Head



 

 

Xuân Xưa, Thơ Trước, Hồn Ngàn Mùa (Vien Linh)
08-02-2013 | THƠ

XUÂN XƯA, THƠ TRƯỚC, HỒN NGÀN MÙA

                         VIÊN LINH chọn và chú giải

Mãn Giác (Cáo Tật Thị Chúng)          Chu Văn An (Vịnh Ngày Xuân Nguyên Đán)

Nguyễn Trãi (Cuối Xuân Tức Sự)      Lê Đức Mao (Bài Hát Xuân Đình)

Nguyễn Bỉnh Khiêm (Thú Nhàn)    Ngô Chi Lan (Vịnh Xuân)

Hồ Xuân Hương (Cảm Cựu Tống Tân Xuân Chi Tác)

Ngô Thì Nhậm (Khúc Ngâm Ngày Xuân) Đặng Đức Siêu (Tối Ba Mươi Tết)

Phạm Thái (Tình Xuân)                     Nguyễn Công Trứ (Cảnh Tết)

Nguyễn Khuyến (Ngày Xuân Dặn Các Con)

Nguyễn Văn Lạc (Vịnh Đôi Gà Chọi)

Trần Tế Xương (Tết Suông)                  Tản Đà (Mừng Xuân)

Đỗ Giang (Tết Giao Thừa)                        Khuyết Danh (Trách Xuân)

CHU VĂN AN (?-1370)


Chu Văn An tên chữ là Linh Triệt, người huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, ngoại
thành Hà Nội, tính tình cương trực, đậu Tiến sĩ, mở trường dạy học, được gọi là
"nhất thế sư biểu", học trò rất đông, nhiều người nức tiếng như Phạm Sư Mạnh,
Lê Bá Quát. Đời Trần Dụ Tông, ông dâng sớ xin chém đầu 7 gian thần nhưng
không toại nguyện. Ông chọn ẩn cư ở núi Phượng Hoàng, Chí Linh, Hải Dương.
Lúc mất được thờ trong Văn Miếu cùng với các hiền triết đời trước.

     Vịnh Ngày Xuân Nguyên Đán



     Chu Văn An
  Phạm Công Thành vẽ

Tịch mịch sơn gia trấn nhật nhàn.

Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn.

Bích mê thảo sắc thiên như túy,

Hồng thấp hoa tiêu lộ vị can.

Thân dữ bạch vân trường luyến tựu,

Tâm đồng cổ tỉnh bất sinh lan.

Bách huân bán lãnh trà yên khát,

Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn.


Cảnh vắng ngày rồi núi ở chung.

Liếp che rét ngọt, lệch bên song.

Trời say cỏ vẫn mê màu biếc,

Sương đượm hoa chưa ráo giọt hồng.

Thân chẳng quên non mây trắng nổi.

Tâm không gợn sóng, giếng xưa trong.

Lò trầm nửa tắt hơi trà nguội,

Một tiếng chim khe tỉnh giấc nồng.

HẢI THẠCH dịch


     ... Xuân Sinh Bích (nhan đề tạm đặt)


Tùng thu thâm tỏa nhật tương tịch,

Yên thảo như đài mê loạn thạch.

Ảm đạm thiên sơn phong cảnh sầu,

Tiêu trầm vạn cổ vân vô tích.

Khê hoa dục lạc vũ ti ti,

Dã điểu bất minh sơn tịch tịch.

Kỷ độ trù trừ hành phục hành,

Bình vu vô tận xuân sinh bích.


Vườn thông thăm thẳm trời hầu tối,

Cỏ ngụt như rêu đá lẫn lộn.

Tờ mờ ngàn núi gió thêm buồn,

Chìm lỉm muôn xưa mây sạch lối.

Mưa bụi hoa bay mấy rặng khe,

Rừng im tiếng vắng đàn chim nội.

Mấy bận ngập ngừng đứng lại đi,

Đồng bằng bát ngát, xuân nênh nổi.

TRẦN HÀM TẤN dịch


(Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên-Tập I, Phạm Thế Ngũ biên soạn, trang 111-113)



NGUYỄN TRÃI (1380-1442)


Nguyễn Trãi tên hiệu là Ức Trai, người làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh
Hà Đông, bố là Nguyễn Phi Khanh, ông ngoại là Trần Nguyên Đán, đậu Tiến
sĩ năm thứ nhất triều Nhà Hồ (1400). Theo Lê Lợi khởi nghĩa năm 1418, nắm
quyền quân sự và ngoại giao, thay Vua thảo thư từ (góp thành Quân Trung
Từ Mệnh tập), và là tác giả Bình Ngô Đại Cáo, một áng thiên cổ hùng
văn. Do bọn Kiêu binh và bọn Kỳ thị địa phương Triều Lê vu oan, ông và cả
ba họ bị tru di tam tộc trong Vụ án Vườn Vải, ngày 19.9.1442. Nguyễn Trãi
được Liên Hiệp Quốc ghi tên vào danh sách Danh Nhân Văn Hóa Thế Giới.

     Mộ Xuân Tức Sự



     Nguyễn Trãi

Nhàn trung tận nhật bế thư trai

Môn ngoại toàn vô tục khách lai

Đỗ vũ thanh trung xuân hướng lão

Nhất đình sơ vũ luyện hoa khai.


     Cuối Xuân Tức Sự


Suốt ngày nhàn nhã khép phòng văn

Khách tục không ai bén mảng gần

Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn

Đầy sân mưa bụi nở hoa soan.

