|
|
|
|
|
VĂN HỌC |
GIAI THOẠI | TIỂU LUÂN | THƠ | TRUYỆN | THỜI LUẬN | NHÂN VẬT | ÂM NHẠC | HỘI HỌA | KHOA HỌC | GIẢI TRÍ | TIỂU SỬ |
Thơ Văn Trần Y. Hoa & Bằng hữu
Thơ Văn Trần Yên Hoà & Bằng hữu

“Cách tưởng nhớ có ý nghĩa nhất đến người thân yêu mới lìa đời là hãy sống tiếp, hãy đi tiếp con đường người ấy đang đi để thấy người mình thương yêu vẫn luôn ở bên mình, vẫn chưa bao giờ rời xa mình. Tôi tin là anh ấy cũng muốn thế ở chị.”
Tôi nhớ là đã nói như thế với chị Kim, người bạn đời của anh Cung Tích Biền, tối hôm qua. Tôi nghĩ nói những lời ấy tốt hơn là nói lời chia buồn, an ủi hay động viên tinh thần nào.
Thế nhưng, sau lúc chuyện trò với chị, tôi thấy những lời ấy cũng là thừa. Chị mạnh mẽ hơn tôi tưởng. Chị biết mình phải làm những gì. Ngày ngày, chị chăm lo cho anh từng miếng ăn, giấc ngủ và cả sức khỏe nữa. Chị cùng anh tham gia những buổi tập tành vận động và bơi lội để duy trì thể lực. Chị đồng hành cùng anh trong mọi chuyến đi xa gần, trong những lần họp mặt bạn hữu, trong mọi việc anh yêu thích và trong những dự án anh rắp tâm thực hiện.
“Có vài chuyện anh Biền và tôi đang làm dở dang, tôi phải làm nốt cho xong,” chị Kim nói.
Câu ấy nhắc tôi nhớ, hồi đầu năm anh Cung Tích Biền nói đang xúc tiến và cố gắng hoàn tất bộ Hồi Ký trong năm này. Tôi quên hỏi anh công trình ấy tới đâu rồi.
“Viết hồi ký không dễ chút nào,” anh than. “Cái khó là làm cách nào kể chuyện đời mình như kẻ ngoại cuộc.”
Tôi có cái vui là thuyết phục được anh bắt tay vào công việc dài hơi và khá tốn thì giờ ấy.
“Đấy sẽ là bộ sách quý được viết từ một ‘nhân chứng sống’ từng kinh qua bao giai đoạn lịch sử đầy biến động, bao thăng trầm nghiệt ngã của thời cuộc, là một tư liệu quý giá để lại cho đời.” Tôi nói với anh.
Thoạt đầu anh tỏ ý ngần ngại, tuy rất tâm huyết với dự tính này. Tôi hiểu, anh thường viết về người khác hơn là viết về mình. Anh có cái nhìn sắc bén, óc quan sát tinh nhạy. Tôi nhớ, trong bài anh viết về lần gặp nhà thơ Hữu Loan ở Sài Gòn có đoạn tôi rất thích. Đoạn anh “chiêu đãi trọng thể” nhà thơ một chầu cà phê, ăn sáng ở nhà hàng Givral.
Tác giả bài thơ “Màu tím hoa sim” cứ ngồi thừ mãi trước dĩa bánh mì pate thịt nguội, không biết ăn uống ra làm sao. Cung Tích Biền hiểu và anh ứng xử rất tài. Anh không chỉ vẽ cho ông thi sĩ cách ăn, cách dùng dao, nĩa để tránh cho ông không phải ngượng ngập. Anh dùng tay… bốc ăn để ông làm theo anh cho dễ, cho tiện. Anh muốn ông ăn ngon và ăn kiểu nào cũng được, miễn thấy ngon miệng. Anh viết như thế này:
Tôi gọi cho ông ly cà phê sữa, bánh mì vuông, một đĩa thịt nguội, patê, xúc xích. Tôi nhường ông ghế ngồi nhìn ra đường, quang cảnh góc đại lộ Lê Lợi và Tự Do để thấy “Sài Gòn nó to rộng thế đấy!” Bên kia là Continental, khách sạn thuộc loại cổ nhất Sài-gòn, Nhà Hát Tây, khách sạn Caravelle. Ông hết nhìn cảnh vật bên ngoài lại nhìn đĩa thịt nguội, chừng không muốn ăn. Tôi giục ông ăn chút gì kẻo đói bụng. Ông nói:
“Anh cho tôi nhìn một hồi đã. Bao nhiêu năm tôi mới thấy cái món lạ lùng này.”
