1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Từ Điển Anh Việt

       

          

       

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      Thư viện Người Việt:
      NAM PHONG
      TRI TÂN
      THANH NGHỊ
      NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
       

       

    2. Đọc "Buồn Ga Nhỏ" và "Thơ Xuân Đất Khách" của Thanh Nam (Trần Văn Nam)
      14-10-2014 | VĂN HỌC

      Đọc "Buồn Ga Nhỏ""Thơ Xuân Đất Khách" của Thanh Nam

       TRẦN VĂN NAM


         Nhà văn Thanh Nam

      Nhà Văn Thanh Nam là một trong những người đầu tiên rời khỏi đất nước Việt Nam vào tháng 4 năm 1975. Ông có nhiều tác phẩm văn xuôi. Văn ông hay, chừng mực, nhưng có lẽ vì không làm thành một khúc rẽ văn học, không mang một nội dung với đề tài mới, cũng không là đại diện cho một giai đoạn lịch sử nào đó, nên tác phẩm văn xuôi của ông hình như mờ nhạt với thời gian, đóng khung như một mảnh đời lặng lẽ qua truyện "Buồn Ga Nhỏ" của ông. Đó là một truyện thật đơn giản như không phải truyện theo ý nghĩa cần nhiều tình tiết, vậy chỉ là mảnh đời của một thiếu nữ tên Hảo.


      Hảo theo gia đình cha làm nhân viên ở một nhà ga xe lửa heo hút, lên đây từ lúc tám tuổi. Năm Hảo mười bốn tuổi thì mẹ qua đời, cha sau đó tục huyền với một người đàn bà bán thức ăn trên xe lửa. Gia đình còn có mười anh trai làm phu khuân vác ở ga xe lửa, rồi một ngày kia thì bỏ nhà đi đâu không biết và không thấy tác giả nhắc đến nữa. Cuộc sống của Hảo tiếp diễn như trước khi mẹ mất, với "một ông bố nghiện rượu, yêu những toa tàu và những chai rượu hơn yêu vợ con". Năm mười bảy tuổi, Hảo lấy chồng già hơn nàng gần hai chục tuổi, lại còn "đen đủi và xấu xí như một đầu tàu xe lửa cũ kỹ", cũng là nột nhân viên trong nhà ga và cũng nghiện rượu như cha vợ. Cuộc đời của Hảo đóng khung, buồn bã với số phận bên người chồng không ra gì như kiếp sống của mẹ trước kia.


      Một người bạn học của anh trai từ hồi nhỏ, trước có để ý đến Hảo, nay đang làm việc khấm khá ở Sài Gòn, và trở về muốn thố lộ với Hảo một điều gì; nhưng Hảo thụ động dù cũng xao xuyến, nên đã đóng lại những biến chuyển sắp sang trang thành một truyện dài; khép lại lịch sử để chỉ còn là một mảnh đời của một truyện ngắn, "một sự tiếp nối những buồn nản thường xuyên chạy dài như những con đường sắt".


      So sánh với cuốn tiểu thuyết đồ sộ "Xóm Cầu Mới" của Nhất Linh, cả hai tác giả đều lấy cảm hứng từ những cuộc đời bình thường trong bối cảnh heo hút. Nhưng đời người dù cho bình dị đến đâu cũng có thể đã từng trải qua bao nhiêu đổi thay, như những người trôi giạt vì một cơn lụt đến ngụ cư nơi xóm ven một chiếc cầu. Nhà văn Nhất Linh đã viễn kiến thấy những nhân vật tầm thường đó cũng mỗi người là một cánh cửa mở của lịch sử, cũng mỗi người là một thế giới tâm lý phong phú, có thể đào sâu thành một truyện rất dài, đúng như nhà văn đã tiên liệu sẽ là "một cuốn Đông Chu Liệt Quốc của những đời sống tầm thường... sinh hoạt ở trong một cái xóm nhỏ ở đầu một chiếc cầu gỗ từ lúc cầu bắt đầu mọt cho đến khi cầu gẫy, và xóm nhỏ và các gia đình cũng tan tác theo với chiếc cầu gỗ". Nhà văn Nhất Linh có khuynh hướng mở ra cho lịch sử mỗi nhân vật theo dòng đời đổi thay, trong khi nhà văn Thanh Nam khép lại lịch sử của nhân vật để chỉ thành một mảnh đời lặng lẽ không biến cố.