KHƯƠNG HỮU DỤNG dịch


     Trại Đầu Xuân Độ


Độ đầu xuân thảo lục như yên

Xiêm vũ thiêm lai thủy phách thiên

Dã kính hoang lương hành khách thiểu

Cô châu trấn nhật các sa miên.


     Bến Đò Xuân Đầu Trại


Cỏ xanh như khói bến xuân tươi

Lại có mưa xuân nước vỗ trời

Quạnh quẽ đường đồng thưa vắng khách

Con đò ghếch bãi suốt ngày ngơi.

KHƯƠNG HỮU DỤNG dịch


(Thơ Văn Nguyễn Trãi, nxb Giáo Dục, Hà Nội, trang 121-122)



HỒ XUÂN HƯƠNG (1722...)


Đây là nhan đề và chủ đề lạ của Hồ Xuân Hương: Cảm Cựu Tống Tân Xuân
chi tác nghĩa là Cảm Năm Cũ Làm Thơ Tiễn Xuân Mới. Tiểu sử Hồ Xuân Hương
còn mù mờ. Theo Đào Thái Tôn trong cuốn Thơ Hồ Xuân Hương từ Cội Nguồn
vào Thế Tục, nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1995, thì nàng là con một phụ nữ họ Hà,
quê Thọ Xương, một làng gần Hà Nội (trang 22) [nay là khu phố Lý Ouốc Sư],
lúc trẻ học và dạy học ở khu Hồ Tây, Hà Nội. Theo Phạm Trọng Chánh trong
Hồ Xuân Hương Nàng Là Ai? Bông Sen, Paris, 2000 thì nàng "tên húy là Hồ
Phi Mai, sinh năm 1722 tại phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận, Thăng Long
Hà Nội." (tr. 15)

     Cảm Cựu Tống Tân Xuân Chi Tác


I.


Xuân này nào phải cái xuân xưa,

Có sớm ư? Thời lại có trưa.

Cửa động hoa còn thưa thớt bóng,

Buồng thoa oanh khéo dập dìu tơ.

Phong lưu trước mắt bình hương nguội

Quang cảnh trong đời chiếc gối mơ.

Cân vàng nửa khắc xuân lơ lửng

Phố liễu trăm đường khách ngẩn ngơ.


II.


Mới biết vị đời chua lẫn ngọt,

Mà xem phép tạo nắng thì mưa.

Tri âm đắp nửa chân còn ngắn,

Bức vách nghe xa tiếng đã thừa.

Nếm mía vụ này ngon những ngọn *

Trông gương ngày nọ bẵng như tờ.

Xưa nay còn có đâu hơn nữa,

Hay những từ đây, phải thế chưa?


* Mía chính vụ là vào dịp heo may, trước Tết. Sau người ta "bồng gốc" làm tơi đất, bón tưới, thúc mầm làm cho mía lên. Tục ngữ có câu "Mía tháng ba ngọt ra đầu ngọn". ..."Nếm mía vụ này ngon những ngọn" là nếm mía vào tháng mía trái vụ. Tác giả dùng hình ảnh này để tả nổi quá lửa lỡ thì của người con gái. (Chú thích của tác giả).




NGÔ THÌ NHẬM (1745-1803)

 

     Xuân Ngâm và Xuân Mộ


Ngô Thì Nhậm (1745-1803), một sĩ phu Bắc Hà kiệt xuất, người Hà Đông, đỗ
Tiến sĩ năm 1776, làm quan thời Lê mạt, và nhà Nguyễn Tây Sơn. Bài Xuân
Ngâm rất dài, nên chỉ xin đăng bài chuyển ra Quốc ngữ của Nguyễn Văn Bách,
nhan đề Khúc Ngâm Ngày Xuân. Còn bài Xuân Mộ như sau:


Vinh khai hàn cốc chính dung dung

Dục thí huân huyền giải uẩn phong.

Dã hữu thiều hoa hồn vị lão

Nhất ban sinh ý bất ngôn trung.


Hải Như dịch ra Lục Bát:


Cửa hang hoa thắm nở nhiều

Gió nam sắp dạo khúc tiêu giải nồng.

Chưa già, vẫn đượm sắc xuân

Quanh ta cảnh vật âm thầm sinh sôi.


Dưới đây là bài Xuân Ngâm qua bản dịch Nguyễn Văn Bách:


     Khúc Ngâm Ngày Xuân


Đồng xa có cái chim trời,

Nó kêu rằng: Đã tới thời già nua.

Trước hiên có cái chim cu,

Nó kêu rằng: Nhớ cố đô não nùng.

Nhớ đô, hay những nhớ mong,

Giàu sang khao khát nặng lòng chửa vơi?

Đói no trông cậy cửa người,

Tự do chẳng có mong hoài mà chi!

Tuổi già nhớ cảnh làng quê,

Khen chim trời biết tìm về điền viên.

Bao la non nước dặm nghìn,

Lượn bay mặc sức, lọ phiền mảy may.

Kiếp: ba vạn sáu nghìn ngày,

Bóng thiều như bóng tên bay bay vèo.

Lần lừa ngày tháng trôi theo,

Tóc xanh để lụy mái đầu sương pha.

Chẳng tìm tôm cá đồng xa,

Thóc xin gạo mướn bê tha cửa người.

Anh xem, cu gáy kêu hoài,

Chẳng qua những muốn chờ mồi đợi ăn.

Vốn xưa chủ cũ ân cần,

Mà nay chủ mới tình dần bạc phai.

Kìa anh xem cái chim trời,

Kêu xong chắp cánh tuyệt vời cao bay.

