1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Từ Điển Anh Việt

       

          

       

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      Thư viện Người Việt:
      NAM PHONG
      TRI TÂN
      THANH NGHỊ
      NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
       

       

    2. Tứ Thơ Và Chiến Tranh: Chiến-Sự Dù Nhỏ, Cũng Đã Lưu-Dấu Trong Thơ (Trần Văn Nam)

      31-5-2017 | THƠ

      Tứ Thơ Và Chiến Tranh: Chiến-Sự Dù Nhỏ, Cũng Đã Lưu-Dấu Trong Thơ

       TRẦN VĂN NAM

      Ở thế kỷ 20, hai cuộc chiến tranh Việt Nam quá dài, từ 1945 đến1975. Vậy những ai được sinh ra trong thời-gian bắt đầu hiện-diện vào đời năm 1920 và năm 1950 (xin lấy hai con sổ chẵn này cho dễ phân-biệt khi cuộc chiến tranh đầu kết-thúc năm1954 và cuộc chiến thứ hai kết thúc năm 1975), thì những người đó đều đã ở vào tuổi 24 và 25, có nghĩa là họ đã hoàn toàn nằm trong cuộc chiến, đã hoàn toàn trưởng thành trong cuộc chiến, dù họ chiến sĩ hay thường dân thì cũng đều chung mang thế hệ khói lửa ngút trời. Nếu họ đã từng sáng tác thơ văn thì thế nào cũng lưu dấu vết chiến tranh, cho dù với chủ-trương vị-nghệ-thuật hay thuần-túy thơ tình. Ví dụ bài thơ “Núi Đôi” của Vũ Cao làm trong cuộc chiến 1945-1954 và bài thơ “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím” của Kiên Giang trong cuộc chiến 1954-1975, đều là thơ tình nhưng giống nhau ở chi-tiết một trong hai người trong cuộc đều chết vì chiến tranh; một người thì chết vì là nữ du kích (trong thơ Vũ Cao ); còn người nam (trong thơ Kiên Giang) chết vì cố-thủ phòng-tuyến tại một nhà thờ; và nàng hay tin, dù đã có chồng, đến cài hoa trắng trên áo quan người chiến sĩ, cũng là người trước đây rất yêu nàng. Theo như trong sách biên-khảo “Thơ và Nguồn Thơ” (từ trang 225 đến trang 237) của tác-giả Trần Ngọc Hưởng, do “Nhà Xuất Bản Tống Hợp Đồng Nai” ấn hành năm 2004: Kiên Giang đã sửa lại bài thơ “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Ảo Tím” thành phiên-bản thứ hai. Trong phiên bản thứ hai này thì người nữ mất khi lên xe hoa ba năm sau, vì lý do nào đó có lẽ do bệnh tật, và cũng loại hoa trắng ngày trước cài trên áo tím mà nay người ta cài trên áo quan của nàng. Phiên bản thứ hai ấy đã phổ thành ca-khúc được ưa chuộng trước năm 1975. Hai ví dụ trên xen kẽ tình và thời cuộc, nêu ra làm điển-hình mà thôi, vì còn thật nhiều thơ văn xuất sắc của “hai thế-hệ khói lửa ngút trời” sáng tác cùng khuynh hướng chung mang này. Riêng những nhà thơ văn trực tiếp tham dự hành quân tác chiến thì thơ văn của họ dĩ nhiên nặng phần chiến sự, hoặc mang tính chiến đấu hoặc mang tính phản chiến, trong đó tình đồng đội phong phú; tình trai gái đôi khi hiện diện đôi khi không có mặt. Ví dụ trong tác phẩm văn xuôi “Tháng Ba Gãy Súng” của Cao Xuân Huy, tình đồng đội ở khắp nơi trong các trang sách, những khuôn mặt phụ nữ chỉ được nhắc nhở trong vài lần.