      Về văn xuôi thì như vậy, nghĩa là Thanh Nam không mở ra một hướng nào mới như Nhất Linh đã từ bỏ khuynh hướng viết "tiểu thuyết luận đề" của mình trước đây để có một bước ngoặt khác. Nhưng về thơ thì Thanh Nam tình cờ có một bài thơ thả neo vào một thời kỳ, thời "di tản buồn" đến Hoa kỳ vào năm 1975. Thơ của ông cảm động qua bài "Thơ Xuân Đất Khách" trong thi phẩm "Đất khách" (xb. vào tháng tư năm 1983 tai Arkansas, Hoa Kỳ, bài thơ này đề Gửi Viên Linh). Lúc đó, ngườl Việt thật ít ỏi, sống rải rác, không làm thành một cộng đồng đông vui mà cũng phức biệt như ngày nay. Nhưng thơ ông ngậm ngùi buồn đau thế sự:


      Quê người nghĩ xót thân lưu lạc

      Đất lạ đâu ngờ buổi viễn du

      Thức ngủ một mình trong tủi nhục

      Dặm dài chân mỏi bước bơ vơ

      Giống như người lính vừa thua trận

      Nằm giữa sa trường nát gió mưa

      Khép mắt cố quên đời chiến sĩ

      Làm thân cây cỏ gục ven bờ

      Chợt nghe từ đáy hồn thương tích

      Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa.


      Trở lui thời gian vào năm 1975, ra đi như một đứt lìa vĩnh viễn với cố quốc, khó khăn cả việc thư từ liên lạc, huống chi là còn dịp trở về thăm quê hương như bây giờ, trở lui như vậy mới thông cảm với nỗi ray rứt trong thơ Thanh Nam:


      Mất nhau từ buổi tàn xuân đó

      Không một tin nhà, một cánh thư

      Biền biệt thời gian mòn mỏi đợi

      Rối bời tâm sự tuyết đan tơ.


      Hình ảnh cuộc thua trận, ông vẽ ra thật thê thảm nhưng có vẻ chung chung, kiểu sách vở về chiến tranh Đông Tây Kim Cổ, lời thơ như thuộc về thời "Chinh Phụ Ngâm". Chỉ cái hiện thực đời sống là được ông nói đến một cách đặc thù, diễn ra cho người mới đến Hoa Kỳ. Vào năm 1975, nhà văn Thanh Nam đã ở vào tuổi trung niên, tất nhiên là dở dang khi hội nhập vào xứ người, khó khăn về nghề nghiệp, khó khăn về ngôn ngữ:


      Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt

      Tập làm con trẻ nói ngu ngơ

      Vùi sâu dĩ vãng vào tro bụi

      Thân phận không bằng đứa mãng phu.