Mặc cho nỏ cứng căng dây,

Nhởn nhơ chẳng ngại thân này xem không.

Cung cầm nối gót Đào công (*),

Trước sân hôm sớm bạn cùng yến oanh.

Tôi xin gánh nước Nam minh,

Rửa nghiên, chọn giấy vì anh đề lời.

Việc đời chi đó là vui,

Cương thường danh giáo đạo người là hơn.


(*) Đào Uyên Minh (đời Tấn) rất yêu đàn cầm mặc dù không biết gảy.



NGUYỄN KHUYẾN (1835-1909)


Ông biệt hiệu là Quế sơn, tên là Thắng, đậu Giải nguyên năm Tự Đức thứ 23, năm sau lại đậu Hội nguyên và Đình nguyên cho nên người ta thường gọi là Tam Nguyên Yên Đổ. Ông quê ở làng Yên-Đổ, huyện Bình-Lục, tỉnh Hà Nam, làm quan đến chức Tổng-Đốc ba tỉnh Sơn Hưng Tuyên, sau thấy việc đời không hợp ý mình, nên cáo quan về nhà dạy học. Văn-chương của ông đủ thể loại, từ u sầu tới châm biếm. Bài dưới đây nguyên tác Xuân Nhật Thị Chư Nhi, do chính ông tự dịch:



   Nguyễn Khuyến

     Ngày Xuân Dặn Các Con


Tuổi thêm thêm được tóc râu phờ

Nay đã năm mươi có lẻ ba

Sách vở ích gì cho buổi ấy

Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già.

Xuân về ngày loạn càng lơ láo

Người gặp khi cùng cũng ngất ngơ.

Lẩn thẩn lấy chi đền tấc bóng

Sao con đàn hát vẫn say sưa?



Tản Đà NGUYẼN KHẮC HIẾU (1888-1939)


Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu ra đời tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, Sơn Tây,
thông thạo thi phú cử nghiệp từ năm 14 tuổi, (ra Hà Nội và học tiếng Pháp năm
19 tuổi), đi thi hoài tại Trường thi Nam Định, không đỗ. Sống chết với nghề thơ,
nghề báo, lăn lộn với tờ An Nam Tạp Chí (mà ông là Chủ nhiệm) tất cả 5 lần, bắt
đầu xuất bản năm 1926 sau đó báo chết đi sống lại 4 lần nữa, tới 1933 thì báo
chết hẳn. Ông từ trần năm 1939 tại Ngã Tư Sở, ngoại ô Hà Nội, để lại một gia
tài thi phú đồ sộ.



Tản Đà

Trần gian thước đất vẫn không có

Bút sắt chẳng hơn gì bút lông

Ngày xanh như ngựa, đầu xanh bạc

Chán cả giang hồ, hết cả ngông.


Qua hết đông này năm chục tuổi

Xuân sang đã nửa giấc mơ mòng

Văn chương quẩn mãi cùng thân thế

Sự nghiệp mong gì với núi sông.


     Mừng Xuân (Thơ mới hai vần)


Ngày đi, tháng đi, năm đi dần

Hết ngày, hết tháng, hết năm trước.

Qua sang năm mới lại là xuân

Gió trăng thề nguyện xuân ý ước.


Tin xuân truyền bá khắp xa gần

Oanh én cỏ hoa mừng đón rước

Oanh rọi đầu cành, hoa cười xuân

Cỏ rợn chân trời én liệng nước.


Vạn vật đắc ý, người thanh tân

Trẻ bé đùa vui, già hưởng phước

Mừng xuân ta có thơ hai vần

Xuân sang năm khác thơ cũng khác.


Thơ này kính chúc toàn quốc dân

Một năm tiến bộ lại một bước.

(trang 28, sđd)


     Gần Tết Tiễn Năm Cũ (trích)


Gần Tết bao nhiêu cảnh khác nhau

Người vui sắm sửa, kẻ lo sầu.

Phong lưu thiên hạ nghe chừng ít,

Lo Tết trần gian chẳng thiếu đâu!


Quanh năm luống những túng cùng lo

Tết nhất xem ra cũng lắm trò

Lễ nghĩa muốn thôi, thôi chẳng rứt

Nợ nần vay trả, khất quanh co.

. . .

Tiễn năm ta có mấy vần thơ

Năm hết cho người cũng hết lo.

Sắp sửa cành nêu Xuân đón chúa,

Thử xem năm mới có ra trò!

Viên Linh

Khởi Hành số 75-76, Tháng 1-2.2003



Văn Miếu Hà Nội, Cửa Nam. Văn Miếu được xây cất vào năm 1076, ở phía

Nam Hoàng thành Thăng Long, thời Vua Lý Nhân tôn; dài 320 mét, rộng 75 mét,

có năm cửa ra vào và năm khu sân lớn. Qua sân thứ hai thì tới Khuê Văn Các.



MÃN GIÁC (1052-17.12.1096)


Ông người làng An Cách, miền Bắc, thế danh là Nguyễn Trường, con của Trung
thư Ngoại lang Nguyễn Trường Tố đời Vua Lý Thánh-tôn, Lý Nhân-tôn, học
rộng nhớ nhiều đạo Nho đạo Thích. (Theo sách khác, ông họ Lý, còn tên đúng
vẫn là Trường.) Ông đi chu du nhiều nơi, tới đâu môn đồ theo tới đó, tới khi Lý
Nhân-tôn và Hoàng hậu Cảm Linh xây chùa Cảnh Hưng tại Thăng Long, ông
được mời về trụ-trì chùa này. Thơ kệ của ông còn lại rất ít. Bài Cáo Tật Thị
Chúng của Mãn Giác thiền sư đã tồn tại và lưu truyền mười thế kỷ, song cho
tới nay chưa một bài thơ nào khác qua nổi bài này về ý nghĩa vượt sinh trong
tuần hoàn của Trời Đất, được thả thảnh thơi qua ba mươi tư chữ đơn giản nhẹ
nhàng, bay trong sương, và lung linh ở đầu cành, không rụng.