      Người viết bài này sinh năm1939, kể như ở vào tuổi thiếu-niên trong cuộc chiến 1945-1954, vì vậy cũng đã có thấy vài dấu vết chiến tranh thời Đệ Nhị Thế Chiến giữa Nhật và Mỹ Pháp tại Đông Dương; hoặc đã chứng kiến vài chiến-sự nhỏ giữa Việt-Minh và Pháp. Vài dấu vểt chiến tranh thời Đệ Nhị Thế Chiến như đèn pha của tàu chiến Nhật trên sông Cửu Long soi thành những luồng xanh chiếu lên bầu trời (từ Bến Tre nhìn qua Mỹ Tho), đồng thời còi báo động hú lên, khi có máy bay Mỹ vào không phận. Rồi lúc theo mẹ ra Nha Trang, qua các nhà ga Mường Mán, ga Tháp Chàm, ga Nha Trang, tôi đều thấy tường vách và mái những “Dépot xe lửa” (nơi sửa chửa đầu máy và toa tàu), tất cả được sơn ngoằn ngoèn màu cỏ cây (như vải lính Nhảy Dù) cốt ngụy trang đánh lừa trinh sát của máy bay Mỹ (chứng tỏ thời ấy máy bay Mỹ cũng chưa trang bị radar tinh vi hay dụng-cụ điện-tử tối tân). Và những hố bom Mỹ dọc dài đường xe lửa Xuyên Việt. Lại thấy ven bờ biển Cà Ná gần Phan Rang có vài tàu Nhật bị đánh chìm chưa được trục vớt, giơ lên nhấp nhô những ống khói tàu… Đến thời kỳ Việt Minh chống Pháp, khoảng năm 1949, tôi trú ngụ tại thành phố Nha Trang, sát bên nhà là một Nhà Xác thuộc khu Bệnh Viện lớn của Pháp (bệnh viện này về sau, thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, đã là nơi cố-thủ chống tham nhũng của Bác sĩ Hà Thúc Nhơn; kết-thúc với cái chết của ông khi quân đội tấn công vào). Cha kế của tôi là công chức cấp cao của Sở Hỏa Xa nên được trú ngụ ở một biệt thự xây kiểu Pháp, nhưng quá riêng biệt vắng vẻ, lại ở kế bên Nhà Xác Bệnh Viện. Thỉnh thoảng thấy có quan tài lính commando hoặc lính Lê-dương phủ cờ Pháp, lúc ấy nhà xác bật đèn nhỏ vàng mờ trước cửa, và có lính Pháp luân phiên đứng gác... Trước nhà là một bãi rộng đất pha cát, chỉ mọc nhiều những bụi cây hoang lùn thấp gọi là cây ma-dương, trái nhỏ khi chín cũng ăn được, nhưng chỉ để cho lũ trẻ ăn chơi mà thôi. Bãi đất rộng ẩy rất lâu về sau (không biết năm nào) là nơi tọa lạc Trường Trung Học Võ Tánh Nha Trang, tuy vậy vẫn còn rộng thênh thang (và bây giờ thì không biết nơi đây còn trống trải hay không)... Ngày nọ, chắc trong năm 1949, một chiến-hạm Pháp đậu gần bờ bị cán bộ Việt Minh giả dạng công nhân đặt bom phá nổ dữ dội. Lính thủy Pháp chết rất nhiều, và quan tài của họ đặt khắp nơi trong và ngoài nhà xác ở gần nhà như đã nói ở trên. Dấu vết chiến tranh thời tôi mới 9 hay 10 tuổi khi ấy, đã có lưu dấu trong thơ (nhưng thơ này chỉ là sáng tác hồi-tưởng):


      HAI SẮC MÀU ĐỒNG HIỆN


      Ðâu khoảng năm bốn chin

      Tôi đến ở Nha Trang

      Trước nhà, bãi hoang vắng

      Bệnh viện, cùng dãy ngang.


      Mùa tuổi thơ bắt dế

      Theo tiếng gáy vệ đường

      Rồi rảo khắp bờ bụi

      Tìm hái trái ma-dương.


      Cuối đường vui, thoáng hiện

      Khu nhà xác chơ vơ

      Những khi quàn tử sĩ

      Mới có bóng điện mờ.


      Commando tử trận

      Từ đâu những chiến trường

      Người lính Pháp đứng gác

      Thật buồn, những đêm sương.


      Nhắc đây, đâu nào kể

      Phản chiến hay chiến công

      Mà chỉ vì tâm trí

      Thường nhớ những bất đồng.