Ông ăn một cách khó khăn, chừng từ lâu không quen với dao nĩa. Tôi bèn gọi một đĩa tương tự, rồi bốc mà ăn, ý hô hào ông cùng bốc mà ăn.
(“Nhà thơ Hữu Loan, lần gặp mặt”, Cung Tích Biền, 1987)
“Anh cho tôi nhìn một hồi đã. Bao nhiêu năm tôi mới thấy cái món lạ lùng này.”
Câu ấy làm người đọc là tôi muốn ứa nước mắt. Cung Tích Biền khi ấy cũng chẳng dư dả gì, nhưng anh sẵn sàng vét hết tiền túi ra thết đãi ông thi sĩ, người mà anh ngưỡng phục cả về tài thơ lẫn nhân cách lớn. Cách hành xử của Cung Tích Biền như tay hảo hán giàu nghĩa khí, cho thấy lòng quý trọng và cái tình thật của anh đối với nhà thơ. Ông Hữu Loan không chắc đã nghe đến tên một nhà văn miền Nam là Cung Tích Biền. Ông không biết “xử lý” thế nào cái món pate thịt nguội ấy. Ông không biết nhiều thứ. Ông như một ông già nhà quê, nhưng ông là nhà thơ lớn, một nhân cách đáng gờm mà nhiều người miền Nam, trong đó có Cung Tích Biền phải nghiêng mình.
Đôi lúc ngẫm lại, chuyện viết lách linh tinh của tôi chẳng cho tôi chút lợi nhuận nào, nhưng lại mang về cho tôi một thứ quý gấp nhiều lần, đó là những mối giao tình lý thú trong văn chương mà không có gì mua được. Nói như người xưa, có đốt đuốc đi tìm cũng không gặp được. Một trong những mối giao tình ấy kết thành cái duyên tri ngộ giữa anh Cung Tích Biền và tôi.
Chuyện là thế này, đọc được một bài tôi viết về con người và tác phẩm của Cung Tích Biền trên tạp chí văn chương mạng Da Màu năm 2010, anh Cung Tích Biền bèn nhờ nhà văn Thơ Thơ trong Ban biên tập Da Màu chuyển đến tôi cái thư qua email. Anh ngỏ ý muốn đưa bài ấy vào phần Phụ lục của Cung Tích Biền - Toàn tập, ấn hành “bán chính thức” ở trong nước. Trong thư phúc đáp tôi cám ơn anh tin cho hay và xin anh cứ tùy nghi, quý hồ việc ấy không gây phiền nhiễu nào cho anh. Từ đó, anh và tôi giữ mối dây liên lạc qua email cho đến ngày anh sang Mỹ. (*)
Nhớ, lần đầu chúng tôi gặp nhau trong quán cà phê Factory mà ngỡ như hai người bạn cũ, không chút gì bỡ ngỡ. Chúng tôi ngồi xuống, tiếp tục câu chuyện còn bỏ dở trong những email từ ngày anh còn ở trong nước.
Mối giao tình giữa hai chúng tôi có một vẻ kỳ lạ. Tôi thực sự không biết nhiều về anh nên khó gọi là thân thiết, nhưng giữa chúng tôi có nhiều cái thật gần gũi.
