1. Head_

    Thanh Tâm Tuyền

    (13.3.1936 - 22.3.2006)

    Trường Kỳ

    (29.3.1946 - 22.3.2009)
    Ad-25-TSu-2301360532 Ad-25-TSu-2301360532

     

     

    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Hoài Khanh và bài thơ “Ngồi lại bên cầu” (Phạm Ngọc Lư) Ad-21 Ad-21 (Google - QC3) (Học Xá)

      22-3-2026 | VĂN HỌC

      Hoài Khanh và bài thơ “Ngồi lại bên cầu”

       
       
       LÊ HỮU
      Share File.php Share File
          

       


          Nhà thơ Hoài Khanh
          13.6.1934 - 23.3.2016
           (Ảnh: Bùi Thuận)

      Nhớ lời một bài hát bao giờ cũng dễ hơn nhớ lời một bài thơ, nhờ lời ca ý nhạc sánh đôi nhau. Giai điệu bài hát khi cất lên chở theo câu hát, vọng vào tai khiến dễ nhớ dễ thuộc. Thơ thì chịu, ngoại trừ những bài thơ được phổ nhạc thành bài nhạc hay. Tôi ít khi nhớ được trọn bài thơ nào là vì vậy, thường thì chỉ nhớ được một đôi câu hay hay trong một bài thơ nào.


      Vậy mà, có một bài thơ đến nay tôi vẫn thuộc làu làu. Thứ nhất, đấy là bài thơ được nhiều người yêu thích đến độ thuộc cả bài thơ. Thứ hai, bài thơ có chút duyên nợ, đến với tôi trong hoàn cảnh khá đặc biệt và ở lại với tôi khá lâu.


      Chuyện như thế này, khoảng năm 1980, khi ấy tôi đang nằm bẹp trong trại “tù cải tạo” A 30, Tuy Hòa. Trong phòng giam nhốt chung khoảng 50 con người có một số giáo chức biệt phái, là các thầy giáo cũng nhập ngũ theo lệnh tổng động viên nhưng sau thời gian thụ huấn tại các quân trường được cho về dạy học lại ở trường cũ. Trong số ấy có một anh tên Tâm, nằm gần tôi, nước da đen bóng như người Chàm, là thầy giáo dạy môn Việt văn. Anh chàng vui tính, dễ hòa đồng với mọi người, đặc biệt là rất thích ngâm nga thi phú những khi chỉ có bạn tù với nhau, không ai rình rập. Giọng ngâm ồm ồm, nghe tàm tạm, cũng đỡ buồn và cũng không ai phản đối. Có một bài được anh ngâm đi ngâm lại và tôi nghe tới nghe lui, nghe mãi nghe hoài, nghe riết đến... thuộc lòng. Bài thơ tên “Ngồi lại bên cầu” của Hoài Khanh.


      Bài thơ, bị nhốt chung với chúng tôi như những người bạn cùng chung cảnh ngộ, lâu ngày trở nên thân thiết.


      Bài thơ lại quen quen, tôi nhớ từng nghe trong một chương trình Thi văn Tao Đàn hay Thi nhạc giao duyên của đài phát thanh Sài Gòn qua một giọng ngâm nào và trong trí nhớ vẫn còn đọng lại hai câu thơ cuối.


      Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng,

      nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu


      Nay thì người bạn tù này cho tôi gặp lại, nghe lại trọn bài thơ ấy. Hai câu thơ ngày trước nghe đã ngậm ngùi, nay lại thêm chạnh lòng. Tôi chắc, cũng như tôi, những người bạn tù của tôi khi ấy, sau cuộc đổi đời choáng váng và sau khi đã trắng tay, đã mất sạch sành sanh mọi thứ, nghe câu thơ ấy không khỏi cám cảnh cho thân phận tù đày của mình mà... tiếc thương dĩ vãng.


      Người bạn tù này hẳn cũng thế thôi, hoặc có tâm sự gì nữa chăng thì tôi không rõ.