      Tuổi thơ, màu trong sáng

      Nhớ cùng bạn vui chơi

      Lại ám ảnh bệnh viện

      Người lính trận bỏ đời.


      Hai sắc màu cùng hiện

      Khi nhớ lại điều gì

      Nền trời càng xa rộng

      Càng đủ nét khắc ghi.

      (City of Walnut, California, sáng tác trong tháng 10.2011)


      Nói riêng về chiến sự Miền Nam Việt Nam trước 1975 mà người viết bài này đã có trong cuộc, ở vào lứa tuổi quân-dịch, nên biết được một số quy định thuộc về động-viên vào quân-đội dành cho giáo-chức. Những biệt lệ thuộc các ngành khác thì người viết không rành lắm; như biệt-lệ gia-đình chỉ có một đứa con thì hoãn-dịch trong bao lâu; như người có khuyết tật thì ở mức độ nào mới không bị động viên; như người đang làm việc hành-chánh thì có quy-chế ra sao... Vậy khá rành về giáo-chức thì như sau: Ngay sau Tết Mậu Thân 1968, giáo-chức phải đi thụ-huấn 9 tuần lễ quân-sự tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung ở gần Sài Gòn. Khóa đầu tiên huấn luyện quân sự cho nam-giáo-chức này rất đông đảo, vì bao nhiêu người đang hành nghề dạy học trong hạn tuổi quân-dịch được dồn vào cùng một đợt. Và đợt này sau 9 tuần thì về lại nhiệm sở, được gọi là Giáo-chức Biệt-phái. Những đợt huấn luyện giáo-chức càng về sau càng được điều-chỉnh lại từ Bộ Quốc Phòng, từ từ càng khó khăn do tình hình chiến sự khốc liệt. Hoặc phải được huấn luyện quân sự trong một thời-gian dài ở tại Trung Tâm Huấn Luyện Thủ Đức để trở thành Chuẩn Úy, rồi cũng được biệt phái về dạy học (như nhà thơ Nguyên Sa, ông khá lớn tuổi mà đi huấn luyện quân sự đợt sau chẳc là do đang làm Hiệu Trưởng một trường Trung Học Tư Thục?). Hoặc những đợt sau nữa thì phải đi tác-chiến một thời-gian 2 hoặc 3 năm mới được biệt-phái; và đã có những giáo-chức tử-trận hay thành phể-binh... Khi đã được biệt-phái thì ban ngày họ dạy học, ban đêm chia nhau luân-phiên đi canh gác trường học, gọi là làm công tác Nhân Dân Tự Vệ. Khóa đầu tiên huấn luyện 9 tuần quân sự vào dịp hè trong năm 1968, nghĩa là sau hai đợt tấn công của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vào các thành phố, trong đó có thành phố Vĩnh Long...Từ nhiệm sở Trung học quận Trà Ôn thuộc tỉnh Vĩnh Long, tôi dự định đến Sài Gòn ăn Tết vào ngày Mùng Hai, còn ngày Mùng Một thì dự định hưởng Tết tại Thị xã Vĩnh Long. Tối 30 rạng sáng ngày Mùng Một, tôi ở trong một Hotel gần chợ Vĩnh Long, không ngờ nơi ấy là một trong vài địa-điểm xâm nhập và biến thành chiến địa. Trước khi máy bay trực thăng Mỹ đến oanh tạc, chúng tôi chạy thoát khỏi khu vực, chạy đến lánh nạn ở Nhà Thờ chính của thành phố Vĩnh Long (vốn là trú sở trước 1963 của Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục). Nghe nói vào đợt tấn công lần thứ hai trong tháng 5/1968, nhà thờ này lại là khu xâm nhập của quân Mặt Trận do tướng Trần Văn Trà chỉ huy và nhà thờ cũng thành nơi chiến địa. Chiến sự gần như ở khắp nơi, nhiều người chểt, chính tôi đã có thấy vài người trúng đạn nằm im lìm trên đường phổ Vĩnh Long, và trên trời xanh ở vùng kinh rạch không lúc nào vắng những con chim ó bay lượn do chúng đánh hơi được mùi tử-thi...