 

   告疾示眾

春去百花落,

春到百花開。

事逐眼前過,

老從頭上來。

莫謂春殘花落盡,

庭前昨夜一枝梅。

 

Cáo Tật Thị Chúng

 

Xuân khứ bách hoa lạc,

Xuân đáo bách hoa khai.

Sự trục nhãn tiền quá,

Lão tùng đầu thượng lai.

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.


     Có Bệnh, Bảo Với Mọi Người


Xuân trỗi, trăm hoa rụng,

Xuân tới, trăm hoa cười .

Trước mắt, việc đi mãi,

Trên đầu, già đến rồi!

Dừng tưởng Xuân tàn hoa rụng hết,

Đêm qua, sân trước, một cành mai.

NGÔ TẤT TỐ dịch



LÊ ĐỨC MAO (1462-1529)


Người làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông, nay là ngoại thành Hà
Nội. Năm 1504 đậu Hương cống, năm sau đậu Tiến sĩ. Ông giỏi làm thơ và làm
bài hát, tính hay châm biếm riễu cợt, và hay làm thơ phê bình chuyện thế sư,
đến nỗi bị Xã trưởng thù ghét, phải bỏ làng lưu xứ, định cư tại Vĩnh Phúc. Tác
phẩm có Nghĩ hộ Tam giáp thưởng hát ả đào, dài 128 vế, chia làm 9 đoạn. Theo
ý kiến của Hoàng Xuân Hãn, [xem La sơn Yên hồ HXH, nxb Giáo Dục, 1998]
thì thể thơ Lục Bát có thể có từ lâu, song văn bản lục bát đầu tiên để lại cho đời
sau, có lẽ là khổ giữa của bài thơ này. Ngoài ra, trong bài Bài Hát Mừng
Xuân, khúc giữa cũng là Lục Bát, (chúng tôi không đăng hết, vì không thấy
bài này hay:) Ngự tiền ngào ngạt hương xông / Phượng quanh tịch múa hoa
lồng chén bay / Miếu Chu văng vẳng tâu bày / Thiều xưa khúc chín tung rầy
tiếng ba / Mừng Xuân Xuân yến Xuân ca / Bốn dân mưa huệ trăm nhà gió huân


     Bài Hát Xuân Đình


- Nhị nguyệt huyên hòa tiết

- Thập đình cổ vũ xuân (l)

Tiệc mở hát thờ thần kỳ phúc

Vạn vạn niên tề chúc thánh cung (2)


Hoan thanh ba tiếng hô tung

Hương nghi ngút khói rượu nồng nàn hoa

Đình tấu nhạc miếu dâng ca

Vẻ thanh múa phượng khúc hòa bay loan

Ngày xuân xuân tịch thừa hoan (3)

Thọ trăm tiếng chúc phúc ngàn câu ca


Kể từ đó bình hòa vĩnh nhạ (4)

Vỗ tay mừng huệ ngã vô cương (5)

Xuân kỳ giải thưởng đào nương

Cửu như (6) dâng chúc ba hàng nức vui.


(l) Tháng hai tiết ấm áp, đình xã đón mừng xuân.

(2) Vạn vạn năm đều chúc đức vua.

(3) Tiệc xuân vui vẻ.

(4) Hòa bình mãi mãi.

(5) Ân cho ta không biết chừng nào.

(6) Cữu như nghĩa là "chín điều giống như." Đó là: Như núi, như gò , như chỏm, như lăng, như sông, như mặt trăng, như mặt trời, như Nam sơn, như tùng bách.



NGUYỄN BỈNH KHIÊM (1491-1585)


Người làng Trung Am, tỉnh Hải Dương, tự là Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân, đi thi
ba trường đều đậu đầu, kỳ chót đậu Trạng nguyên năm 1535, đời Mạc Đăng
Doanh. Ra làm quan, ông được phong tước Trình quốc công. Với hành trạng
như thế, ông được thiên hạ gọi là Trạng Trình. Năm 1542 ông xin về trí sĩ,
chuyên nghiên cứu lý học, Kinh Dịch, tinh thông khoa Thái Ất, để lại nhiều sấm
ngôn, đời sau gọi là Sấm Trạng Trình. Ông để lại hàng ngàn bài thơ, văn triết,
nghị luận, bằng cả chữ Hán và thi phú chữ Nôm (Nam). Ông thọ 95 tuổi, là
người, theo sử sách như chúng tôi biết, thọ nhất trong Sử Việt; và cũng là bậc
Đại trí Đại hiền được cả ba Triều Vua lui tới tham vấn. Với danh vọng quán tuyệt
nhân quần ấy, người đời sau thường giả tên ông để đưa ra những lời tuyên
truyền mạo nhận Sấm Trạng Trình, hầu kiếm lợi riêng cho Vương Triều, Đảng
tộc của họ.

     Thú Nhàn



     Tượng Nguyễn Bỉnh Khiêm
     (xã Lý Học, Huyện Vĩnh Bảo,
Hải Phòng)

Lẩn thẩn ngày qua lại tháng qua

Một năm Xuân tới một phen già

Ái ưu vằng vặc trăng in nước,

Danh lợi dửng dưng gió thổi hoa.

