1. Head_

    Nguyên Sa

    (1.3.1932 - 18.4.1998)
    Ad-25-TSu-2301360532 Ad-25-TSu-2301360532

     

     

    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Từ “Áo lụa Hà Đông” đến “Tám phố Sài Gòn” (Lê Hữu) Ad-21 Ad-21 (Google - QC3) (Học Xá)

      18-4-2026 | VĂN HỌC

      Từ “Áo lụa Hà Đông” đến “Tám phố Sài Gòn”

        LÊ HỮU
      Share File.php Share File
          

       

      Nguyên Sa qua nét vẽ Tạ TỵNguyên Khai

      “Tôi thích được giới thiệu bằng cách đọc lên một bài thơ Nguyên Sa,” nhiều người vẫn nhắc câu nói ấy của nhà thơ Nguyên Sa khi ông còn tại thế. (1) Tôi tin là ông cũng muốn được tưởng nhớ bằng cách ấy, đọc lên một bài thơ Nguyên Sa, sau ngày ông rời bỏ cõi đời này.


      Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông


      Gần đây, trong những lúc nói chuyện với nhóm bạn yêu thơ phú, tôi hay đặt câu hỏi, “Nếu chọn để đọc lên một bài thơ của Nguyên Sa, anh/chị sẽ đọc bài nào?” và ghi nhận được đôi điều thú vị từ những câu trả lời. Thứ nhất, những bài được chọn đều là thơ tình và hầu hết nằm trong thi tập Thơ Nguyên Sa đầu tiên (sau này gọi là Thơ Nguyên Sa, Tập Một). Thứ hai, nhiều người chọn giống nhau một bài thơ. Thứ ba, có người không nhớ tên bài thơ, nói “Tôi chọn bài gì có câu thơ Hãy biến cuộc đời thành những tối tân hôn”. Thứ tư, bài thơ được chọn nhiều nhất là bài “Áo lụa Hà Đông”.


      Cuộc “trắc nghiệm” này cho thấy không người yêu thơ nào mà không biết ít nhất một bài thơ hoặc câu thơ nào của Nguyên Sa. Không ngạc nhiên khi “Áo lụa Hà Đông” là bài thơ được yêu chuộng nhất. Những người chọn bài thơ này bật ra ngay tên bài thơ trong lúc người chọn bài khác thường do dự, ngần ngừ ít giây. “Áo lụa Hà Đông” là bài thơ quen thuộc nhất với người yêu thơ Nguyên Sa, nằm ngay trên trang thơ đầu của thi tập Thơ Nguyên Sa, Sáng Tạo xuất bản năm 1958. Bài thơ nằm im lìm trong thi tập, đến năm 1969 được gắn cho đôi cánh nhạc, từ dạng “tĩnh” chuyển sang “động”, bay ra khỏi trang thơ đến với người yêu nhạc (nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phổ thành bài nhạc cùng tên). Bài nhạc phổ thơ được phổ biến rộng rãi, nhiều người hát nhiều người nghe, trình diễn trên những sân khấu ca nhạc. Trong các cuộc thi hoa hậu chẳng hạn, cứ đến tiết mục thi áo dài truyền thống là ban nhạc lại trổi lên bài “Áo lụa Hà Đông”. Bài thơ chuyển thể thành bài hát, câu thơ thành câu hát. Người nghe vừa nghe nhạc, vừa nghe thơ, tuy người nhạc sĩ không phổ trọn bài thơ. Có thể nói đây là bài thơ được “nghe” nhiều nhất của Nguyên Sa.


      Khi đặt câu hỏi với các bạn mình, tôi cũng tự chọn cho mình một bài thơ nào của Nguyên Sa. “Áo lụa Hà Đông” không phải là bài thơ tôi chọn. Tôi nhớ, lần đầu lật qua những trang thơ của Thơ Nguyên Sa, tôi đã không dừng lại ở “Áo lụa Hà Đông”, hay chỉ dừng lại một chút ở câu thơ.