          Mộ Ông Hàm ở Trà Ôn-Vĩnh Long, photo ngày 14/11/2016

      Không đến Sài Gòn được, nên tôi phải quay về Cần Thơ, để từ Cần Thơ đi tàu đò trở lại nhiệm sở Trung Học Trà Ôn. Thời gian Tết ấy, quốc-lộ hay tỉnh-lộ đều khó thông suốt hoặc bị cắt hẳn. Về lại Trà Ôn, chẳng bao lâu, cũng còn trong thời gian Tháng Giêng Mậu Thân, tôi lại chứng kiến cảnh máy bay phản lực Mỹ từ Phi Trường Trà-Nóc Cần Thơ oanh tạc bắn phá khu vực Mộ Ông Hàm kiên cố tại Xã Thiện-Mỹ Trà Ôn. Ông Hàm người Hoa-kiều, ngoài ngôi mộ đồ sộ còn 12 cổng Địa Ngục, nên toàn vùng rất bề thế vững chắc. Quân Mặt Trận cố thủ ở đó định bao vây Trà Ôn. Khi họ rút đi, tôi có đến coi, thấy ngôi mộ cao lớn bằng đá sa-thạch màu trắng xám, mái bị hỏa-tiễn bắn trúng nhưng chỉ sứt mẻ một mảng nhỏ, toàn vùng mộ trống trải quang đãng. Trở lại thăm cảnh cũ sau 48 năm (ngày 14/11/ 2016); tôi thấy lại cảnh quang có vẻ khác hẳn (xin xem photo đính kèm). Dấu vết chiến-sự Tết Mậu Thân rất lớn ở các thành phố, nhưng rải rác ở quận huyện, đã đi vào thơ của tôi trong hồi-tưởng:


      BIẾT RỒI, ÐIỀU TRỪU TƯỢNG


      Trời không mây, xanh thẳm

      Có hai con ó đen

      Bay vòng rồi đảo lại

      Cảnh này, dường thấy quen.


      Nhớ rồi, mùa xuân ấy

      Quận huyện, lửa chiến tranh

      Người chết bờ kinh vắng

      Trên trời, ó quẩn quanh.


      Bóng ó thời tao loạn

      Là hình ảnh tóc tang

      Bây giờ chúng bay đẹp

      Một đường bay thênh thang.


      Biết rồi, điều trừu tượng

      Vượt ngoại diện, sắc màu

      Thấy gì trong tương phản

      Con ó thời trước, sau?


      Ở trên xấu và đẹp

      Là nguyên lý tồn sinh

      Loài tìm ăn xác chết

      Thuần khiết lúc thanh bình.


      Mùa đông đã sắp hết

      Ðường xác lá, sương mù

      Cũng thấy rồi, trừu tượng

      Xoay vần là thiên thu.

      (Sáng tác trong tháng 11 năm 2010)


      Chỉ dạy học ở nhiệm sở Trung học Trà Ôn một niên-học 1967-1968; qua niên-học 1968-1969 thì tôi làm đơn xin đổi đến dạy ở Trung Học Đức Tôn thuộc Quận Đức Tôn tỉnh Sa Đéc (nay là Huyện Cái-Tàu-Hạ thuộc tỉnh Đồng Tháp). Tôi không trú ngụ trong quận Đức Tôn mà cư-trú tại Bến phà Mỹ Thuận, tuy thuộc tỉnh Vĩnh Long, nhưng chỉ cách Trung học Đức Tôn (thuộc tỉnh Sa Đéc) khoảng 4 hay 5 cây số, thường ngày ngồi xe lam đi dạy học. Tôi ở tại Bến phà Mỹ Thuận trong ba niên-học 1968-1969, 1969-1970, 1970-1971. Khoảng thời-gian này, phố xá gẩn như cháy rụi tại bến phà Mỹ Thuận, và đang được xây dựng lại, vì nơi đây cũng là một bãi chiến trường trong Tết Mậu Thân 1968.



