ ngắn này, Ức Trai đã làm có lẽ chỉ ba ngày trước khi chính mình cùng toàn gia ba họ sắp bị bọn gian thần hành quyết, chặt một đóa hồng rực rỡ, vẩn nhơ chẳng bén, Bụt là lòng, và xóa trắng một sự nghiệp cứu nước, thương dân đáng lưu danh thiên cổ.


(*) Bản chữ nôm viết là viện, ông Trần Văn Giáp đề nghị đọc là vết: Vết nhơ chẳng bén, bụt là lòng.


CHÚ:


Bài này, viết cho tạp chí Phật học của TT. Đức Nhuận vào khoảng năm 1968 và đăng lại trong báo Bách Khoa cùng năm, đã được sửa lại vài chữ và viết tiếp đoạn cuối để nói rõ thực ý của tác giả.

Về phương diện văn chương, sau P. Valéry và J. Cocteau, người ta thường nói rằng thơ là một ngôn ngữ; và sau R. Jakobson, người ta nói rằng có một ngữ pháp của thơ. Ở Việt Nam, vào đầu thế kỷ thứ XV, Nguyễn Trãi, nhà thơ thứ nhất của dân tộc đã thực hiện được một sự hòa hợp kỳ diệu giữa hình thức và nội dung trong thơ của ông, và qua sự hòa hợp ấy, đã tô điểm thuyết sắc không của nhà Phật với những lời thơ và âm điệu huyền ảo hiếm có.

Sau Nguyễn Trãi, Việt thi có thể não nùng hơn như thơ Cung Oán, có thể đài các hơn như thơ Kiều, có thể bi thống hơn như thơ Thập Loại Chúng Sinh, có thể réo rắt hơn như thơ Chinh Phụ, có thể bay bướm hơn như thơ của Nguyễn Công Trứ, có thể nhẹ nhàng hơn như thơ của Nguyễn Khuyến, có thể xúc động hơn như thơ của Phan Bội Châu. Nhưng thực khó mà đạt được đến sự cao cả, sự chân thành, sự sáng sủa và sự thanh nhã của Nguyễn Trãi trong tâm tư, trong thi tứ, và trong ngôn từ của thơ.


CHÚ THÍCH:


Kim Việt ngữ: Vietnamien moderne, Modern Vietnamese

Trung Việt ngữ: Vietnamien moyen, Mid - Vietnamese

Lịch sử của Việt ngữ được phân thành bốn thời kỳ:

1. Thái cổ Việt ngữ: Trước thế kỷ I (Lạc)

2. Cổ Việt ngữ: Thế kỷ I-Thế kỷ XI

3. Trung Việt ngữ: Thế kỷ XI – Thế kỷ XVIII

4. Kim Việt ngữ: Thế kỷ XVIII-Thế kỷ XX.

Bình diện biểu hiện: Plan de l’expression.

Bình diện nội dung: Plan du contenu. (Hai danh từ này là mượn của L.Hjelmslev (về ngữ lí học).

Đối: Opposition. Nghịch: Contraste. Đối nghịch: Opposition et contraste. Tương quan: Corrélation. Liên hệ: Relation. Sử trình: Procès. (Những danh từ trên cũng là mượn trong ngữ lí học cơ cấu).

Bản thể: Essence. Bản chất: Nature. Chất liệu: Substance. Hình thức: Forme. Sắc tướng: Apparence. (Những danh từ này có tính cách triết học. Danh từ cuối cùng thuộc về Phật học).

Cơ cấu: Structure. Kiến trúc: Architecture. Xây dựng: Construction. Mẫu hình: Pattern. Niêm luật: Règles prosodiques. Thi thước: Mètre. Thước luật: Métrique. Thi điệu: Mélodie. Nhịp: Rythme. Cặp câu: Distique. Vần: Rime. Điểm ngưng: Pause. (Những tiếng trên đều về thi luật)

Chú Ý: Điệu dùng cho cả thơ (thi điệu) và nhạc (nhạc điệu).

Âm: Son. Phụ âm: Consonne. Chính âm: Voyelle. Thanh: Ton. Thanh lên: Ton montant. Thanh uốn: Ton infléchi. Cao độ: Hauteur. Cường độ: Accent. Trường độ: Longueur. Tiếng: Mot. Từ: Unité syntoxique. Vần: Noyau syllabique. Từ độc vận: mot unisyllabique. Ngữ pháp: Grammaire. Từ song tiết: mot disyllabique. Cú pháp: Syntaxe.

(Những tiếng này về ngữ lí học, bao gồm ngữ âm, ngữ pháp và ý nghĩa học). Chú ý: Vần có hai nghĩa, vần thơ và vần của tiếng.