      Anh vẫn nhớ em ngồi đây, tóc ngắn

      mà mùa thu dài lắm ở chung quanh


      Trong đầu tôi bật ra câu thơ của Vũ Thành, “nhà thơ của màu tím” một thuở nào.


      Tóc em ngắn, mùa thu ngừng ở đó

      Tay anh dài trên từng ngón bơ vơ

      (Áo tím)


      Hai bài thơ cùng nói về người yêu “mùa thu tóc ngắn”, cũng một giọng thơ, cũng “mắt nhìn vụng dại”, cũng “em chợt đến chợt đi”, cũng “yêu màu áo ấy vô cùng”. Thơ Nguyên Sa có mới hơn một chút với những “sám hối chạy trên môi”, “nhị hỷ của tâm hồn” hay


      Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung

      Bày vội vã vào trong hồn mở cửa


      Những cô nữ sinh ngày ấy vẫn chuyền tay nhau, nắn nót chép tay những “Tuổi 13”, “Cần thiết”, “Tương tư”, “Tháng sáu trời mưa”… hơn là bài “Áo lụa Hà Đông”.


      Không có anh lấy ai đưa em đi học về

      Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học

      Ai lau mắt cho em ngồi khóc

      Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa

      (Cần thiết)


      Tôi cũng vậy, cũng thích những bài thơ tình khác của Nguyên Sa hơn là “Áo lụa Hà Đông”, không rõ vì sao. Sau này tôi hiểu ra. Ông Nguyên Sa hẳn có nhiều kỷ niệm với “màu áo lụa Hà Đông” ấy, ông lặp lại đến hai lần “Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng”, trong lúc tôi và nhiều người lại chẳng có dây mơ rễ má gì với áo lụa Hà Đông Hà Tây ấy cả. Chỉ những ai từng có thời kỳ sống ở Hà Nội, từng “xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu(2) may ra mới có chút tình với vạt áo lụa này. Nói “may ra” vì nhiều vị trong số này khi được hỏi đến cũng chẳng biết gì nhiều về món “đặc sản” của xứ Hà Đông ấy.


      Nhà văn Hoàng Hải Thủy chào đời ở Hà Đông năm 1933, còn có bút danh là “Công tử Hà Đông”, vẫn tỏ ra sành sỏi nhiều giai thoại lý thú, từng thú nhận là “mù tịt” về cái khoản “lụa Hà Đông” này.

      “Thi sĩ Nguyên Sa làm cho tỉnh Hà Ðông nổi tiếng khắp nước. Thị xã Hà Ðông không có gì đặc biệt… Vì ở quá gần Hà Nội, Hà Ðông bị Hà Nội đè bẹp, không chỉ bẹp mà là dẹp lép. Thị xã Hà Ðông bên hông Hà Nội không sao phát triển được.


      Thị xã Hà Ðông không có gì đặc biệt, nhưng tỉnh Hà Ðông có Lụa Hà Ðông. Chỉ có tỉnh Hà Ðông mới có Lụa Hà Ðông, những tỉnh khác ở Bắc Kỳ không tỉnh nào có. Thi sĩ Nguyên Sa là người làm cho người Việt Nam cùng thời với ông, và những người Việt đến cõi đời này sau ông, biết đến cái gọi là ‘Lụa Hà Ðông’, biết cái Lụa Hà Ðông ấy được sản xuất ở tỉnh Hà Ðông…


      Là ‘công tử Hà Ðông’ nhưng tôi lại mù tịt về chuyện Lụa Hà Ðông. Tôi không biết làng nào ở Hà Ðông dệt thứ Lụa nổi tiếng ấy. Tôi không biết nên không dám ba hoa gì về chuyện đó.”