Án sách hãy còn án sách cũ

Nước non bạn với nước non nhà.


     Tự Tiêu Dao


Xóm tự nhiên, lều một căn,

Quét không thảy thảy bụi hồng trần.

Nghìn hàng cam quất, con đòi cũ,

Mấy đứa ngư tiều, bộ bạn thân.

Thấy nguyệt tròn thì kể tháng,

Nhìn hoa nở mới hay Xuân.



NGÔ CHI LAN (Thế Kỷ XV-XVI)


Nữ sĩ đời vua Lê Thánh-tôn, quê làng Phù Lỗ, huyện Kim Anh (nay là Đông
Anh, ngoại thành Hà Nội), chồng là Đông các Đại học sĩ Phù Thúc Hoành ở
làng Phù Xá, cùng huyện. Bà nổi tiếng giỏi thi ca từ khúc, thường được vua
triệu vào hầu thơ, rồi lại phong chức Phù gia Nữ học sĩ và nhờ bà dậy các
cung nhân. Có tập thơ Mai trang tập nhưng hiện đã thất truyền. Bà mất
năm 41 tuổi.

     Vịnh Xuân


Khí trời ấm áp đượm hơi dương

Thấp thoáng lâu đài vẻ ác vàng

Rèm liễu líu lo oanh hót gió

Giậu hoa phấp phới

bướm châm hương.



ĐẶNG ĐỨC SIÊU (1755-1813)


Ông người ở Bồng-Sơn, tỉnh Bình-Định, đậu hương-tiến năm 16 tuổi. Triều Duệ
tôn nhà Nguyễn, làm quan ở tòa Hàn Lâm, tới thời Tây-Sơn, ông về hưu. Đến
lúc Gia-Long lên ngôi, vời ông ra làm Hoàng-Tử Phụ-đạo, dần dần thăng đến
Lễ-Bộ Thượng-Thư. Ông mất năm Gia-Long thứ 11 (1813). Ông văn hay chữ
tốt, làm rất nhiều văn tế chữ nôm. Niên đại trên là theo Văn Đàn Bảo Giám,
(Nam Ký, Hà Nội, 1932), theo Từ Điển Văn Học Việt Nam của nxb Giáo Dục
(Hà Nội, 1999) thì ông sinh năm 1750 và mất năm 1810.

     Tối Ba Mươi Tết


Tháng lụn năm cùng sự chẳng cùng

Nửa đêm xuân lại nửa đêm đông

Chi lan tiệc cũ hương man mác

Đào lý vườn xuân tuyết lạnh lùng

(mất hai câu). . . . . . . . .

Gà kêu pháo nổ năm canh trót

Mừng tưởng mai đà gặp chúa Đông.



PHẠM THÁI (Chiêu Lỳ) (26.2.1777-1813)


Hiệu là Đan Phượng, thường gọi là Chiêu Lỳ, sinh năm Đinh Dậu ở xã An
Thường, Đông Ngạn thuộc phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc Gia Lâm,
ngoại thành Hà Nội. Ông là con Trạch Trung hầu, người từng khởi binh chống
Tây Sơn, mưu khôi phục Nhà Lê. Hai mươi tuổi, Phạm Thái nối chí Cha, trong
khi đi tu ở Chùa Tiêu Sơn, lấy hiệu là Phổ Chiêu thiền sư. Đời sau gọi ông là
Tiêu Sơn Tráng Sĩ. Ông yêu em gái bạn, Trương Quỳnh Như, song mẹ nàng
muốn con gái lấy chồng giầu, nên từ khước. Quỳnh Như tự vẫn chết. Phạm
Thái say sưa, lang thang, mất năm 35 tuổi. Ông có để lại tập "Sơ Kính Tân
Trang." [Gương mới Lược mới] Văn ông lãng mạn, tài hoa, cảm khái.

     Tình Xuân
           (Theo điệu Tây giang nguyệt)


Ai lên tử các thanh vân

Hỏi thăm ả Tố chiều xuân thế nào

Cầm âm một khúc gửi trao

Cậy lòng dì gió đưa vào xuân cung


Oanh yến véo von gọi khách

Cỏ hoa hớn hở mừng ai

Gió xuân hây hẩy dịu đưa người

Dễ khiến lòng thơ bối rối


Thấp thoáng thoi oanh dệt liễu

Thung thăng phấm bướm dồi mai

Vũ lăng xa viễn biết bao vời

Khôn hỏi Đào Nguyên đâu tá


Khôn hỏi Đào Nguyên đâu tá

Dòng ngự câu đeo lá tình thi

May thay một hội tương kỳ

Đã bên tình phận lại bề phong lưu


Câu hảo cầu đợi người thục nữ

Năm mây phong đôi chữ đồng tâm

Đón xuân nhắn với tri âm

Tính tình xin tỏ tiếng cầm này cho


Rắp hẹn hò ngồi hoa đứng tuyết

Lòng còn e không biết nói năng

Bây giờ mượn gió cung Đằng

Vì duyên đưa mối xích thằng lại đây.