 

Jean Cocteau: La poésie est une langue à part que les gens prennent pour une autre manière d’employer la leur. Il en résulte que tous les poètes du monde peuvent se comprendre entre eux.

(Thơ là một ngôn ngữ riêng biệt mà người thường cho là một cách dùng cái ngôn ngữ của họ. Vì thế cho nên tất cả các thi sĩ trên thế giới đều có thể hiểu được nhau).

J. Cocteau là một thi sĩ của nước Pháp.

 

R.Jakobson, Poésie de la grammaire et grammaire de la Poésie (Đầu đề một cuốn sách)

R.Jakobson là một nhà ngữ lí học gốc Nga, nay dạy ở Hoa Kỳ. Ông đã cùng với Trubetzkoi lập ra Hội ngữ lí Prage, do đó đã phát triển Ngữ lí học mới.

 

Tác giả xin lỗi tất cả các bạn đọc vì đã không tránh được sự dùng một số danh từ chuyên môn và một vài danh từ mới (hoặc danh từ cũ những với nghĩa mới). Tác giả cũng xin phép được dùng ba tiếng tư, tứ, từ, mà tác giả học được của Ô. Nguyễn Đức Quỳnh.


GS. Trần Ngọc Ninh

Khởi Hành số 137, Tháng 3.2008


Cung Tac Gia

Cùng Tác Giả:

 

- Cái Bánh Chưng Và Nền Văn Hiến Việt Nam Trần Ngọc Ninh Khảo luận

- Tuyết Xưa Trần Ngọc Ninh Tiểu luận

- Nguyễn Trãi Huyễn-Thực và Sắc-Không Trần Ngọc Ninh Thơ

- Dân Tộc Là Gì Trần Ngọc Ninh Tiểu luận

- Lê Lợi, Nguyễn Trãi và Cuộc Cách Mệnh Lam Sơn Trần Ngọc Ninh Biên khảo

- Bảng Niên Biểu Nguyễn Du Trần Ngọc Ninh Niên biểu

 

 

Tho

 

 

  Thơ:

 

Khát Vọng (Trần Yên Hòa)

Chất Thơ Do Cảm Nhận Vài Kiến Thức Về Tư Tưởng Của Kant Và Hegel (Trần Văn Nam)

Các Bài Thơ Nôm Đầu Tiên Trong Văn Học Chữ Nôm (Tuệ Chương)

Đi Tìm Đường Bay Ưu Việt Của Thi Ca (Thái Tú Hạp)

Tứ Thơ Và Chiến Tranh: Chiến-Sự Dù Nhỏ, Cũng Đã Lưu-Dấu Trong Thơ (Trần Văn Nam)

Những Dời Đổi Địa Hình và Mối Hoài Cảm Thi Ca (Trần Văn Nam)

Đất Nước Của Ma Quỷ (Bùi Chí Vinh)

Thời Đại Tôi Đang Sống (Nguyễn Thị Thanh Yến)

Bài thơ độc vận “ơ” làm trong men rượu say (Trần Thoại Nguyên)

Đất nước mình ngộ quá phải không anh (Trần Thị Lam)

Những đôi mắt ngủ quên (Trương Đình Phượng)

Con đường mới | Mở cửa (Trương Đình Phượng)

Mưa lạnh trên đèo (Xuân Thao)

Ân Tình Mẹ (Trần Kiêm Đoàn)

Mùa Xuân Và Linh Hồn Mới (Trần Mộng Tú)

 

  Thơ Dịch:

 (Vietnamese Poetry translated into English)

 

Đàm Trung Pháp & Viên Linh dịch và chú giải:

 

Vịnh Hai bà Trưng (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)

Ăn Cỗ Đầu Người (Nguyễn Biểu)

Đoạt Sáo Chương Dương Độ (Trần Quang Khải)

Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

Thề Non Nước (Tản Đà)

Thi Nhiệt (Lý Đông A)

Vịnh Tranh Gà Lợn (Vũ Hoàng Chương)

Gọi Hồn (Viên Linh)

 

Huỳnh Sanh Thông dịch:

 

Thăng Long (Nguyễn Du)

Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du)

Hồ Hoàn Kiếm (Vô Danh)

Thăng Long Thành Hoài Cổ

 (Bà Huyện Thanh Quan)

Chiều Hôm Nhớ Nhà (Bà Huyện Thanh Quan)

Lên Đèo Hải Vân (Huỳnh Mẫn Đạt)

Vịnh Bức Dư Đồ Rách (Tản Đà)

Màu Tím Hoa Sim (Hữu Loan)

Nhà tôi (Yên Thao)

Sóng (Xuân Quỳnh)

Hai Sắc Hoa Tigôn (T.T.Kh.)