      (“Hà Đông bên hông Hà Nội”, https://hoanghaithuy.wordpress.com, 25/8/2011)

      Thậm chí, nhiều nhà văn, nhà thơ miền Bắc cũng không mặn mà gì với món hàng nội hóa này. Nhà thơ Xuân Quỳnh chẳng hạn, sinh trưởng ở thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Đông, có lắm bài thơ tình được yêu chuộng, cũng không hề có lấy bài thơ, câu thơ nào viết về địa danh Hà Đông và mặt hàng tơ lụa truyền thống này.


      Họa chăng chỉ có ở trong những câu ca dao thuở xưa về vải vóc, lụa là.


      Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng

      Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông


      Hoặc


      Em về Vạn Phúc cùng anh

      Áo lụa em mặc thêm thanh vẻ người


      Làng lụa Vạn Phúc hay làng lụa Hà Đông thuộc thị xã Hà Đông, Hà Nội, là một làng “chuyên trị” nghề dệt lụa tơ tằm từ ngàn năm trước, nổi tiếng với những khung cửi, những lụa, là, gấm, vóc, vân, the. Chuyện trồng dâu, nuôi tằm là chuyện ngày xửa ngày xưa, thuở ruộng đồng còn bát ngát, mênh mông, chưa “quy hoạch” thành những đường phố đông đúc, chật chội như bây giờ. Mỏng, mềm, mịn, mát là “đặc trưng” của tấm lụa Hà Đông, chả trách “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát”.


      Người miền Bắc hẳn là phải cám ơn thi sĩ Nguyên Sa, người đã đưa Hà Đông, mảnh đất “không có gì đặc biệt” ấy vào thi ca, làm rạng danh một “Hà Đông bên hông Hà Nội”. Đồng thời, cũng tôn vinh một sản phẩm nội hóa gần như mai một thành món “hàng độc” rất đáng tự hào của “miền Bắc ta”. “Áo lụa Hà Đông” mềm mại, dịu dàng của miền Bắc không giống như “Sư tử Hà Đông” đanh đá, dữ dằn ở bên Tàu. “Áo lụa Hà Đông” trong thơ Nguyên Sa lung linh tỏa sáng.


      Em không nói đã nghe lừng giai điệu

      Em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh


      Có một chữ trong câu thơ trên nhiều phiên bản, nhiều “ngâm sĩ” vẫn hay nhầm lẫn. Chữ “lừng”, không phải “từng”, không phải từng âm thanh, từng nốt nhạc. Lừng khác với từng. “Lừng” có nghĩa vang rền. “Em không nói đã nghe lừng”, không phải “nghe từng giai điệu”.


      Bài thơ tám chữ, nhưng lại lọt vào hai câu thơ chín chữ.


      Gặp hai hôm (thành) nhị hỷ của tâm hồn…

      Anh (đã) trông lên bằng đôi mắt chung tình


      Lần tái bản sau cùng (Thơ Nguyên Sa toàn tập), chữ “đã” được lấy ra để trả câu thơ về tám chữ. Thiếu chữ vần “trắc” ấy, câu thơ mất sức nâng, chìm xuống, nhịp thơ chông chênh.


      Dù có thế nào, dù yêu hay không yêu tấm áo lụa Hà Đông, đấy vẫn là bài thơ Nguyên Sa được nhắc tên nhiều nhất. Bài thơ như gắn liền tên người thi sĩ. Áo lụa Hà Đông-Nguyên Sa, hay Nguyên Sa-Áo lụa Hà Đông.


      Sài Gòn gối đầu trên cánh tay


      Tranh: họa sĩ Duy Liêm

      Miền Nam có nhiều thi sĩ, nhiều người làm thơ hay, nhưng lại có rất ít bài thơ về Sài Gòn, về “thủ đô văn hóa Việt Nam”, cách gọi của nhà văn Mai Thảo. Trong khi ấy, Hà Nội mà những văn nghệ sĩ bỏ lại sau lưng khi rời bỏ miền Bắc vào Nam lại được nhắc tên trong nhiều bài thơ với nỗi nhớ nhung, luyến tiếc.