Tôi nhớ những lần anh chị lên chơi Seattle. Những lần họp bạn ở vuông sân lát gạch nơi vườn sau nhà anh chị Nguyễn Đức Quang, hay vườn sau nhà tôi, hay tầng hiên nhà anh chị Frank-Trần Mộng Tú, nhìn xuống mặt hồ tĩnh lặng của “dòng sông Thanh Thủy”, một vùng non xanh nước biếc như tranh thủy mặc. Có khi chỉ anh và tôi, ngồi ở một góc sân vườn hay một quán ăn, quán cà phê. Những lúc ấy cả hai đều không nói năng gì nhiều, hoặc có rất nhiều chuyện nói, hoặc chẳng có chuyện gì để nói cả.
Anh ít nói làm tôi cũng ít nói theo, chỉ vì không muốn… nói nhiều hơn anh. Chừng như những gì muốn nói với anh tôi đã nói hết cả rồi, đã viết xuống cả rồi. Thành thử cả hai đều “mặc áo Lặng Thinh”, nói như anh.
“Tận cùng của đồng cảm là thinh lặng.” Chị Kim nhắc cho chúng tôi nhớ câu cả anh và tôi đều tâm đắc.
Nếu có chút gì khác biệt giữa hai chúng tôi là anh thường lộ vẻ trầm tư kém vui, cho dù trong nhiều truyện của anh cho thấy anh có máu khôi hài lạnh, trong lúc tôi lại thích đùa.
Tôi nhớ buổi họp mặt và dùng bữa trưa ở nhà tôi trong dịp anh chị Cung Tích Biền lên chơi năm 2019, trước mùa Covid. Khi chụp tấm ảnh lưu niệm, tôi kê một dãy ghế, hàng trước ngồi, hàng sau đứng để không sót ai. Tấm ảnh trông có vẻ trịnh trọng được gửi đến anh chị sau đó với lời chú thích cũng trịnh trọng, “Các đại biểu nhân dân thành phố Seattle trong buổi tiếp đón trọng thể nhà văn Cung Tích Biền và phu nhân trong chuyến thăm và làm việc tại tiểu bang Xanh Hoài Ngàn Năm (Evergreen State)”.

“Đọc Cung Tích Biền như nhấm nháp từng ngụm cà phê đắng nghét”, tôi nhớ đã viết như vậy. Tôi còn viết thêm, “Truyện Cung Tích Biền tựa như bức tranh ảm đạm, u tịch, không ai muốn treo ở trong nhà mình.” Và còn viết thêm, “Thành thực mà nói, tôi không thích truyện Cung Tích Biền lắm. Không thích, nhưng vẫn đọc. Đọc rồi, vẫn… không thích.” Lạ một điều, viết thế mà anh lại chịu. Tôi nghĩ bụng, có lẽ vì anh ít khi được ai “chê” như vậy.
Văn anh ngồn ngộn, ăm ắp những ý tưởng, nhưng những câu, chữ thì lại ngắn gọn đến không thể ngắn gọn hơn. Ý nào ra ý nấy, không thừa thãi, màu mè. Những câu văn như những vết khắc bén, ngọt, vừa đủ sâu, chắc tay, không quá đà. Không ngạc nhiên anh từng nói về kỹ thuật viết truyện ngắn như công việc của một nhà điêu khắc.
Anh có dáng trầm tư của một đạo sĩ, lại thêm mớ tóc trắng phiêu bồng. Ít ai ngờ rằng, phía sau giọng văn sắc, lạnh ấy, phía sau vẻ mặt tỉnh queo, đôi mắt ráo hoảnh ấy là trái tim nóng ấm và giàu cảm xúc.
Tôi gặp ở anh một con người thật đặc biệt, một cá tính thật mạnh mẽ. Những con người như thế không có nhiều, ta không mấy khi gặp được. Không như những dạng người ta vẫn gặp gỡ phất phơ đâu đó trong đời này, trông như những viên đá cuội tròn trĩnh, trơn nhẵn. Cầm lên cũng thấy thích đó, nhưng không lâu lại bỏ xuống, rồi quên mất. Những con người phơn phớt, nhàn nhạt.