      “Anh không mặc áo lính ngày nào sao lại phải vào tù cải tạo?” tôi hỏi Tâm.


      “Chính vì không mặc áo lính mới bị khép tội nặng. Họ gọi những giáo chức biệt phái chúng tôi là CIA.”


      “Chà, thế thì căng đấy. Thôi chịu khó ‘ngồi lại bên cầu’ lâu lâu, cho đến khi nào họ hiểu ra ‘biệt phái’ nghĩa là gì.” Tôi nói đùa.


      Tuy vậy anh ta cũng chẳng lấy thế làm buồn. Trong lúc tôi ngụp lặn “nín thở qua sông” thì anh cũng dập dềnh “trôi theo dòng đời”, ai sao ta vậy, tới đâu thì tới.


      Ấy vậy mà người phải “ngồi lại bên cầu” lại là tôi chứ không phải anh. Anh về giữa năm thì tôi về cuối năm, và bài thơ ấy cũng theo tôi ra khỏi tù.



         Bìa thi tập Thân phận, tái bản lần thứ 6

      Về sau này, khi gặp lại bài thơ trong thi tập Thân Phận của Hoài Khanh (Nxb CaDao in lần thứ ba, 1972), tôi lại nhớ đến người bạn tù không biết lưu lạc nơi đâu và cũng phục anh có “bộ nhớ” khá tốt vì anh gần như thuộc trọn bài thơ, chỉ một vài chỗ hơi khác.


      Tôi lẩn trốn vì biết mình không thể

      Mây của trời rồi gió sẽ mang đi


      Câu đúng trong bản in là “... vì thấy mình không thể”.


      “Biết” và “thấy”, hai chữ ấy có khác nghĩa nhau một chút trong câu thơ. Cho dù chữ đúng là “thấy”, tôi vẫn chịu chữ “biết” hơn, nghe hay hơn và cũng “thơ” hơn. (Một vài phiên bản bài thơ trên trang mạng ghi là “… vì biết mình không thể”).


      Ở một chỗ khác, anh bạn tù ấy ngâm nga,


      Em – thì vẫn nụ cười xanh mắt biếc

      Mầu thơ ngây trên suối tóc la đà


      “Mầu thơ ngây”, tôi không rõ anh lấy chữ ấy ở đâu. Câu đúng trong bản in là “Mầu cô đơn trên suối tóc la đà”. Anh bạn nhớ lầm, hoặc cố ý đổi thành “thơ ngây” cho phù hợp với “người em gái” có “nụ cười xanh mắt biếc” trong câu thơ trước chăng? Tôi không rõ, có điều tác giả bài thơ lặp lại hai lần chữ “cô đơn” trong hai đoạn thơ liền nhau, ít thấy ở những người làm thơ trừ khi muốn làm nổi bật ý nào đó.


      Ở một chỗ khác, anh bạn tù ngâm nga,


      Rồi em lại ra đi như đã đến

      Dòng sông kia vẫn cứ chảy sa mù


      Câu đúng trong bản in là “Dòng sông kia cứ vẫn chảy xa mù”.


      “Sa mù” và “xa mù”, hai chữ ấy khác nghĩa nhau. “Xa mù” gợi tả khoảng cách xa xăm, mờ mịt của dòng sông trôi mãi tận nơi đâu, trong lúc “sa mù” vẽ lên hình ảnh dòng sông mờ ảo, lặng lẽ trôi đi trong màn sương dày đặc của ký ức đầy hoài niệm. (Một vài phiên bản bài thơ trên trang mạng ghi là “… vẫn cứ chảy sa mù”).


      Câu thơ hiểu cách nào thì cũng là hiểu, miễn thấy thích, thấy hay là được.


      Cả bài thơ cũng vậy, hiểu cách nào thì cũng là hiểu, như khi ta nhìn ngắm bức tranh đẹp, thấy đẹp thấy thích thì gọi là đẹp. “Ngồi lại bên cầu” là bài thơ dễ cảm, dễ làm người đọc, người nghe cảm thấy hay mà không phải diễn giải, bình phẩm cái đẹp cái hay như thế nào.