NGUYỄN CÔNG TRỨ (1778-1859)


Ông sinh ngày 1 tháng 11 năm Mậu Tuất, về Triều vua Lê Hiển-tôn năm thứ
38, tại làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, thông minh, nhưng vì nhà
nghèo học muộn mãi đến 40 tuổi mới đậu Giải nguyên. Ông là một nhà văn học
kiêm cả võ nghệ nên được cử đi đánh Núng Văn Vân, sau lại cùng Tổng Đốc
Lê Văn Đức đi đánh Phan Bá Vành. Đến năm 1841 lại đi đánh Trấn Tây với
Trương Minh Giảng. Trong khi làm quan tại Miền Bắc, có công khai khẩn
Quảng Yên, Tiền Hải (Thái Bình), Kim Sơn (Ninh Bình). Tới tuổi 70 mới về hưu,
ngao du sơn thủy, mất tại quê nhà vào ngày 14 tháng 11, hưởng thọ 82 tuổi.
Ông nổi tiếng về ca trù.


     Nguyễn Công Trứ

     Cảnh Tết


Ai dám chê ta Tết Nhất nghèo

Nghèo mà lịch sự đố ai theo

Bánh chưng chất chặt chừng ba chiếc

Rượu thuốc ngâm đầy độ nửa siêu

Trừ tịch kêu vang ba tiếng pháo

Nguyên tiêu cao ngất một gang nêu

Ai xuân ta cũng chơi xuân với

Chung đỉnh ơn vua ngày tháng nhiều.




Đỗ Giang


     Tết Giao Thừa


Xuân lại đông qua thấm thoắt vừa

Nửa đêm lóp ngóp dậy giao thừa

Đổi trao một phút nhanh ra chớp

Tiếp tục hai năm ráp cắn cưa

Ngoài xóm đì đoành tràng pháo nổ

Trong nhà nghi ngút khói nhang đưa

Cùng nhau hí hửng mừng năm mới

Thử hỏi nhau rằng đã mới chưa.



Khuyết Danh


     Trách Xuân


Xuân một năm là mới một lần

Sự xuân tôi chửa thấu lòng xuân

Cũng mầu thắm ấy mầu xanh ấy

Sao chốn hơn phân chốn thiệt phân

Dễ khiến má hồng lo áy náy

Thêm thương đầu bạc giận tần ngần

Thôi thôi chớ tiến xuân qua cõi

Xuân ở cùng ta biết mấy lần.



TRẦN TẾ XƯƠNG (1869-1906)


Ông có nhiều tên: Trần Cao Xương, Tế Xương, Kế Xương, người làng Vị Xuyên,
huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, sinh vào năm Canh Ngọ đời Vua Tự Đức nhà
Nguyễn. Ông đi thi mấy lần đều phạm trường qui, sau rốt đậu được cái Tú tài
khi đã 25 tuổi. Trong Thi ca Việt Nam cuối thế kỷ XIX, Tú Xương là người đã
để lại nhiều bài thơ cay đắng nhất về người Pháp. Và cũng là người viết nhiều
nhất về gia cảnh mình. Trong khi ấy ông cũng để lại vài bài rất cảm động, buồn
xa vắng, nhớ mênh mông, mở đầu bằng những câu như: Sông kia giờ đã nên
đồng / Ta nhớ người xa cách núi sông, hay Quanh năm luôn bán ở mom sông.
Mặt khác, Tú Xương cũng là người làm nhiều thơ nhất về Xuân về Tết.


     Tết Suông


Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo

Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu

Rượu cúc nhắn đem hàng biếng quẩy

Chè sen mượn hỏi giá còn kiêu

Bánh đường sắp gói e nồm chảy

Giò lụa toan làm sợ nắng thiu

Thôi thế thì thôi đành Tết khác

Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo.


     Ngày Xuân Ngẫu Hứng


Xuân từ trong ấy mới ban ra

Xuân chẳng riêng ai khắp mọi nhà

Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột

Om xòm trên vách bức tranh gà

Chí cha chí chát khua giầy dép

Đen thủi đen thui cũng lượt là

Dám hỏi những nơi nơi cố quận

Rằng xuân xuân vẫn thế ru mà.


     Xuân Hứng


Một ngọn đông phong sẽ thổi phào

Đông quân nhường tỏ lối ra vào

Tường mai ngõ hạnh tuy như cũ

Lá bướm cành chim đã thế nào

Tranh pháo vui xem con trẻ nọ

Tóc râu thêm sợ tuổi trời cao

Tìm xuân dễ biết xuân đâu tá

Hương khói nhà ai cũng ngọt ngào.


     Chúc Tết


Bắt chước ai ta chúc mấy lời

Chúc cho khắp hết cả trong đời

Vua quan sĩ thứ người muôn nước

Sao được cho ra cái giống người.


     Đọc Sách


Một ngọn đèn xanh sách mấy chồng

Cười xuân hoa thắm một vài bông

Xiết bao ý vị bao tình tứ

Ngâm đọc thâu đêm dưới bóng lồng.


     Cảnh Tết Cô Đầu


Chị hỡi chị năm nay túng lắm

Biết làm sao Tết đến nơi rồi

Mới ngày nào chị mua muối cùng tôi

Ngoảnh mặt lại hàng vôi nay đã bán (*)

Này nụ này hoa này hài này hán

Pháo tranh tàu Hương Cảng mới đưa sang

Chị cùng em sắm sửa lo toan

Muốn mua chịu e nhà hàng ngại lạ

Chị em ta bảo nhau giữ giá

Đến bây giờ ngã cả có ai nâng

Cũng liều bán phấn chơi Xuân.


(*) Điển ý ở câu tục ngữ "Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi"



NGUYỄN VĂN LẠC (1842-1915)


Ông người làng Mỹ Chánh, Mỹ Tho, Nam Việt, hiệu là Sầm Giang, học giỏi, thơ
hay, biệt danh được biết đến nhiều là Học Lạc. Ông không đi thi, sống bằng
nghề bốc thuốc và bói dịch. Ông còn là tác giả những bài thơ Con tôm, Đất lành
chim đỗ, Coi bông vụ bị bắt, Ông lang hát bột, Chó chết trôi...

