1. Head_

    Nguyễn Cao Đàm

    (12.5.1916 - 4.6.2001)

    Tùng Giang

    (17.11.1940 - 4.6.2009)

    Võ An Ninh

    (18.6.1907 - 4.6.2009)
    Ad-25-TSu-2301360532 Ad-25-TSu-2301360532

     

     

    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Nguyễn Thị Mai Thảo, Con Đường Sáng Tạo Nghệ Thuật Qua Ngả Ẩn Dụ Dục Tính (Nguyễn Lệ Uyên) Ad-25-TSu-2301360532 Ad-25-TSu-2301360532

      4-6-2026 | VĂN HỌC

      Nguyễn Thị Mai Thảo, Con Đường Sáng Tạo Nghệ Thuật Qua Ngả Ẩn Dụ Dục Tính

        NGUYỄN LỆ UYÊN
      Share File.php Share File
          

       


         Nhà thơ Nguyễn Thị Mai Thảo
          (Nguồn: t-van.net)

      Gần đây, trên trang www.t-van.net, xuất hiện một số bài thơ của Nguyễn Thị Mai Thảo mang phong cách ẩn dụ dục tính như một khoái cảm của sự sáng tạo. Cô xem thơ như người tình và câu chữ là sự rung cảm của cơ thể!


      Nếu cởi chiếc áo phía ngoài những bài thơ này, thoạt lướt qua như có mùi mồ hôi, hơi thở của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, nhưng đọc đến hết bài, nó không mang gót hài, yếm thắm từ thế kỷ XIX mà là tà áo dài tha thướt của Le Mur đang bước qua thế kỷ XXI! Có nghĩa rằng những bài thơ đó, chẳng dính dáng gì đến những ẩn dụ “kín hở” theo phong cách Hồ Xuân Hương, một hiện tượng của nền văn học cận đại của Việt Nam, đã sử dụng thơ như một phương tiện phản kháng lễ nghi trói buộc của nho giáo với người phụ nữ, là người tiên phong lên tiếng đòi hỏi nữ quyền trong thời đại trọng nam khinh nữ với loại ngôn ngữ giàu hình tượng.


      Trong khi đó, Nguyễn Thị Mai Thảo, hậu duệ cách HXH khoảng gần 3 thế kỷ cũng có giọng thơ đặc trưng của Hồ Xuân Hương, nhưng khác ở chỗ cô không dùng thơ như một phương tiện tranh đấu đòi hỏi quyền bình đẳng cho phụ nữ mà, hơn hết là sử dụng ngôn ngữ thơ mang tính ẩn dụ khá độc đáo để vẽ nên những bức tranh nghệ thuật đầy chất sáng tạo, một loại ngôn ngữ sex phi sex (sexe non sexuel) nhằm bày tỏ những cảm xúc có thể gọi là táo bạo nhưng không dung tục, mang tính biểu tượng và siêu thực (symbolisme et surréalisme) đậm chất hơn?


      Có một cặp vợ chồng không giá thú

      Đã một lần xác thịt chạm nhau đâu

      Con chữ tương tư thẹn thùng đỏ mặt

      Câu thơ cởi mình trần trụi đè nhau

      Con chữ tục tằn

      Thể xác mãi thanh tao


      Gần 60 năm trước, trong tập Ca tụng thân xác (NXB Nam Sơn, Sg 1967), Gs Nguyễn Văn Trung phân tích thân xác là bản thể hiện hữu của con người với những nhu cầu và khoái cảm như một phần của đạo đức và hơn thế còn là sự thiêng liêng trong đời sống con người để đến với sự sáng tạo tuyệt đối, thì một Mai Thảo ở thời điểm này có cách nhìn sâu và xa hơn: những rung động, những cảm giác dâng trào lên đỉnh điểm của từng con chữ chẳng khác nào niềm hoan lạc của loài người khi lao vào cuộc yêu.