      Đôi lúc chỉ yêu một vài câu thơ cũng đủ để yêu một bài thơ và đủ để gọi là bài thơ hay. “Ngồi lại bên cầu” là bài thơ như thế.


      Với những ai yêu thơ Hoài Khanh, “Ngồi lại bên cầu” hẳn là bài thơ được nhắc tên nhiều nhất. “Hoài Khanh, Ngồi Lại Bên Cầu”, cũng tựa những “Thâm Tâm, Tống Biệt Hành” hay “Nguyên Sa, Áo Lụa Hà Đông” hay “Tô Thùy Yên, Ta Về”... Các thi sĩ này làm thơ nhiều, trong số ấy có nhiều bài thơ hay, thế nhưng người ta vẫn nhắc tên bài thơ như gắn liền tên người thi sĩ.


      Điều lạ, nhiều người vẫn cho rằng sở trường của Hoài Khanh là thơ lục bát hơn là những thể thơ nào khác; thế nhưng, bài thơ được yêu thích nhất ấy lại không phải bài lục bát.


      Trong số những người yêu thích bài thơ này có nhà văn Trần Phong Giao, Thư ký tòa soạn tạp chí Văn, Sài Gòn, từng viết bài nhận định về tập thơ Thân phận của “nhà thơ trẻ tuổi Hoài Khanh” trên nhật báo Tự Do, Sài Gòn (6/1962). Ông đã đặt tên cho tập truyện ngắn của mình là Ngồi lại bên cầu (1965) và bên dưới cái tựa truyện ngắn cùng tên là hai câu thơ cuối của bài thơ này.


      Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng,

      nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu


      “Hoang vu”, chữ ấy có hơi sáo nhưng trong câu thơ này thì thật khó tìm chữ nào hay hơn và “tâm trạng” hơn (chữ dùng trong nước).


      Tôi nhớ, khi nghe anh bạn tù ngâm nga mãi câu thơ “tâm đắc” ấy tôi đã đùa, đổi thành “Nghe giữa hồn cây cỏ mọc... linh tinh” (“Linh tinh lang tang”, phát âm “ninh tinh, nang tang”, là chữ “mới”, học được ở trong tù). Anh bạn chỉ cười.


      Tôi cũng để ý, nhà thơ dùng những chữ “hoang vắng”, “hoang sơ” và “hoang vu” trong bài thơ này. Có vẻ những chữ “hoang” ấy theo chân Hoài Khanh suốt những chặng đường thơ. Nhiều nhất vẫn là “hoang vu”, rải đầy trong những bài thơ ông. Một tập truyện ngắn của Hoài Khanh cũng được ông đặt tựa là Trí nhớ hoang vu và khói (1970).


      Những “hoang vu”, “hư vô”, “hư ảo”, “phù sinh”, “trầm luân”… ấy không rõ có là những thi ngữ thời thượng, chỉ thấy đầy rẫy trong những trang “Thơ hôm nay”, tên gọi vào thời ấy. Trước đó, Nguyễn Vỹ, nhà thơ và Chủ nhiệm tạp chí Phổ Thông, đặt tựa Hoang vu (1962) cho một thi tập của mình. Hoặc, Nguyễn Xuân Hoàng, nhà văn và Thư ký tòa soạn tạp chí Văn, chọn bút danh “Hoang Vu” cho những bài thơ của mình. Hoặc, Phạm Công Thiện, một “bạn thơ” của tác giả Thân phận, không chỉ “hoang vu” trong những bài lục bát mà còn muốn Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất (1988) trong những chương sách về sau này. Có vẻ nhìn quanh, đâu cũng chỉ thấy toàn những hoang vu, hoang lạnh như câu hát của Trịnh Công Sơn,


      Rồi một hôm, chợt thấy hoang vu quanh mình(Vết lăn trầm)


      Hoài Khanh có cách khác diễn đạt khác, ông không nói “hoang vu quanh mình”.


      Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu, rồi sao nữa? Dấu chấm hết ở đấy. Dòng sông vẫn chầm chậm trôi đi; nỗi buồn thì đọng lại, vướng vất, không trôi đi được.



          Nguyễn Văn Nho, Hoài Khanh, 7/4/2013

      Cả bài thơ như được phủ lên màn sương âm u, như toát lên nỗi cô đơn sâu thẳm đến cùng tận.


      Có không ít những bài thơ âm u, lạnh lẽo như thế trong Thân phận.

      Linh hồn ta mấy mươi mùa của suối

      Lạnh vô cùng không biết tự phương nao

      . . .

      Rồi thôi hết đất sẽ là vĩnh viễn

      Bông hoa kia nở trên xứ điêu tàn

      Tay yếu đuối ta sẽ còn nắm lại

      Những lời gì xưa đã hết âm vang

      (Xin chào Đà Lạt)

      Những câu thơ như báo trước một ngày sẽ đến, ngày “đất sẽ là vĩnh viễn” và “những lời gì xưa đã hết âm vang”.


      Những câu thơ như vẽ lên một không gian u tịch, vẽ lên cái “hình ảnh bi đát của Đời, của con người, của một kẻ bị đày giữa bãi đất hoang tàn của nghĩa địa trần gian”, nói như nhà thơ Phạm Công Thiện (1)


      (“Xin chào Đà Lạt” – Hoài Khanh, Nguyễn Văn Nho, 7/4/2013)
      https://www.youtube.com/watch?v=RH1-JLD9lL0

      Hoài Khanh, trong video clip ấy là một nhân dáng còm cõi, tóc bạc phơ phơ, nụ cười hiu hắt. Đôi vai co lên, đầu, cổ rũ xuống. Thật hiếm thấy một vẻ buồn nào đến vậy.


      Nhân dáng ấy, vẻ buồn ấy không làm tôi chạnh lòng bằng khi đọc bài Trần Yên Hòa kể chuyện tìm thăm Hoài Khanh ở Biên Hòa nhân chuyến về thăm nhà, đúng một tháng trước ngày nhà thơ qua đời, mang đến chút quà và thư thăm hỏi của Thành Tôn, người bạn thiết của nhà thơ.

      “Căn phòng rộng nhưng tối mờ mờ. Tôi nhìn vào thấy một chiếc giường rộng, có một người đang nằm trên chiếc nệm mỏng. Người bệnh đắp phủ cái mền lên trùm cả mặt nên tôi chỉ thấy trên giường như có một vật gì đang cọ quậy. Tôi đứng lại gần đầu giường. Người con trai nói ‘Ba tôi đó,’ rồi anh kêu ‘Ba, Ba, có người tới thăm’.


      Chiếc mền phủ trên người của Hoài Khanh được mở ra với bàn tay run run. Một cái đầu tóc dài và bạc, gương mặt choắt, đôi mắt thì nhắm khít như mở không ra nổi...


      Tôi trao quà cho người con trai và đưa tờ giấy của nhà thơ Thành Tôn có viết mấy dòng chữ. Người con đọc cho ông nghe. Tôi thấy mắt ông chớp chớp như khóc. Có giọt nước mắt lăn xuống gò má đã hóp, nhăn nheo.


      Nhìn anh nằm đây trong căn phòng này, suốt hơn ba năm như vậy, trông thật não lòng, nhất là với một nhà thơ, với bao suy nghĩ về cuộc đời, về thân phận con người...


      Tôi cúi xuống lồng tay vào trong mền, cầm tay anh, một bàn tay khẳng khiu và rất lạnh.”

      (“Thăm gặp Hoài Khanh, lần đầu, lần cuối” – 24/3/2016)

      Chỉ có thế, một người từng yêu mến ông, từ phương xa tìm đến thăm ông, chỉ để nắm được bàn tay ông, “một bàn tay khẳng khiu và rất lạnh”.