Nghĩ lại, hầu như rất hiếm khi chúng tôi nói chuyện với nhau về văn chương. Chỉ một đôi lần.
“Trước sau tôi vẫn cho Cung Tích Biền là một trong những tác giả viết truyện về chiến tranh hay nhất,” tôi nhớ từng nói với anh.
Anh hỏi những tác giả kia là ai, tôi nói tên một vài người.

“Anh viết gì thì viết,” tôi nói, “tôi vẫn thích nhất hai truyện. Truyện ‘Ngoại ô, Dĩ An và linh hồn tôi’ và truyện ‘Thằng Bắt Quỷ’.”
“Vậy là những truyện sau không vượt qua được hai truyện ấy?” anh hỏi.
“Không hẳn là vậy,” tôi nói, “ý tôi chỉ là hai truyện ấy, một truyện viết trong chiến tranh và một truyện viết sau chiến tranh tiêu biểu cho hai ‘cột mốc lịch sử’ chôn chặt ở trong lòng người Việt.”
Anh lộ vẻ trầm ngâm. Lát sau anh thốt lên câu chẳng ăn nhập gì đến câu chuyện.
“Tôi thích cái màu nắng vàng tươi ở Seattle này.”
Seattle là “Thành phố mưa”, chẳng ai tới đây để ngồi nhìn nắng. Anh đúng là Cung Tích Biền thật.
Lần sau cùng nói chuyện với anh, cách đây hơn một tháng, nhân chị Kim gửi tôi xem tấm ảnh mới nhất của anh. Anh có gầy đi nhưng da dẻ vẫn tươi tắn, vẫn tóc trắng phiêu bồng, áo dài tay màu đỏ tươi, cặp mắt kính tròn trong veo.
“Trông anh vẫn phong độ chán,” tôi nói.
“Ngó vậy mà không phải vậy,” anh nói, “cũng rệu rạo nhiều. Đọc bài anh viết về cái chết, chắc tôi cũng phải ‘về thu xếp lại’ vì vốn liếng thời gian chẳng còn được bao nhiêu.”
Tôi không rõ anh đã thu xếp được tới đâu, hoặc anh chẳng thèm thu xếp chi cả. Tới đâu hay tới đó, như anh vẫn có những lúc “liều mạng” từ khi còn ở trong nước. Anh vẫn không bỏ dở những việc đang làm, vẫn cố gắng hoàn tất những việc cần làm, mà những việc ấy thì chẳng bao giờ cạn.
“Viết, để biết mình còn thở.” Hơn lúc nào hết tôi nhớ câu anh viết trong những thư gửi tôi.
Anh Cung Tích Biền không viết nữa, anh đã ngừng viết. Tôi chưa bao giờ nghĩ anh sẽ ngừng viết cả, với sức làm việc không mệt mỏi ở tuổi anh. Nhưng không hề chi, người bạn đời của anh, người bạn đồng hành của anh từ bao năm nay vẫn đi tiếp, đi nốt con đường của anh. Chị cũng sẽ hoàn thành những tâm nguyện của anh, sẽ hoàn tất những dự tính còn dở dang của anh, trong đó có những tác phẩm, những sách anh sẽ còn gửi lại cho đời. Và người đọc yêu mến anh như chúng tôi vẫn được đọc anh như thể anh luôn ở bên chúng tôi, như thể anh chưa khi nào rời xa chúng tôi.
Anh Cung Tích Biền hay nói về “Rỗng”. Anh có vẻ yêu cái “Rỗng”. Có rất nhiều “Rỗng” trong truyện Cung Tích Biền. Rỗng với anh là trống trơn, là phơi phới, là thênh thang. Rỗng với anh cũng là nhẹ tênh, là rũ bỏ hết, không giữ lại thứ gì.