      Kể ra cũng bất công và thiệt thòi cho Sài Gòn. Lẽ nào người ta lại quên đi cái mình đang có mà ôm lòng tiếc nhớ mãi những gì đã mất tăm.


      Nhiều văn nghệ sĩ, sau ngày định cư ở miền Nam tự do vẫn “chúng ta đi mang theo quê hương” miền Bắc.


      Hà Nội yêu, anh vẫn yêu muốn khóc Mấy chục năm, xa đến mấy nghìn năm… Hà Nội yêu, vẫn y nguyên tưởng nhớ Nên nghìn năm vẫn ngỡ mới hôm qua


      Những câu thơ ấy ở trong bài thơ “Yêu em, Hà Nội” của Hoàng Anh Tuấn.


      “Yêu em, Hà Nội”, nghe tha thiết quá! Giá mà đổi được thành “Yêu em, Sài Gòn”, thành “Sài Gòn yêu, anh vẫn yêu muốn khóc” nghe càng tha thiết hơn và người Sài Gòn hẳn cũng… muốn khóc theo. Vẫn y nguyên tưởng nhớ, vẫn không làm sao quên, nhà thơ kể ra vanh vách “Hà Nội 36 phố phường”. Hàng dọc hàng ngang, không sót hàng nào.

      Em Hà Nội hàng Đường trong giọng nói

      Để hàng Bông êm ái lót cơn mơ…

      Ôi hàng Ngang tội nghiệp mối tình đầu

      Anh hờn giận mơ hàng Buồm lãng tử

      Hàng Vôi đó nồng nàn trong ngây ngất

      Ý hàng Đào chín mọng trái môi chia

      Xin hàng Than rực cháy lửa đam mê

      Khi quấn quít trong ái ân Hà Nội

      (“Bài thơ Hà Nội”, Hoàng Anh Tuấn)

      Những câu thơ thật là đẹp! Sài Gòn lại chẳng có được “hàng” nào để sánh đôi tình Bắc duyên Nam với Hà Nội, nhiều lắm chỉ có ít vần thơ trong bài Học Thuộc Lòng trên trang sách giáo khoa bậc Tiểu học.


      Sài Gòn có bến Chương Dương

      Có dinh Độc Lập, có đường Tự Do

      Phường Chợ Quán, khóm Cầu Kho

      Bến xe Lục Tỉnh, con đò Thủ Thiêm

      (“Sài Gòn”, Bảo Vân)


      Thật may một điều, người Sài Gòn còn có Nguyên Sa. Sớm nhận ra những thiệt thòi, bất công ấy, sau những “Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông”, những “Mai anh về giữa bến sông Seine” nhà thơ đã đền cho Sài Gòn một bài thơ khác, bài thơ thổ lộ tình yêu với một “Sài Gòn gối đầu trên cánh tay”. Có đi Tây đi Tàu, đi xa đi gần gì rồi cũng quay về với “Tám phố Sài Gòn”.


      Bài thơ, theo lời kể của nhà thơ trong tập Hồi Ký, được gửi cho tạp chí Văn, số Xuân Ất Tỵ năm 1965 theo “đơn đặt hàng” của Chủ nhiệm tạp chí này, muốn có một bài thơ Xuân.


      Sao gọi là “Tám phố Sài Gòn”? Nhà thơ lấy ở đâu ra con số ấy? Trước và sau Nguyên Sa không thấy ai gọi Sài Gòn cách ấy cả. Nhà thơ cũng không có lời giải thích nào khi còn sinh tiền và cũng không ai chịu hỏi han cho ra lẽ nên bây giờ chỉ có đoán già đoán non, không giải mã nổi hoặc muốn hiểu sao thì hiểu. Đọc suốt bài thơ, tìm quanh quất thấy có mỗi con phố Bonard, còn lại chỉ phất phơ những “Sài Gòn nắng hay Sài Gòn mưa”, “Sài Gòn cười đôi môi rất tròn”…


      Cũng không lạ, câu, chữ trong thơ Nguyên Sa lắm khi “khó đoán”, nửa hư nửa thực một cách có dụng ý, có lúc lại như đùa nghịch, tung hứng với chữ nghĩa.