      Hoài Khanh, người thi sĩ với nhiều bài thơ được nhiều người yêu mến, nhắc tên. Rồi sao nữa? Rồi chung cuộc là những năm cuối đời, những năm nằm bẹp trên giường bệnh chờ ngày rời bỏ thế gian này trong hiu quạnh.


      Tôi nghĩ đến cái tựa của thi tập ấy, nghĩ đến những thân phận bọt bèo, nhỏ nhoi của kiếp người. Tôi nghĩ đến những năm ông nằm đó, trên giường bệnh đó. Ông nghĩ gì, nhớ gì? Liệu ông có còn nhớ về những gì là “mây của trời rồi gió sẽ mang đi”, những gì “lại ra đi như đã đến” trong đời mình như câu thơ trăn trở ấy?


      Nhà văn, nhà thơ Trần Yên Hòa thăm gặp ông lần đầu, lần cuối. Tôi chưa được gặp ông lần nào, họa chăng chỉ có gặp trong thơ ông. Tôi, và không ít người, cũng đôi ba lần gọi là ngồi lại bên cầu, cũng tiếc thương dĩ vãng, cũng nhìn nước đi đi mãi không về. Nói như cách người ta vẫn nói, nhiều người tìm thấy mình trong thơ ông.


      “Ngồi lại bên cầu”, bài thơ mênh mang như nước sông mênh mang chở theo những hoài niệm đẹp và buồn. (2)


      “Ngồi lại bên cầu” không phải là bài thơ để hát, để lấy thơ ghép nhạc. Giọng thơ u uẩn, khắc khoải ấy không phổ vào nhạc được và chỉ làm người nghe quay về với bài thơ.


      “Ngồi lại bên cầu” là bài thơ để nghe, nghe từ một giọng đọc, giọng ngâm. Những giọng ngâm nga vời vợi hòa quyện những thanh âm réo rắt của tiếng sáo trúc, tiếng đàn bầu, đàn tranh là thoáng dư âm của một mùa nào đã vắng xa. Một lần được nghe lại là một lần được về thăm lại những bến sông xa, nhìn nước sông trôi êm đềm, nhìn nỗi buồn trôi đi chầm chậm dưới chân cầu sóng vỗ".


      Lê Hữu


      (1) Phạm Công Thiện, “Nỗi cô đơn của Hoài Khanh”, lời tựa trong Thân phận, thi tập của Hoài Khanh, Nxb CaDao, Sài Gòn, 4/1962

      (2) Ngồi lại bên cầu


      Người em gái trở về đây một bận

      Con đường câm bỗng sáng ánh diệu kỳ

      Tôi lẩn trốn vì thấy mình không thể

      Mây của trời rồi gió sẽ mang đi


      Em – thì vẫn nụ cười xanh mắt biếc

      Mầu cô đơn trên suối tóc la đà

      Còn gì nữa với mây trời đang trắng

      Đã vô tình trôi mãi bến sông xa


      Thôi nước mắt đã ghi đời trên đá

      Và cô đơn đã ghi dấu trên tay

      Chân đã bước trên lối về hoang vắng

      Còn chăng em nghĩa sống ngực căng đầy


      Quá khứ đó dòng sông em sẽ ngủ

      Giấc chiêm bao nguyên vẹn có bao giờ

      Ta sẽ gặp trong ý tình vũ bão

      Con thuyền hồn trở lại bến hoang sơ


      Rồi em lại ra đi như đã đến

      Dòng sông kia cứ vẫn chảy xa mù

      Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng

      Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu.