          Qua phà Mỹ Thuận trước ngày cầu cho thông-xe (năm 2000) và Photo 1970

      Khi sắp sửa di chuyển đến dạy học tại Thị xã Vĩnh Long, tôi thấy một Sỉêu Thị đã khai trương tại phố xá bến phà. Cầu Mỹ Thuận đã cho thông xe 17 năm rồi, bắt đầu từ năm 2000, ở địa-điểm khá xa phố xá bến phà thuở xưa (Xin xem photo Bến phà Mỹ Thuận năm1970, và Cầu Mỹ Thuận năm 2000: chụp khi qua phà cũ và chỉ một tuần sau thì cầu cho thông xe).  Tôi đã có một bài thơ hồi-tưởng thời gian hồi-sinh phố xá đó với tường vách mới dựng, cột kèo tua tủa. Bài thơ hồi-tưởng liền sau chiến sự, với hy vọng tạo nên tính hội họa trong thơ, “lấy mẫu họa-tính” trong bài thơ “Cánh Đồng, Con Ngựa, Chuyến Tàu” của Tô Thùy Yên đăng trong “Tạp-chí Sáng Tạo” năm 1956, qua các câu do từ-ngữ tạo hình đậm nét: “Trên cánh đồng hoang thuần màu... Tàu chạy mau mà qua rất lâu... Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu... Ngựa thở hào hển, thở hào hển... Mặt trời mọc xong, mặt trời lặn... Cánh đồng, a! cánh đồng sắp hết... Ngựa ngã lăn, mình ướt như cỏ/ Chấm giữa nền nhung một vết nâu”. Bài thơ này của Tô Thùy Yên, ngoài họa-tính còn rất sáng tạo ở nhạc-tính. Bài thơ của tôi chỉ lấy mẫu ở họa-tính, ngoài ra tác-giả cũng mong nuốn có chút ít màu sắc hậu-chiến-sự:


      VỌNG THANH VÀ ẢO GIÁC


      Tôi ở Bắc Mỹ-Thuận

      Hai năm, sau Mậu Thân

      Nơi đây từng chiến địa

      Bến phà hồi sinh dần.


      Những lầu xây dang dở

      Cột kèo, tường xi-măng

      Sân thượng, sắt tua tủa

      Như phế-tích thềm trăng.


      Tiếng mèo gào, nghe rợn

      Loài thú hoang mái nhà

      Một bóng đen góc tối

      Có thanh sắt đâm qua.


      Ðó chỉ do ảo giác

      Bởi cột kèo dở dang

      Mèo nằm phía dưới trụ

      Như một suốt xuyên ngang.


      Có đáng là chất liệu?

      Cho họa sĩ khắc hình

      Cho nhạc sĩ ghi tiếng

      Không đành để lặng thinh.


      Một chút nhớ xưa cũ

      Nơi bến phà khuya xanh

      Nổi chìm mảng ký ức

      Ảo-giác và vọng-thanh!

      (Sáng tác trong tháng 11/2011)



          Trường Thủ Khoa Huân năm 1972, nay là Trường chính trị Phạm Hùng (Vĩnh Long)