      Không thấy phố xá nào cả, “tám phố” ấy nhiều phần là tám khổ thơ của bài thơ bảy chữ. Giá như gọi “Tám miếng Sài Gòn” chẳng hạn, người đọc không phải khó đoán. Tám “miếng thơ” ấy, miếng nào cũng đậm chất Sài Gòn.


      Sài Gòn trong thơ Nguyên Sa hóa thân làm người em gái Sài Gòn, làm cô nữ sinh trẻ trung, duyên dáng và thanh lịch.


      Sài Gòn phóng solex rất nhanh

      Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants


      Một Sài Gòn mơ màng và quyến rũ.


      Sài Gòn gối đầu trên cánh tay…

      Đôi mắt trông vời theo ánh trăng


      Một Sài Gòn tình tứ và gợi cảm.


      Cánh tay tà áo sát vòng eo…

      Vành môi nghiêng cánh xuống phân vân


      Kể ra không hết, “tám phố” chứ đâu phải ít. Sài Gòn những tà áo màu lất phất trong gió chiều, Sài Gòn lượn xe trên đường phố dài, Sài Gòn ôm cặp sách vào thư viện, Sài Gòn những cơn mưa bóng mây, Sài Gòn dạo phố lớn Bonard, Sài Gòn âu yếm gọi nhau bằng “cưng”… Sài Gòn như không thể Sài Gòn hơn.


      Sài Gòn không khoác lác, không khoe mã. Sài Gòn có sao nói vậy. Bài thơ chỉ vài nét phác, như bức ký họa nhưng thật sinh động. Gọi “phố Sài Gòn” cũng được, gọi “người Sài Gòn” cũng xong.


      Sài Gòn muôn màu muôn vẻ, tươi vui và đầy sức sống. Bài thơ không phải là thơ Xuân nhưng “tám phố Sài Gòn” ấy đủ mang về một mùa xuân.


      Guốc cao gót nhỏ mây vào gót

      Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ


      Câu thơ tôi thích nhất trong bài. Câu thơ đậm chất Nguyên Sa. Áo dài bồng bềnh như dải mây vương, như dải trăng thu huyền ảo. Chưa thấy ai tả vạt áo dài thướt tha trên đường phố như thế cả.


      Tiếc một điều, “Tám phố Sài Gòn” ấy chỉ còn là những hoài niệm đẹp sau ngày Sài Gòn thay tên đổi chủ. Sài Gòn không tìm đâu thấy nữa. Sài Gòn đã xa như dĩ vãng.


      “Bên thắng cuộc”, những người chủ mới đã làm mọi cách để Sài Gòn biến mất, để xóa sạch mọi dấu vết của Sài Gòn. Người ta muốn xóa bỏ tên Sài Gòn trong trái tim của người miền Nam. Người ta muốn “dìm hàng” vì mặc cảm thua kém người Sài Gòn.


      Không chỉ thay tên đổi họ, người ta còn muốn Sài Gòn đi chỗ khác chơi cho khuất mắt. “Chỗ khác” ấy là một phường nào đó của một quận nào đó. Tin báo trong nước gần đây cho hay: “UBND thành phố cho biết, quận 1 sẽ được tổ chức lại thành 4 phường mới và sẽ đặt tên ‘Sài Gòn’ cho một trong 4 phường này.