     Vịnh Đôi Gà Chọi


Đôi bên chưa chắc đặng cùng không

Thiên hạ ngày tròn mỏi mắt trông

Một trận quyết đền ơn tấm mẳn

Hai ngươi chớ ngại nắm xương lông

Rủi may đã có người hương khói

Khuya sớm cho cam kẻ ẵm bồng

Lừng lẫy danh thơm trong mấy nước

Làm sao năm đức giữ cho cùng.

Tháng 12. 2004

Viên Linh

Khởi Hành số 99-100, Tháng 1-2.2005

SÁCH THAM KHẢO:


Văn Đàn Bảo Giám, I, II, III, IV, Trần Trung Viên, Dương Bá Trạc, Tản Đà, Trần Tuấn Khải, Hư Chu, Nam Ký xuất bản, Hà Nội, 1932; qua bản chụp lại in ở Hoa Kỳ.

Việt Thi, Trần Trọng Kim, bản chụp lại.

Văn Học Đời Lý, Ngô Tất Tố.

Văn Học Đời Trần, Ngô Tất Tố.

Việt Nam Thi Văn Học Tuyển , Dương Quảng Hàm, Trung tâm Học Liệu, Bộ GD, Sài gòn.

Từ điển Văn học Việt Nam, Lại Nguyên Ân, nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1999.

Lược truyện các Tác gia Việt Nam. Trần Văn Giáp, nxb Sử Học, Viện Sử học, Hà Nội, 1962.

Từ điển Đường phố Hà Nội, Nguyễn Hoài, Nguyễn Loan, Nguyễn Tuệ, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.

Thơ Tú Xương, Vũ Hạnh Hiên, nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1992.

Nguyễn Khuyến, Thơ, Kiều Văn, nxb Đồng Nai, Sài gòn, 1996.

Tản Đà Vận Văn, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, in từ bản chụp lại.

Trong bài có đôi chỗ chúng tôi dùng lại những câu giới thiệu tiểu sử các nhà thơ của Văn Đàn Bảo Giám.

Tranh khắc gỗ Văn Miếu lấy từ Việt Nam Văn Học Sử Yếu của Dương Quảng Hàm.


Học xá minh họa thêm hình trong bài trích từ Từ Điển Văn Học Bộ Mới, nxb Thế Giới, 2004.



Cung Tac Gia

Cùng Tác Giả:

 

- Hồi Sinh Viên Linh Truyện ngắn

- Dòng Thơ Chính Khí thời tiền chiến: Nhà thơ Thâm Tâm (1917-1950) Viên Linh Nhận định

- Tâm sự năm thứ 21 ‘Khởi Hành’ Viên Linh Hồi ức

- Ý kiến về một bài trên Học Xá Viên Linh Ý kiến

- Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn Việt Nam Viên Linh Lời Tựa

- Nguyễn Thị Hoàng, tuyển truyện 12 tác giả Viên Linh Giới thiệu

- Mấy Chân Dung Văn Nghệ Hiện Đại Của Huỳnh Hữu Ủy Viên Linh Nhận định

- Vài tác giả của tạp chí Tư Tưởng Viên Linh Giới thiệu

- Nhà thơ, nhà báo Nguyễn Vỹ Viên Linh Nhận định

- Mục Tạp Ghi và ký giả Lô Răng Viên Linh Nhận định

 

 

Tho

 

 

  Thơ:

 

Khát Vọng (Trần Yên Hòa)

Chất Thơ Do Cảm Nhận Vài Kiến Thức Về Tư Tưởng Của Kant Và Hegel (Trần Văn Nam)

Các Bài Thơ Nôm Đầu Tiên Trong Văn Học Chữ Nôm (Tuệ Chương)

Đi Tìm Đường Bay Ưu Việt Của Thi Ca (Thái Tú Hạp)

Tứ Thơ Và Chiến Tranh: Chiến-Sự Dù Nhỏ, Cũng Đã Lưu-Dấu Trong Thơ (Trần Văn Nam)

Những Dời Đổi Địa Hình và Mối Hoài Cảm Thi Ca (Trần Văn Nam)

Đất Nước Của Ma Quỷ (Bùi Chí Vinh)

Thời Đại Tôi Đang Sống (Nguyễn Thị Thanh Yến)

Bài thơ độc vận “ơ” làm trong men rượu say (Trần Thoại Nguyên)

Đất nước mình ngộ quá phải không anh (Trần Thị Lam)

Những đôi mắt ngủ quên (Trương Đình Phượng)

Con đường mới | Mở cửa (Trương Đình Phượng)

Mưa lạnh trên đèo (Xuân Thao)

Ân Tình Mẹ (Trần Kiêm Đoàn)

Mùa Xuân Và Linh Hồn Mới (Trần Mộng Tú)

 

  Thơ Dịch:

 (Vietnamese Poetry translated into English)

 

Đàm Trung Pháp & Viên Linh dịch và chú giải:

 

Vịnh Hai bà Trưng (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)

Ăn Cỗ Đầu Người (Nguyễn Biểu)

Đoạt Sáo Chương Dương Độ (Trần Quang Khải)

Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

Thề Non Nước (Tản Đà)

Thi Nhiệt (Lý Đông A)

Vịnh Tranh Gà Lợn (Vũ Hoàng Chương)

Gọi Hồn (Viên Linh)

 

Huỳnh Sanh Thông dịch:

 

Thăng Long (Nguyễn Du)

Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du)

Hồ Hoàn Kiếm (Vô Danh)

Thăng Long Thành Hoài Cổ

 (Bà Huyện Thanh Quan)

Chiều Hôm Nhớ Nhà (Bà Huyện Thanh Quan)

Lên Đèo Hải Vân (Huỳnh Mẫn Đạt)

Vịnh Bức Dư Đồ Rách (Tản Đà)

Màu Tím Hoa Sim (Hữu Loan)

Nhà tôi (Yên Thao)

Sóng (Xuân Quỳnh)

Hai Sắc Hoa Tigôn (T.T.Kh.)