      Xin trở lại nói về công tác Nhân Dân Tự Vệ: Nhân dân Tự Vệ tại một trường học lớn như ỏ Thị xã thì gồm đủ thành phần: Giáo-chức 9 tuần thụ huấn quân sự, giáo-chức sĩ quan các cấp từ Chuẩn Úy đến Đại Úy biệt phái; cấp cao quân đội hơn nữa chắc không có hoặc rất hiếm. Nếu tình-thế căng thẳng về chiến sự thì Đại Úy biệt phái dĩ nhiên chỉ huy nhóm Nhân Dân Tự Vệ ở một nhà trường. Khi tôi đổi nhiệm sở từ trường Trung Học Quận Đức Tôn tỉnh Sa Đéc (nay là Huyện Cái-Tàu-Hạ tỉnh Đồng Tháp) đến Trung Học Thủ Khoa Huân thuộc Thị xã Vĩnh Long vào năm 1972 (đây là nhiệm sở thứ ba trong đời dạy học của tôi). Tôi dạy Việt Văn, nhưng bắt đầu dạy Triết ở đó vào năm 1973, thay thế Giáo sư Võ Minh Thế có lệnh gọi nhập ngũ. Đến tháng 3 năm 1975 thì tình hình chiến sự rất căng thẳng, có những tin tức phao đồn phía bên Mặt Trận sẽ triệt hạ Đồn Pháo Binh ở sát gần và cùng một phía với Trung học Thủ Khoa Huân. Cả hai nằm bên “Quốc lộ 4” (bây giờ là “Quốc lộ A1”) nối liền Vĩnh Long- Cần Thơ. Tin phao đồn ngày càng đáng sợ, như phía bên kia đã dự-trù đóng sẵn vài trăm quan-tài dành cho chiến-sĩ tử-trận của họ. Như vậy là trận đánh sẽ rất lớn. Lúc ấy thật lo sợ, sau này nghĩ lại thì chắc đây là tin-tức thuộc “chiến-tranh cân-não”. Căn nhà nhỏ của tôi thì lại ở gần và đối-diện trường học, bên một rạch nước khá sâu ghe lớn có thể thông thương. Dãy nhà dọc dài con rạch này làm sao chịu nổi nếu khu vực quanh đồn pháo binh thành bãi chiến trường, vì nhà nhà đều cất bên rạch nước sâu thì đâu nơi nào có hầm trú ẩn. Giải pháp cho bớt lo sợ là mua những tấm gỗ dầy chêm thêm trên sàn nhà, có nguy biến bom đạn pháo-kích thì cả gia-đình chun xuống dưới sàn nhà phía còn tiếp-xúc với mé lộ. Còn phía tiếp xúc với rạch nước thì đành chịu, vì nhìn ra thật trống trải khi nước ròng (do nhịp thủy triều lên xuống từ sông Tiền Giang). Lo sợ thì vẫn lo sơ, thời gian này tôi lại bận rộn dạy học ở 3 trường, ngoài trường Thủ Khoa Huân, còn vài giờ mỗi tuần dạy thêm tại nhiệm sở cũ và ở một trường Trung-học Tư-thục, cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Dấu vết nghề-nghiệp trong thời-cuộc không mấy bình yên đã được hồi-ức qua thơ:


      TỪ MỘT NƠI ĐẾN ĐƯỢC HAI DÒNG SÔNG LỚN


      Thời chiến tranh lan khắp

      Tôi dạy học bên sông

      Lần lượt đổi nhiệm sở

      Ven hai dòng mênh mông.


      Ðều là vùng bất ổn

      Ðơn xin đến, dễ dàng

      Năm tháng, vui trường lớp

      Ði cho biết mênh mang.


      Lần hồi, về thị xã

      May, vẫn gần hai nơi

      Mỗi trường mỗi năm lớn

      Lớp Mười Hai gọi mời.


      Buổi sáng, nhiệm sở chính

      Chiều, thời biểu chia hai

      Mấy giờ xe chuyển vận

      Ba địa điểm hòa hài.


      So đũa, mùa nào trắng

      Dừa nước vạn niên xanh

      Thấy hoài thành vô cảm

      Sau, tiếc thời qua nhanh.


      Vì bảy lăm, năm cuối

      Môn dạy xưa, hết cần

      Nhớ những đồng nghiệp cũ

      Những Hiệu Trưởng tình thân.


      Mãi sau, thường lơ đãng

      Tưởng còn đi trong mơ

      Trên hành trình nối kết

      Những trường lớp ven bờ.

      (Sáng tác trong tháng 5 năm 2008)


      (City of Walnut, California, tháng 5 năm 2017)


      Trần Văn Nam

      Nguồn: Tác giả gởi bài và ảnh



      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Hà Nguyên Du đi giữa Duy Mỹ của Thơ Cũ và rất Hiện Đại của Thơ Tân Hình Thức Trần Văn Nam Nhận định

      - Với nhà văn Mặc Đỗ, ta biết thêm vài điều qua cuốn sách mới nhất của ông Trần Văn Nam Nhận định

      - Nhà Văn Lữ Quỳnh Viết Truyện Phản Chiến Ở Vị Trí Và Bối Cảnh Nào? Trần Văn Nam Nhận định

      - Dẫn Lược Từng Chương Tiểu Thuyết Danh Tiếng của Thomas Hardy Trần Văn Nam Giới thiệu

      - Chất Thơ Do Cảm Nhận Vài Kiến Thức Về Tư Tưởng Của Kant Và Hegel Trần Văn Nam Nhận định