      Không chỉ người Sài Gòn cũ mà nhiều học giả, nhà nghiên cứu, nhà văn nhà thơ và cựu quan chức của “Bên thắng cuộc” cũng lấy làm “bức xúc” và lên tiếng phản kháng về “ý đồ” đen tối trong việc sắp xếp lại và đặt tên cho các đơn vị hành chính cấp phường, xã này:

      “Sài Gòn từng là một đô thị lớn nhất nước, từng có lúc gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông. Với tầm vóc lớn lao như vậy mà nay lại đem 'nhốt' vào trong một phường, đặt tên cho một đơn vị hành chính cấp phường là một sự xúc phạm với lịch sử, là thiếu tôn trọng văn hóa và niềm tự hào dân tộc.”

      Đặt tên Sài Gòn cho một cái phường phất phơ nào đó, rồi ít năm sau đó chỉ việc thay cái tên phường ấy đi là vĩnh viễn loại bỏ Sài Gòn ra khỏi đời sống của người miền Nam và cả nước. Quả là không có “phương án” nào tối ưu hơn.


      Sài Gòn trong thơ Nguyên Sa khi ấy mới thực sự là Sài Gòn của “một thời để yêu và một thời để chết”, như tựa của cuốn phim và tiểu thuyết nổi tiếng phổ biến ở Sài Gòn thuở trước.


      *


      Bạn đọc có thể thắc mắc khi thấy vắng mặt nhiều nhà thơ quen thuộc (những Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa). Đó là vì thi hứng của những nhà thơ nọ không chảy tới dòng thơ lục bát.


      Những dòng trên đọc được trên tờ Tạp chí Văn trong số báo chủ đề về thơ lục bát (“Lục bát bây giờ”, Tạp chí Văn số 44, ngày 15/10/1965).


      Đã có lúc những người yêu thơ Nguyên Sa cứ ngỡ là như vậy, ngỡ như nguồn thi hứng của nhà thơ “không chảy tới dòng thơ lục bát”. Thế nhưng, không hẳn là vậy. Nhà thơ cho biết, bài lục bát đầu tiên đến với ông thật bất ngờ vào năm 1966. Kể từ đó, không chỉ miệt mài với thơ lục bát, ông còn bộc lộ tình yêu thiết tha và gắn bó với thể thơ truyền thống của dân tộc này qua Cuộc hành trình tên là lục bát (NXb Đời, 3/1999).


      Sau những thơ năm chữ, bảy chữ, tám chữ, thơ tự do, thơ xuôi thơ ngược, sau cùng ông chọn quay về với thơ sáu tám qua cầu gió bay. Thơ lục bát Nguyên Sa cho thấy vẫn là chữ nghĩa, vẫn là ngôn ngữ thơ Nguyên Sa, vẫn là những khám phá, những đổi mới không ngừng.


      Có điều, chuyện làm mới thi phú là chuyện của nhà thơ. Cho dù ông có chuyển thể, có đổi đề tài, có Thơ Nguyên Sa Tập Ba, Tập Bốn hay hơn thế nữa thì người yêu thơ ông vẫn quay về với cái thuở ban đầu, với những bài tình đầu của chàng thi sĩ được phong tặng danh hiệu “thi sĩ của tình yêu”.


      Nói không ngại ông buồn, người yêu thơ chỉ “mặn” với những bài thơ tình của “Thơ Nguyên Sa, một thời để yêu”. Cái thời nắn nót chuyền tay, chép tay những bài thơ, câu thơ Nguyên Sa trong tập vở học trò hay trên những giấy pelure màu vàng hoa cúc, màu xanh lá sân trường. Cái thời của những bài thơ lóng ngóng trao tay, những bài thơ nói hộ tình yêu. Ra khỏi cái thời đó, ra khỏi những bài thơ tình ấy, ông đã là một Nguyên Sa khác.