      (Thân phận, CaDao in lần thứ ba, 1972)

      Lê Hữu

      Nguồn: Tác giả gởi

      Ad-22-A_Newest-Feb25-2022 Ad-22-A_Newest-Feb25-2022


      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Hoài Khanh và bài thơ “Ngồi lại bên cầu” Lê Hữu Tưởng niệm

      - Năm Ngọ, nói chuyện Hoàng Thị Ngọ Lê Hữu Tản mạn

      - Những ngựa và người đi qua đời tôi Lê Hữu Phiếm luận

      - Chúa sẽ đến trong đêm nay Lê Hữu Truyện ngắn

      - Xem Tranh, Nhớ Người Lê Hữu Tưởng niệm

      - Tìm con nơi Thiên Đường Lê Hữu Phóng tác

      - Hoa anh đào nở rộ Lê Hữu Phóng tác

      - Nhạc Việt miền Nam, di sản văn hóa bất diệt của chính thể Việt Nam Cộng Hòa Lê Hữu Khảo luận

      - Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, “người lính già không bao giờ chết” Lê Hữu Nhận định

      - Ngày xuân, dạo chơi Phố Ông Đồ Lê Hữu Tản văn

    3. Bài Viết về nhà thơ Hoài Khanh (Học Xá) Ad-31 Ad-31 = QC_250-250 (Học Xá)

       

      Bài viết về Hoài Khanh

       
      Cùng Tác Giả (Link-1)

      Hoài Khanh và bài thơ “Ngồi lại bên cầu” (Lê Hữu)

      Thân Phận Thi Phẩm Của Hoài Khanh (Trần Phong Giao)

      Đi Vào Cõi Thơ Hoài Khanh (Bùi Giáng)

      Gió Bấc Trẻ Nhỏ Đóa Hồng và Dế, khúc hát nao lòng (Nguyễn Lệ Uyên)

      Hoài Khanh, "Một Đời Nghe Gió Thổi Hoài" (Hải Phương)

      Hoài Khanh và Thân Phận (Phạm Ngọc Lư)

      Văn Nghệ Đất Sống, Mỗi Tuần Một Khuôn Mặt: Hoài Khanh (T.H.L)

      Nỗi Cô Đơn của Hoài Khanh (Phạm Công Thiện)

      Đọc Thân Phận của Hoài Khanh (Đặng Tiến)

      Thơ Lực Bát Hoài Khanh (Tuệ Sỹ)

      Người thi sĩ đi tìm lại nguồn cội của một dòng sông 

      (Thích Phước An)

      Gặp lại Hoài Khanh (Đỗ Hồng Ngọc)

      Hoài Khanh, từ “Thân Phận” đến “Lục Bát”

       (Nguyễn Mạnh Trinh)

      Tiểu sử và tác phẩm (sachxua.net)

      Chủ Đề Đặc Biệt: Viết Về Hoài Khanh (TQBT tập 24)

       

      Tác phẩm của Hoài Khanh

       
      Cùng Tác Giả (Link-2)

      Vài Dòng Về Từ Thế Mộng (Hoài Khanh)

      Thơ Hoài Khanh (blog tranhoaithu)

      30 bài thơ (luanhoan.net)

       

      Bài Viết về Văn Học (Học Xá)

       

      Bài viết về Văn Học

        Cùng Mục (Link)

      Hoài Khanh và bài thơ “Ngồi lại bên cầu” (Lê Hữu)

      Những mảnh hồn Vijaya dưới bóng tháp Chàm (Nguyễn Đông A)

      Ở Quy Nhơn – Nghe lịch sử thở dưới làn gió biển (Nguyễn Đông A)

      Nguyễn Viện: Tiểu thuyết “Có những kẻ đi mãi không về” – Cuộc trốn chạy trong mê cung Lịch sử (Trịnh Y Thư)

      Nhớ Về Iran: Một Thời Từ Bi, Thơ Mộng (Phan Tấn Hải)


       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

       

      Văn Học Miền Nam (Học Xá) Văn Học (Học Xá)

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Danh Mục Tác Giả: Cùng Chỉ Số (Link-2) Aí Điểu,  An Khê,  Andrew Lâm,  Andrew X. Phạm,  Au Thị Phục An,  Bà Bút Trà,  Bà Tùng Long,  Bắc Phong,  Bàng Bá Lân,  Bảo Vân,  Bích Huyền,  Bích Khê,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Bích Hà,  

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)