      - Nhà Thơ Thành Tôn Và Những Hình Ảnh Tận Tụy Với Văn Học Trần Văn Nam Tạp bút

      - Tứ Thơ Và Chiến Tranh: Chiến-Sự Dù Nhỏ, Cũng Đã Lưu-Dấu Trong Thơ Trần Văn Nam Thơ

      - Nghĩ Về Thơ Biểu Cảm Và Thơ Biện Luận (Qua Thi Phẩm của Thành Tôn) Trần Văn Nam Nhận định

      - Những Dời Đổi Địa Hình và Mối Hoài Cảm Thi Ca Trần Văn Nam Thơ

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975 Của Nguyễn Vy Khanh: Động Cơ Thực Hiện Trần Văn Nam Nhận định

    3. Tho

       

       

        Thơ:

       

      Khát Vọng (Trần Yên Hòa)

      Chất Thơ Do Cảm Nhận Vài Kiến Thức Về Tư Tưởng Của Kant Và Hegel (Trần Văn Nam)

      Các Bài Thơ Nôm Đầu Tiên Trong Văn Học Chữ Nôm (Tuệ Chương)

      Đi Tìm Đường Bay Ưu Việt Của Thi Ca (Thái Tú Hạp)

      Tứ Thơ Và Chiến Tranh: Chiến-Sự Dù Nhỏ, Cũng Đã Lưu-Dấu Trong Thơ (Trần Văn Nam)

      Những Dời Đổi Địa Hình và Mối Hoài Cảm Thi Ca (Trần Văn Nam)

      Đất Nước Của Ma Quỷ (Bùi Chí Vinh)

      Thời Đại Tôi Đang Sống (Nguyễn Thị Thanh Yến)

      Bài thơ độc vận “ơ” làm trong men rượu say (Trần Thoại Nguyên)

      Đất nước mình ngộ quá phải không anh (Trần Thị Lam)

      Những đôi mắt ngủ quên (Trương Đình Phượng)

      Con đường mới | Mở cửa (Trương Đình Phượng)

      Mưa lạnh trên đèo (Xuân Thao)

      Ân Tình Mẹ (Trần Kiêm Đoàn)

      Mùa Xuân Và Linh Hồn Mới (Trần Mộng Tú)

       

        Thơ Dịch:

       (Vietnamese Poetry translated into English)

       

      Đàm Trung Pháp & Viên Linh dịch và chú giải:

       

      Vịnh Hai bà Trưng (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)

      Ăn Cỗ Đầu Người (Nguyễn Biểu)

      Đoạt Sáo Chương Dương Độ (Trần Quang Khải)

      Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

      Thề Non Nước (Tản Đà)

      Thi Nhiệt (Lý Đông A)

      Vịnh Tranh Gà Lợn (Vũ Hoàng Chương)

      Gọi Hồn (Viên Linh)

       

      Huỳnh Sanh Thông dịch:

       

      Thăng Long (Nguyễn Du)

      Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du)

      Hồ Hoàn Kiếm (Vô Danh)

      Thăng Long Thành Hoài Cổ

       (Bà Huyện Thanh Quan)

      Chiều Hôm Nhớ Nhà (Bà Huyện Thanh Quan)

      Lên Đèo Hải Vân (Huỳnh Mẫn Đạt)

      Vịnh Bức Dư Đồ Rách (Tản Đà)

      Màu Tím Hoa Sim (Hữu Loan)

      Nhà tôi (Yên Thao)

      Sóng (Xuân Quỳnh)

      Hai Sắc Hoa Tigôn (T.T.Kh.)

       

      Lê Đình Nhất-Lang & Nguyễn Tiến Văn dịch:

       

      Cùng khổ (Bùi Chát)

      Hoa sữa (Bùi Chát)

      Bài thơ một vần (Bùi Chát)

      Đèn đỏ (Bùi Chát)

      Ai? (Bùi Chát)

      Những người đáng trọng & những kẻ đáng khinh

       (Lý Đợi)

       

      Các tác giả khác dịch:

       

      Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi (Nguyễn Đình Toàn)

       (Do Dinh Tuan dịch)

      Bữa Tiệc Hòa Bình (Nguyễn Thị Thanh Bình)

       (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

      Từ Một Cuốn Rún (Nguyễn Thị Thanh Bình)

       (Đinh Từ Bích Thúy dịch)