      Nói không ngại ông buồn, và tôi chắc ông cũng chẳng buồn chẳng vui. “Thành thực lúc nào tôi cũng cho tôi là một con số không. Tôi không ‘lớn’ nên tôi tự cho mình ‘vốn dĩ chỉ là hạt cát’.” Nhà thơ từng nói vậy, trả lời câu hỏi về ý nghĩa của bút danh Nguyên Sa. Cách nói không thể nào khiêm tốn hơn. Đã tự nhận mình là hạt cát hoang sơ thì còn buồn nỗi gì nữa.


      Cám ơn thi sĩ Nguyên Sa, cám ơn bài thơ “Tám phố Sài Gòn” làm cho Sài Gòn không mất đi bao giờ, làm cho những thế hệ về sau biết được rằng đã từng có một Sài Gòn như thế, như thế... Vẫn còn mãi đó những câu thơ mềm mại như tơ lụa Hà Đông, những câu thơ đọc lên nghe Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều.


      Tôi đã chọn cho mình một bài thơ của Nguyên Sa để đọc lên, để tưởng nhớ. Các anh chị cũng sẽ chọn cho mình bài thơ nào chứ?


      Lê Hữu


      (1) “Cuối năm nói chuyện với Nguyên Sa”, Nguyễn Nam Anh, Tạp chí Văn, Xuân Mậu Dần 1998

      (2) “Nỗi lòng người đi”, nhạc Anh Bằng

      Tám phố Sài Gòn


      Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều

      Cánh tay tà áo sát vòng eo

      Có nghe đôi mắt vòng quanh áo

      Năm ngón thơ buồn đứng ngó theo


      Sài Gòn phóng solex rất nhanh

      Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants

      Có nghe hơi thở cài vương miện

      Lên tóc đen mềm nhung rất nhung


      Sài Gòn ngồi thư viện rất nghiêm

      Tờ hoa trong sách cũng nằm im

      Đầu thư và cuối cùng trang giấy

      Những chữ y dài trông rất ngoan


      Sài Gòn tối đi học một mình

      Cột đèn theo gót bóng lung linh

      Mặt trăng theo ánh đèn: trăng sáng

      Đôi mắt trông vời theo ánh trăng


      Sài Gòn cười đôi môi rất tròn

      Vòng cung mầu đỏ, nét thu cong

      Cầu vồng bắc giữa mưa và nắng

      Hay đã đưa dần sang nhớ mong


      Sài Gòn gối đầu trên cánh tay

      Những năm mười sáu mắt nhìn mây

      Chiếc tay tròn ánh trăng mười bốn

      Tiếng nhạc đang về dang cánh bay


      Sài Gòn nắng hay Sài Gòn mưa

      Thứ Bảy Sài Gòn đi Bonard

      Guốc cao gót nhỏ mây vào gót

      Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ


      Sài Gòn mai gọi nhau bằng cưng

      Vành môi nghiêng cánh xuống phân vân

      Lưng trời không có bầy chim én

      Thành phố đi về cũng đã xuân


      Nguyên Sa

      (Thơ Nguyên Sa, Tập Hai)

      Lê Hữu

      Nguồn: Tác giả gởi

      Ad-22-A_Newest-Feb25-2022 Ad-22-A_Newest-Feb25-2022


      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Từ “Áo lụa Hà Đông” đến “Tám phố Sài Gòn” Lê Hữu Tưởng niệm

      - Xuân Phai Lê Hữu Truyện ngắn

      - Hoài Khanh và bài thơ “Ngồi lại bên cầu” Lê Hữu Tưởng niệm

      - Năm Ngọ, nói chuyện Hoàng Thị Ngọ Lê Hữu Tản mạn

      - Những ngựa và người đi qua đời tôi Lê Hữu Phiếm luận

      - Chúa sẽ đến trong đêm nay Lê Hữu Truyện ngắn

      - Xem Tranh, Nhớ Người Lê Hữu Tưởng niệm

      - Tìm con nơi Thiên Đường Lê Hữu Phóng tác

      - Hoa anh đào nở rộ Lê Hữu Phóng tác

      - Nhạc Việt miền Nam, di sản văn hóa bất diệt của chính thể Việt Nam Cộng Hòa Lê Hữu Khảo luận