 

Lê Đình Nhất-Lang & Nguyễn Tiến Văn dịch:

 

Cùng khổ (Bùi Chát)

Hoa sữa (Bùi Chát)

Bài thơ một vần (Bùi Chát)

Đèn đỏ (Bùi Chát)

Ai? (Bùi Chát)

Những người đáng trọng & những kẻ đáng khinh

 (Lý Đợi)

 

Các tác giả khác dịch:

 

Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi (Nguyễn Đình Toàn)

 (Do Dinh Tuan dịch)

Bữa Tiệc Hòa Bình (Nguyễn Thị Thanh Bình)

 (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

Từ Một Cuốn Rún (Nguyễn Thị Thanh Bình)

 (Đinh Từ Bích Thúy dịch)

Vì Người Ta Cần Ánh Mặt Trời (Nguyễn Đắc Kiên)

 (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

 

  Thơ Cổ:

 

Cảnh Đẹp Thành Thăng Long Thời Tây Sơn Qua Thi Ca Đoàn Nguyễn Tuấn (Phạm Trọng Chánh)

Chinh Phụ Ngâm diễn nôm, một dịch phẩm thần kỳ (Đàm Trung Pháp)

Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào? (Trần Từ Mai)

Đọc lại một số thi phẩm của Phan Châu Trinh (Phan Thành Khương)

Nhất Chi Mai - Chất Người Muôn Thuở (Phan Trang Hy)

Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

Nguyễn Trãi Huyễn-Thực và Sắc-Không (Trần Ngọc Ninh)

Quá Phong Khê, Một Bài Thơ Kỳ Tuyệt (Phạm Khắc Hàm)

Giới thiệu Bài Thơ "Trừ Tịch" của Đặng Đức Siêu (Trần Từ Mai)

Xuân Xưa Thơ Trước, Hồn Ngàn Mùa (Viên Linh)

Bạch Đằng Giang Phú (Trương Hán Siêu)

Thuật Hoài (Phạm Ngũ Lão)

Thuật Hoài (Đặng Dung)

Lâm Cảng Dạ Bạc (Nguyễn Trãi)

Ngày Xuân Đọc "Đào Hoa Thi" của Nguyễn Trãi (Trần Uyên Thi)

Thơ Lý Bạch (Đàm Trung Pháp)

 

  Thơ Tuyển:

 

Khói Trắng (Kiên Giang)

Lòng Mẹ (Nguyễn Bính)

Tình yêu mẹ - Tình yêu con (Nguyễn Thu Hằng)

Hẹn Anh Một Ngày Tái Ngộ (Ngô Minh Hằng)

Những tháng tư buồn (Nguyễn Thị Hằng)

Nỗi buồn tháng 4 (Huy Uyên)

Khởi Hành (Trần Thúc Vũ)

Quà Tặng Trong Chiến Tranh (Trần Mộng Tú)

Mã Viện (tác giả: Vô Danh) (Nguyễn Văn Ngọc)

Mẹ và sự lặng im (Trần Mộng Tú)

Thơ Về Mẹ (Nhiều tác giả)

Hai Chữ Nước Nhà (Trần Tuấn Khải)

Đói (Bàng Bá Lân)

Lời Mẹ Dặn (Phùng Quán)

Nước Tôi (Nguyễn Văn Cổn)

Thơ Tưởng Niệm Ngày 30 Tháng Tư (Nhiều tác giả)

Thơ Tình Ngày Valentine (Nhiều tác giả)

Kỷ Niệm Chiến Thắng Đống Đa (Hoàng Phong Linh)

Thơ và Câu Đối Mừng Xuân (Nhiều tác giả)

Quốc Nam, Quốc Việt (Hồ Bạch Thảo)

Bài Thơ Vô Đề Viết Trong Trại Tù Tập Trung (Tú Kếu)

Thơ Tưởng Niệm Các Anh Hùng Tử Sĩ ở Hoàng Sa (Nhiều tác giả)

Bình Giảng: Đời Đáng Chán và Tống Biệt của Tản Đà (Thạch Trung Giả)

Thơ Tiền Chiến (Nhiều tác giả)

Tây Tiến (Quang Dũng)

Đêm Liên Hoan (Hoàng Cầm)

Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Cao Tiêu)

Biên Cương Hành (Phạm Ngọc Lư)

Thơ Xuân (Nhiều tác giả)

Đồng Lầy (Nguyễn Chí Thiện)

Ta Về (Tô Thùy Yên)

Trường Sa Hành (Tô Thùy Yên)

Kịch thơ: Hận Nam Quan (Hoàng Cầm)

 

  Tục ngữ (Proverbs)

 

Tre già măng mọc

Đục nước béo cò

Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng

Gà một mẹ đá nhau

 

  Danh Ngôn

  Đố vui (Puzzles)

 
 

 

© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@hotmail.com)