      Mai Thảo không chỉ dừng lại ở việc gây sốc bằng ngôn ngữ táo bạo, tưởng chừng như cố ý ca ngợi thân xác và dục tính bằng một sắc thái thẩm mỹ riêng, mà còn là nơi Thân thể con người được (bị) ngôn ngữ hóa, hòa quyện vào nhau, để người phụ nữ không còn là đối tượng bị nhìn mà trở thành chủ thể tự bày tỏ suy nghĩ thầm kín lên mặt giấy, tự cảm nhận được những rung lắc “sinh nở” của mình qua từng con chữ! Nói khác, Mai Thảo đã bắt ngôn ngữ làm vật thế thân cho thân xác, cả hai quàng nhau “tênh hênh” trước mắt mọi người!


      Con chữ tương tư thẹn thùng đỏ mặt

      Câu thơ cởi mình trần trụi đè nhau


      Điểm gây ấn tượng đầu tiên khi đọc Mai Thảo là cô không ngần ngại sử dụng loại ngôn ngữ trực diện không né tránh: Những hình ảnh như “lột trần”, “luồn sâu”, “khỏa thân”, “ôm nhau chìm nổi”… xuất hiện với nhịp độ dày đặc.


      Anh lột trần như nhộng


      Ngọn núi đôi mơn mởn câu ca

      Anh là mây vờn quanh mờ mờ tỏ tỏ


      Em ghì chặt tấm lưng dòng tưởng tượng

      Không nói nên lời rên mấy từ sung sướng


      Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở bình diện ngôn từ, rất dễ rơi vào ngộ nhận rằng đây là một kiểu thơ “gợi dục” (poésie érotique).Thực chất, điều nhà thơ hướng tới không phải là những khoái cảm thể xác đơn thuần, mà hướng đến điểm mới mẻ, ít ai ngờ: thân xác hóa ngôn ngữ (la physicalisation du langage), biến thơ thành một sinh thể sống động. Ở đó, “con chữ” không còn là ký hiệu trừu tượng mà trở thành một dạng “da thịt”, biết run rẩy, biết va chạm, biết thở.


      Trong bài “Vợ chồng không thể xác”, cô đã đưa ra một nghịch lý đầy gợi mở: hai con người “chưa từng xác thịt chạm nhau” nhưng vẫn “kết hôn bằng lời nói”. Ở đây, tình yêu không cần đến sự hiện diện vật lý; nó tồn tại trong tưởng tượng, trong ngôn ngữ, trong những “lần ôm nghẹt thở” được tạo ra bởi con chữ. Như vậy, thơ không chỉ là phương tiện biểu đạt tình yêu, mà chính là không gian để tình yêu xảy ra. Hành vi viết trở thành một dạng giao hoan tinh thần, nơi thân thể vật lý được thay thế bằng thân thể ngôn từ.


      Quan niệm này được đẩy đến cực điểm trong những bài như “S.E.X thơ” hay “Thơ đêm”. Ở đó, toàn bộ quá trình sáng tạo được diễn tả bằng ẩn dụ tính dục: câu thơ “cởi mình”, con chữ “vuốt ve”, nhịp điệu trở thành nhịp thở, và cả “lỗi chính tả” cũng mang tính nhục cảm. Đây là một thủ pháp không mới nếu nhìn từ biên độ chuyển mình của dòng văn học VN (đã từng xuất hiện trong thơ dân gian hay một số tác giả trung đại), nhưng điều khác biệt nằm ở mức độ triệt để: Mai Thảo không còn “che chắn” bằng lớp nghĩa thứ hai, mà gần như đồng nhất hoàn toàn giữa viết và yêu, giữa sáng tạo và sinh nở.


      Chính vì vậy, có thể nói một trong những đóng góp đáng chú ý của thơ Mai Thảo là tái định nghĩa hành vi sáng tạo từ góc nhìn nữ giới. Theo truyền thống, sáng tạo thường được hình dung như một hành vi “tinh thần” mang tính nam tính (lý trí, kiểm soát, cấu trúc), thì ở đây, nó mang đặc trưng của cơ thể nữ: mềm mại, cảm tính, và đặc biệt là có khả năng sinh sản. Những câu như “Để sinh nở những bài thơ” không chỉ là ẩn dụ, mà còn là một tuyên ngôn: thơ không phải là sản phẩm của tư duy thuần túy, mà là kết quả của một quá trình mang tính bản năng, giống như việc mang thai và sinh con.