 

Lê Đình Nhất-Lang & Nguyễn Tiến Văn dịch:

 

Cùng khổ (Bùi Chát)

Hoa sữa (Bùi Chát)

Bài thơ một vần (Bùi Chát)

Đèn đỏ (Bùi Chát)

Ai? (Bùi Chát)

Những người đáng trọng & những kẻ đáng khinh

 (Lý Đợi)

 

Các tác giả khác dịch:

 

Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi (Nguyễn Đình Toàn)

 (Do Dinh Tuan dịch)

Bữa Tiệc Hòa Bình (Nguyễn Thị Thanh Bình)

 (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

Từ Một Cuốn Rún (Nguyễn Thị Thanh Bình)

 (Đinh Từ Bích Thúy dịch)

Vì Người Ta Cần Ánh Mặt Trời (Nguyễn Đắc Kiên)

 (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

 

  Thơ Cổ:

 

Cảnh Đẹp Thành Thăng Long Thời Tây Sơn Qua Thi Ca Đoàn Nguyễn Tuấn (Phạm Trọng Chánh)

Chinh Phụ Ngâm diễn nôm, một dịch phẩm thần kỳ (Đàm Trung Pháp)

Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào? (Trần Từ Mai)

Đọc lại một số thi phẩm của Phan Châu Trinh (Phan Thành Khương)

Nhất Chi Mai - Chất Người Muôn Thuở (Phan Trang Hy)

Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

Nguyễn Trãi Huyễn-Thực và Sắc-Không (Trần Ngọc Ninh)

Quá Phong Khê, Một Bài Thơ Kỳ Tuyệt (Phạm Khắc Hàm)

Giới thiệu Bài Thơ "Trừ Tịch" của Đặng Đức Siêu (Trần Từ Mai)

Xuân Xưa Thơ Trước, Hồn Ngàn Mùa (Viên Linh)

Bạch Đằng Giang Phú (Trương Hán Siêu)

Thuật Hoài (Phạm Ngũ Lão)

Thuật Hoài (Đặng Dung)

Lâm Cảng Dạ Bạc (Nguyễn Trãi)

Ngày Xuân Đọc "Đào Hoa Thi" của Nguyễn Trãi (Trần Uyên Thi)

Thơ Lý Bạch (Đàm Trung Pháp)

 

  Thơ Tuyển:

 

Khói Trắng (Kiên Giang)

Lòng Mẹ (Nguyễn Bính)

Tình yêu mẹ - Tình yêu con (Nguyễn Thu Hằng)

Hẹn Anh Một Ngày Tái Ngộ (Ngô Minh Hằng)

Những tháng tư buồn (Nguyễn Thị Hằng)

Nỗi buồn tháng 4 (Huy Uyên)

Khởi Hành (Trần Thúc Vũ)

Quà Tặng Trong Chiến Tranh (Trần Mộng Tú)

Mã Viện (tác giả: Vô Danh) (Nguyễn Văn Ngọc)

Mẹ và sự lặng im (Trần Mộng Tú)

Thơ Về Mẹ (Nhiều tác giả)

Hai Chữ Nước Nhà (Trần Tuấn Khải)

Đói (Bàng Bá Lân)

Lời Mẹ Dặn (Phùng Quán)

Nước Tôi (Nguyễn Văn Cổn)

Thơ Tưởng Niệm Ngày 30 Tháng Tư (Nhiều tác giả)

Thơ Tình Ngày Valentine (Nhiều tác giả)

Kỷ Niệm Chiến Thắng Đống Đa (Hoàng Phong Linh)

Thơ và Câu Đối Mừng Xuân (Nhiều tác giả)

Quốc Nam, Quốc Việt (Hồ Bạch Thảo)

Bài Thơ Vô Đề Viết Trong Trại Tù Tập Trung (Tú Kếu)

Thơ Tưởng Niệm Các Anh Hùng Tử Sĩ ở Hoàng Sa (Nhiều tác giả)

Bình Giảng: Đời Đáng Chán và Tống Biệt của Tản Đà (Thạch Trung Giả)

Thơ Tiền Chiến (Nhiều tác giả)

Tây Tiến (Quang Dũng)

Đêm Liên Hoan (Hoàng Cầm)

Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Cao Tiêu)

Biên Cương Hành (Phạm Ngọc Lư)

Thơ Xuân (Nhiều tác giả)

Đồng Lầy (Nguyễn Chí Thiện)

Ta Về (Tô Thùy Yên)

Trường Sa Hành (Tô Thùy Yên)

Kịch thơ: Hận Nam Quan (Hoàng Cầm)

 

  Tục ngữ (Proverbs)

 

Tre già măng mọc

Đục nước béo cò

Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng

Gà một mẹ đá nhau

 

  Danh Ngôn

  Đố vui (Puzzles)

 
 

 

© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@hotmail.com)