      Nhà văn Thanh Nam đến Hoa Kỳ lúc mới vào thời trung niên, chỉ vào khoảng từ 40 đến 45 tuổi, khoảng tuổi đó kể như đã về chiều đối với người các xứ Á Châu, nhưng đối với tuổi thọ khá dài như bây giờ ở các nước tiên tiến về môi trường sống và chăm lo sức khỏe, thì tuổi đó đang là tuổi tháo vác và sáng tạo trong việc làm. Lại còn vướng mắc vấn đề " sĩ diện", khiến cuộc đời không thích nghi. Vì ông vốn là nhà văn thành công khi ở trong nước, đã có trình độ Việt Ngữ hoặc Pháp Ngữ; không muốn đến trường học Anh Ngữ như lớp người mới định cư khác; không muốn đi vào môi trường dòng chính tìm việc làm mà thường là lao động dành cho người không có kinh nghiệm chuyên môn ngành nghề kỹ thuật nào. Vì vậy từ ngày đến Hoa Kỳ cho đến khi mất, nhà văn chỉ lo công việc gần gũi với chữ nghĩa Việt ngữ là làm tờ báo "Đất Mới" cho cộng đồng người Việt. Hơn nữa, cộng đồng người Việt đó lại quá ít ỏi ở một nơi xa xôi gần Canada, tiểu bang Washington. Như vậy thì làm sao đời sống có thể cải thiện khá hơn khi đang ở trong một xứ đáng lý là dễ thăng tiến, do đó ông mới chua chát thấy "Thân phận không bằng đứa mãng phu".


      Chứng nhân của thời kỳ đầu di tản sang Hoa Kỳ, đại diện rõ nét về thi ca hội nhập đời sống là Cao Tần và Thanh Nam. Sau cuộc di tản 1975 là thời vượt biên, thời ra đi theo chương trình thỏa thuận giữa chính quyền Việt Nam và Hoa Kỳ, thì mỗi thời kỳ còn nhiều nhà thơ đại diện cho hội nhập buồn hoặc hội nhập vui, hoặc hội nhập tất nhiên. Như giới hạn vào thời di tản có thêm Giang Hữu Tuyên với bài thơ hội nhập buồn "Trời Mưa Đi Phát Báo", nhưng ít người biết đến cho đến khi Giang Hữu Tuyên mất vào ngày 14 tháng 11 năm 2004 tại Hoa Thịnh Đốn. Cùng đi vào cảng mới nay cuối cuộc Chiến Tranh Việt Nam, nhưng Cao Tần đã bỏ neo bằng một văn phong lạ, văn phong đưa văn xuôi sống sượng vào thơ như lời nhận định của nhà phê bình Nhuyễn Hưng Quốc, trong khi đó Thanh Nam chỉ bỏ neo bằng một văn phong cổ kính vào nền văn chương hải ngoại.


      Thanh Nam mất ngày 2 tháng 6 năm 1985 tại Seattle, tiểu bang Washington. Như vậy thì ông định cư tại Hoa Kỳ chỉ vào khoảng 9 năm, đó là thời gian khá ngắn để có những đổi thay cuộc sống. Vì vậy bài Thơ Xuân Đất Khách báo hiệu trước sự khép lại lịch sử, chỉ vĩnh viễn là đại diện cho thi ca hội nhập buồn. Nhưng nhà thơ Cao Tần có những biến chuyển từ bất mãn cuộc sống buổi đầu, sang giai đoạn làm những việc an nhàn đều đặn mà tác giả khiêm tốn gọi là tháng năm hèn; thơ có sử tính đi từ hậm hực sang bình thản với cuộc đời:


      Râu lâu lâu cạo lâu lâu để

      Cho tháng năm hèn tí biển dâu...

      Thôi thì ta để râu cho quen

      Mai mốt tìm về nơi tịch mịch

      Vuốt ngậm ngùi dăm sợi thần tiên

      Cho những đời sau làm cổ tích.

      (Trích bài thơ Gửi Thảo Trường)


      Thơ Thanh Nam, trái lại, đã chấm dứt sử tính. Cái chết của ông đình chỉ mọi sự đổi thay về cuộc sống. Nếu còn sống lâu, biết đâu chừng ông có dịp thành công về mưu sinh, để thi ca lại có lịch sử từ những phản ánh lạc quan hoặc cởi bỏ bon chen để hướng về siêu thoát.


      "Buồn Ga Nhỏ" của Thanh Nam khép lại lịch sử bằng lối viết có vẻ như tác giả không muốn mở rộng tình tiết để một mảnh đời thành một cuộc đời chất chứa trong truyện dài. Còn thơ của Thanh Nam mãi mãi là thơ hội nhập buồn do định mệnh đã khép lại lịch sử.