      Tuy nhiên, nếu chỉ đọc Mai Thảo ở bình diện “dục tính nghệ thuật” (sexualité artistique), ta sẽ dễ chủ quan bỏ qua một tầng nghĩa quan trọng khác: nỗi cô đơn và khát khao đời sống gia đình. Trong bài “Khát khao”, giọng điệu thay đổi rõ rệt. Những hình ảnh nhục cảm nhường chỗ cho một không gian rất đời: tiếng trẻ khóc nhà bên, người mẹ ru con, chiếc gấu bông vô tri. Người phụ nữ trong bài thơ không còn là chủ thể chủ động của dục tính, mà trở thành một con người thiếu hụt, “ôm gấu bông không có mùi của sữa”, khao khát một đứa con, một mái ấm, một đời sống bình thường.


      Anh có biết lòng em khát khao

      Có một người để đôi khi hờn giận

      Tranh đúng đổ sai để rồi hối hận

      Ôm nhau ướt đẫm phút làm lành


      Điều đáng chú ý là khát khao này không được lý tưởng hóa. Nhà thơ không mơ về một gia đình hoàn hảo, mà chỉ cần những điều rất nhỏ: tiếng cãi vã, sự hờn giận, rồi làm lành. Hạnh phúc, trong cái nhìn này, không phải là trạng thái lý tưởng mà là một chuỗi va chạm đời thường. Như vậy, nếu ở những bài thơ “S.E.X”, thân thể là nơi giải phóng, thì ở “Khát khao”, thân thể lại gắn với một nhu cầu sâu xa hơn: nhu cầu sinh tồn, làm mẹ, tiếp nối sự sống.


      Sự đan xen giữa hai cực – dục tính và mẫu tính – tạo nên chiều sâu cho thơ Mai Thảo. Người phụ nữ trong thơ không bị đóng khung trong một hình tượng duy nhất, mà luôn dao động giữa khao khát nhục cảm và khao khát gia đình, giữa tự do cá nhân và nhu cầu kết nối.


      Chính sự phức tạp này giúp thơ cô tránh được nguy cơ rơi vào cực đoan (chỉ là giải phóng dục tính) hay sáo mòn (chỉ là thơ tình cảm truyền thống).


      Một khía cạnh khác cũng đáng lưu ý là ý thức về cái tôi nữ. Trong bài “Em chỉ là em”, tuy ngôn từ giản dị, nhưng lại chứa đựng một tuyên ngôn quan trọng: người phụ nữ không cần phải trở thành “trăng”, “nàng thơ” hay bất kỳ hình tượng nào do nam giới áp đặt. “Em không là gì cả / Em mãi chỉ là em” – câu thơ này, nếu là “xương sống” trong sáng tác của cô, cho thấy một quá trình tự nhận thức: từ việc khám phá thân thể, đến việc khẳng định bản thể.


      Ở đây, có thể thấy một sự chuyển dịch đáng kể trong hình tượng người phụ nữ: từ chỗ bị nhìn (object) sang chỗ tự nhìn (subject). Người phụ nữ không còn là đối tượng của cái nhìn nam giới, mà trở thành chủ thể của diễn ngôn. Cô nói về cơ thể mình, về ham muốn của mình, về nỗi cô đơn của mình – và chính hành vi “nói ra” ấy đã mang tính giải phóng.


      Dĩ nhiên, thơ Mai Thảo không phải không có những điểm gây tranh cãi. Việc sử dụng ngôn ngữ trực diện đôi khi khiến tác phẩm mất đi độ “nén” cần thiết của thi ca, hoặc dễ bị hiểu lầm là phô bày. Một số hình ảnh lặp lại (thân thể, trần trụi, giao hoan…) cũng có thể tạo cảm giác đơn điệu nếu đọc liên tục. Tuy nhiên, những hạn chế này phần nào là Sự can đảm lựa chọn thẩm mỹ theo cách riêng: khi nhà thơ quyết định phá bỏ lớp ẩn dụ truyền thống, đồng thời chấp nhận đánh đổi sự kín đáo lấy sự thật trực tiếp phơi bày.