      Vì Người Ta Cần Ánh Mặt Trời (Nguyễn Đắc Kiên)

       (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

       

        Thơ Cổ:

       

      Cảnh Đẹp Thành Thăng Long Thời Tây Sơn Qua Thi Ca Đoàn Nguyễn Tuấn (Phạm Trọng Chánh)

      Chinh Phụ Ngâm diễn nôm, một dịch phẩm thần kỳ (Đàm Trung Pháp)

      Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào? (Trần Từ Mai)

      Đọc lại một số thi phẩm của Phan Châu Trinh (Phan Thành Khương)

      Nhất Chi Mai - Chất Người Muôn Thuở (Phan Trang Hy)

      Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

      Nguyễn Trãi Huyễn-Thực và Sắc-Không (Trần Ngọc Ninh)

      Quá Phong Khê, Một Bài Thơ Kỳ Tuyệt (Phạm Khắc Hàm)

      Giới thiệu Bài Thơ "Trừ Tịch" của Đặng Đức Siêu (Trần Từ Mai)

      Xuân Xưa Thơ Trước, Hồn Ngàn Mùa (Viên Linh)

      Bạch Đằng Giang Phú (Trương Hán Siêu)

      Thuật Hoài (Phạm Ngũ Lão)

      Thuật Hoài (Đặng Dung)

      Lâm Cảng Dạ Bạc (Nguyễn Trãi)

      Ngày Xuân Đọc "Đào Hoa Thi" của Nguyễn Trãi (Trần Uyên Thi)

      Thơ Lý Bạch (Đàm Trung Pháp)

       

        Thơ Tuyển:

       

      Khói Trắng (Kiên Giang)

      Lòng Mẹ (Nguyễn Bính)

      Tình yêu mẹ - Tình yêu con (Nguyễn Thu Hằng)

      Hẹn Anh Một Ngày Tái Ngộ (Ngô Minh Hằng)

      Những tháng tư buồn (Nguyễn Thị Hằng)

      Nỗi buồn tháng 4 (Huy Uyên)

      Khởi Hành (Trần Thúc Vũ)

      Quà Tặng Trong Chiến Tranh (Trần Mộng Tú)

      Mã Viện (tác giả: Vô Danh) (Nguyễn Văn Ngọc)

      Mẹ và sự lặng im (Trần Mộng Tú)

      Thơ Về Mẹ (Nhiều tác giả)

      Hai Chữ Nước Nhà (Trần Tuấn Khải)

      Đói (Bàng Bá Lân)

      Lời Mẹ Dặn (Phùng Quán)

      Nước Tôi (Nguyễn Văn Cổn)

      Thơ Tưởng Niệm Ngày 30 Tháng Tư (Nhiều tác giả)

      Thơ Tình Ngày Valentine (Nhiều tác giả)

      Kỷ Niệm Chiến Thắng Đống Đa (Hoàng Phong Linh)

      Thơ và Câu Đối Mừng Xuân (Nhiều tác giả)

      Quốc Nam, Quốc Việt (Hồ Bạch Thảo)

      Bài Thơ Vô Đề Viết Trong Trại Tù Tập Trung (Tú Kếu)

      Thơ Tưởng Niệm Các Anh Hùng Tử Sĩ ở Hoàng Sa (Nhiều tác giả)

      Bình Giảng: Đời Đáng Chán và Tống Biệt của Tản Đà (Thạch Trung Giả)

      Thơ Tiền Chiến (Nhiều tác giả)

      Tây Tiến (Quang Dũng)

      Đêm Liên Hoan (Hoàng Cầm)

      Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Cao Tiêu)

      Biên Cương Hành (Phạm Ngọc Lư)

      Thơ Xuân (Nhiều tác giả)

      Đồng Lầy (Nguyễn Chí Thiện)

      Ta Về (Tô Thùy Yên)

      Trường Sa Hành (Tô Thùy Yên)

      Kịch thơ: Hận Nam Quan (Hoàng Cầm)

       

        Tục ngữ (Proverbs)

       

      Tre già măng mọc

      Đục nước béo cò

      Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng

      Gà một mẹ đá nhau

       

        Danh Ngôn

        Đố vui (Puzzles)

       
       
  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)