    3. Bài Viết về nhà thơ Nguyên Sa (Học Xá) Ad-31 Ad-31 = QC_250-250 (Học Xá)

       

      Bài viết về Nguyên Sa

       
      Cùng Tác Giả (Link-1)

      Từ “Áo lụa Hà Đông” đến “Tám phố Sài Gòn” (Lê Hữu)

      Thơ Nguyên Sa Và Phái Đẹp (Nguyễn Thị Thu Trang)

      Màu lụa Hà Đông trong thơ Nguyên Sa (Mai Thảo)

      Thơ ở Nguyên Sa (Du Tử Lê)

      Đọc lại Sân Bắn của Nguyên Sa (Nguyễn Mạnh Trinh)

      Tháng Tư nhớ Nguyên Sa, chuyện trò cùng ‘Nga buồn như con chó ốm’ (Vũ Đình Trọng)

      Nhân Một Kinh Nghiệm Thơ (Đỗ Long Vân)

      Kỷ Niệm Buồn Tháng Tư (Bùi Tiên Khôi)

      Chất sáng tạo tinh tế và phong phú của thơ Nguyên Sa (Phạm Quốc Bảo)

      Nguyên Sa (Vĩnh Phúc)

      Nguyên Sa (Võ Phiến)

      Lục Bát Bí Ẩn Trong Thơ Nguyên Sa (Trần Văn Nam)

      Nguyên Sa, Nhà Thơ Trọn Đời Hệ Lụy Với Thi Ca (Trần Văn Nam)

      Nguyên Sa - Thế giới của Tình yêu thơ mộng (Thái Tú Hạp)

      Nguyên Sa và Tình Ca Ngô Thụy Miên (Ngô Thụy Miên)

      Vị trí và, ảnh hưởng thơ Nguyên Sa trong văn học Việt (Du Tử Lê)

      Nguyên Sa (Tạ Tỵ)

      Nguyên Sa (1932-1998) (Thụy Khuê)

      Nguyên Sa, Nhà Báo, Nhà Thơ (Nguyễn Vy Khanh)

      Nguyên Sa, “Cuộc Hành Trình Tên Là Lục Bát”

      (Nguyễn Mạnh Trinh)

      Nguyên Sa  (Khánh Phương)

       

      Tác phẩm của Nguyên Sa

       
      Cùng Tác Giả (Link-2)

      Đọc Thơ Trần Văn Nam (Nguyên Sa)

      Rời Bỏ Nền Văn Chương Trú Ẩn (Nguyên Sa)

      Đọc thơ Viên Linh (Nguyên Sa)

      Phạm Duy với ngàn lời ca (Nguyên Sa)

      Thơ Nguyên Sa (luanhoan.net)

       

      Bài Viết về Văn Học (Học Xá)

       

      Bài viết về Văn Học

        Cùng Mục (Link)

      Từ “Áo lụa Hà Đông” đến “Tám phố Sài Gòn” (Lê Hữu)

      Sách mới của Bùi Vĩnh Phúc: “Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương” (Văn Việt)

      Đọc Bùi Vĩnh Phúc: Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương (Phan Tấn Hải)

      Ngày xưa Hoàng Đạo (Cao Hoàng)

      Đời Thủy Thủ 2:-Chương 15: Hải Phận Phước Tuy (Vũ Thất)


       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

       

      Văn Học Miền Nam (Học Xá) Văn Học (Học Xá)

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Danh Mục Tác Giả: Cùng Chỉ Số (Link-2) Aí Điểu,  An Khê,  Andrew Lâm,  Andrew X. Phạm,  Au Thị Phục An,  Bà Bút Trà,  Bà Tùng Long,  Bắc Phong,  Bàng Bá Lân,  Bảo Vân,  Bích Huyền,  Bích Khê,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Bích Hà,  

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)