      Rộng hơn, thơ Mai Thảo có thể được nhìn như một mắt xích nhỏ trong tiến trình làm mới thơ (của phái nữ Việt Nam) hiện đại. Nếu trước đây, những vấn đề như dục tính, thân thể thường bị né tránh hoặc chỉ xuất hiện dưới dạng ẩn dụ kín đáo, thì ở đây, chúng được đưa ra ánh sáng, trở thành trung tâm của diễn ngôn. Điều này không chỉ có ý nghĩa về mặt nghệ thuật, mà còn mang ý nghĩa xã hội: nó góp phần mở rộng không gian biểu đạt cho người phụ nữ, cho phép họ nói về những gì vốn bị coi là “không nên nói”.


      Dẫu sao, thơ Nguyễn Thị Mai Thảo là một nỗ lực đáng trân trọng trong việc tái cấu trúc mối quan hệ giữa thân thể và ngôn ngữ, giữa dục tính và sáng tạo, giữa cá nhân và xã hội. Dù còn những điểm cần định dạng và tiết chế, nhưng không thể phủ nhận rằng thơ cô đã đặt ra những câu hỏi quan trọng: Liệu rằng thơ có thể đi xa đến đâu trong việc biểu đạt thân thể? Liệu người phụ nữ có thể nói gì về chính mình? Và liệu ngôn ngữ có đủ khả năng chứa đựng những khát khao sâu kín nhất của con người?


      Có lẽ, chính ở những câu hỏi chưa có lời đáp dứt khoát ấy, thơ Mai Thảo đang dần định hình để tìm được sức sống của riêng mình.


      Tuy Hòa tháng 6/2026

      (Bài viết có sự trợ giúp của AI về tư liệu liên quan đến ngôn ngữ và tính dục)


      Nguyễn Lệ Uyên

      Nguồn: Tác giả gởi

      Ad-22-A_Newest-Feb25-2022 Ad-22-A_Newest-Feb25-2022


      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Nguyễn Thị Mai Thảo, Con Đường Sáng Tạo Nghệ Thuật Qua Ngả Ẩn Dụ Dục Tính Nguyễn Lệ Uyên Nhận định

      - Gửi Cô Trần Hạ Vi, Chung quanh vụ Ái Điểu Nguyễn Lệ Uyên Phản biện

      - Những Dấu Hỏi Trong Truyện-Thơ Ái Điểu Nguyễn Lệ Uyên Nhận định

      - Ái Điểu, Cõi Lạ Văn Chương Nguyễn Lệ Uyên Nhận định

      - Trần Thị NgH, viết: xạo ke , vẽ: cà rỡn Nguyễn Lệ Uyên Nhận định

      - Thơ Phương Tấn Là Đồng Vọng Những Đau Thương Của Dân Tộc Nguyễn Lệ Uyên Nhận định

      - Thơ Nhã Ca, một vài tư liệu nhỏ Nguyễn Lệ Uyên Nhận định

      - Cảnh Cửu Và Sự Cô Đơn Đến Tận Cùng Nguyễn Lệ Uyên Nhận định

      - Như Mới Hôm Qua Nguyễn Lệ Uyên Hồi ức

      - Gia Tài Của Võ Hồng Nguyễn Lệ Uyên Tham luận

    3. Bài Viết về Văn Học (Học Xá)

       

      Bài viết về Văn Học

        Cùng Mục (Link)

      Nguyễn Thị Mai Thảo, Con Đường Sáng Tạo Nghệ Thuật Qua Ngả Ẩn Dụ Dục Tính (Nguyễn Lệ Uyên)

      Trang thơ (Trang Châu)

      Thoáng Chim Bay (Trần Thị Nguyệt Mai)

      Buổi chiều thơ, nhạc, phê bình: mừng Bùi Vĩnh Phúc ra mắt sách (Phan Tấn Hải)

      Trò chuyện với nhà thơ Trang Châu (Trần Thị Nguyệt Mai)


       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

       

      Văn Học Miền Nam (Học Xá) Văn Học (Học Xá)

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Danh Mục Tác Giả: Cùng Chỉ Số (Link-2) Aí Điểu,  An Khê,  Andrew Lâm,  Andrew X. Phạm,  Au Thị Phục An,  Bà Bút Trà,  Bà Tùng Long,  Bắc Phong,  Bàng Bá Lân,  Bảo Vân,  Bích Huyền,  Bích Khê,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Bích Hà,  

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)