Anh Cung Tích Biền, anh đã rỗng tênh, anh đã thoát được ra ngoài “vùng phủ sóng của cái xã-hội-mang-nhãn-hiệu-người”, như cách nói của anh. Tôi muốn gửi đến anh lời chúc lành cho cuộc hành trình mới mẻ và nhiều hứng thú này. Xin chúc mừng anh thực hiện được giấc mơ anh từng bộc lộ trong truyện “Thằng Bắt Quỷ” là mơ được “hòa tan cùng giấc mộng rỗng không”.
Lê Hữu
(*) “Cung Tích Biền, giấc mộng rỗng không”:
https://damau.org/11331/cung-tich-bien-giac-mong-rong-khong
- Cung Tích Biền và giấc mộng rỗng không Lê Hữu Tưởng niệm
- Về miền Vĩnh Phúc Lê Hữu Phiếm luận
- Tiếng đàn Văn Cao, tiếng hát Trương Chi Lê Hữu Tưởng niệm
- Từ “Áo lụa Hà Đông” đến “Tám phố Sài Gòn” Lê Hữu Tưởng niệm
- Xuân Phai Lê Hữu Truyện ngắn
- Hoài Khanh và bài thơ “Ngồi lại bên cầu” Lê Hữu Tưởng niệm
- Năm Ngọ, nói chuyện Hoàng Thị Ngọ Lê Hữu Tản mạn
- Những ngựa và người đi qua đời tôi Lê Hữu Phiếm luận
- Chúa sẽ đến trong đêm nay Lê Hữu Truyện ngắn
- Xem Tranh, Nhớ Người Lê Hữu Tưởng niệm
• Cung Tích Biền và giấc mộng rỗng không (Lê Hữu)
• Cung Tích Biền Viết Trong Thời Khói Lửa (Liễu Trương)
• Nhà văn Cung Tích Biền vừa qua đời tại Mỹ (Nguyễn Viện)
• Cung Tích Biền Những Năm 2000 (Nguyễn Vy Khanh)
• Những cô Mơ Bay trong truyện Cung Tích Biền (Lê Hữu)
“Đành lòng sống trong phòng Đợi của lịch sử” (Lý Đợi)
Nói chuyện với Cung Tích Biền: kỳ 1, kỳ 2 (Đặng Thơ Thơ)
Cung Tích Biền: Bơ vơ cái dấu chấm buồn lạnh . . . (Trịnh Y Thư)
Cung Tích Biền, giấc mộng rỗng không (Lê Hữu)
Cung Tích Biền, giữa hai lằn đạn (Vương Trùng Dương)
• Giá rai, đã có những ngày như thế
(Cung Tích Biền)
• Đời Ngửi Khói (Cung Tích Biền)
• Ông Dương, Ông Đã Về Trời (Cung Tích Biền)
• Gặp Mặt Anh Em Văn Nghệ Miền Trung
(Cung Tích Biền)
Bài viết trên mạng:
• Cung Tích Biền và giấc mộng rỗng không (Lê Hữu)
• Cung Tích Biền Viết Trong Thời Khói Lửa (Liễu Trương)
• Nhà văn Cung Tích Biền vừa qua đời tại Mỹ (Nguyễn Viện)
• Lãm Thúy – Với những nỗi ngậm ngùi còn nguyên (Phạm Văn Nhàn)
• Tiễn Đưa Nhà Thơ Lãm Thúy (1952-2026) (Ngôn Ngữ)![]()
Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)
Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng, Quyển Hạ
Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)
Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)
Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)
Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)
Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):
Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)
Sách Xưa (Quán Ven Đường)
Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)
(Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)
Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)
Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)
Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?
(Trùng Dương)
Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)
Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục
Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến
Đặng Tiến
20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975
Nguyễn Văn Lục
Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)
Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)
Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)
Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)
Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)
Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)
Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)
Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)
Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)
Dương Quảng Hàm (Viên Linh)
Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)
Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)
Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)
Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)
Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)
Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)
Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn
Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)
Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)
Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)
Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)
Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)
Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)
Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh
(Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)
Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)
Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn
Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)
Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An
Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)
|
© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com) |