      Trần Văn Nam

      Tân Văn số 5, Tháng 12.2007

      (1) Trong tập này tôi chỉ đề cập tới những truyện ngắn.

      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Nhà Thơ Thành Tôn Và Những Hình Ảnh Tận Tụy Với Văn Học Trần Văn Nam Tạp bút

      - Tứ Thơ Và Chiến Tranh: Chiến-Sự Dù Nhỏ, Cũng Đã Lưu-Dấu Trong Thơ Trần Văn Nam Thơ

      - Nghĩ Về Thơ Biểu Cảm Và Thơ Biện Luận (Qua Thi Phẩm của Thành Tôn) Trần Văn Nam Nhận định

      - Những Dời Đổi Địa Hình và Mối Hoài Cảm Thi Ca Trần Văn Nam Thơ

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975 Của Nguyễn Vy Khanh: Động Cơ Thực Hiện Trần Văn Nam Nhận định

      - Thơ Tình Tám Chữ Theo Lối Nhà Thơ Nguyên Sa Trần Văn Nam Thơ

      - Nguyên văn bài thơ “KHOÁC KÍN” của Cung Trầm Tưởng Trần Văn Nam Bổ túc

      - Bài Phát Biểu Nhân Dịp Nhà Thơ Cung Trầm Tưởng Ra Mắt Sách Ở Quận Cam Trần Văn Nam Phát biểu

      - Hình Dung Một Vòm Trời Nước Pháp Qua Thơ Cung Trầm Tưởng Trần Văn Nam Nhận định

      - Chiến-Ðấu-Ca Và Bi-Hoài-Ca Song Hành Trong Bài Thơ Tây-Tiến Trần Văn Nam Nhận định

    3. Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Nhớ học giả Hoàng Văn Chí (ViênLinh)

      - Ông Nguyễn Hiến Lê Và Tôi (Đỗ Hồng Ngọc)

      - Trống một chỗ ngồi (Nguyễn Văn Sâm)

      - Nhân đọc bản thảo cuốn “Nguyễn Hiến Lê” của Châu Hải Kỳ (Võ Phiến)

      - Hội chợ sách Tiếng Quê Hương: 17 năm giữ gìn tiếng Việt (Lâm Hoài Thạch)

      - Ông Nguyễn Hiến Lê và 100 tác phẩm (Bách Khoa)

      - Nhà Thơ Thành Tôn Và Những Hình Ảnh Tận Tụy Với Văn Học (Trần Văn Nam)

      - Nhớ Phạm Ngọc Lư (Nguyễn Lệ Uyên)

      - Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt Của Lưu Quang Vũ

      (Xuân Vũ)

      - Một bài thơ của Minh Đức Hoài Trinh (Nguyễn Liệu)

      - Cho một kiếp mơ được yêu nhau (Tuấn Khanh)

      - Phỏng vấn nhà văn Thảo Trường (Đặng Phú Phong)

      - Thử Tìm Hiểu Ý Tưởng Vũ Hoàng Chương Trong Bài "Đọc Lại Người Xưa: Bành Ngọc Lân (Trần Từ Mai)

      - Số báo cuối cùng của Ba Tạp Chí Văn Học Miền Nam (Trần Hoài Thư)

      - Vài kỷ niệm viết lách với Thanh Nam

      (Bình Nguyên Lộc)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Một chuyến đi (Trăm lần vui. Vạn lần buồn) (Phạm Văn Nhàn)

      - Viết về Duyên (Đỗ Xuân Tê)

      - Hình như cây súng con lạ lắm (Trần Hoài Thư)

      - Đôi mắt La Ronda (Trần Hoài Thư)

      - Bằng Hữu, Thật Sống Đủ Ngay Đây (Phan Nhật Nam)

      - Gặp anh Đặng Tiến và đi thăm Trần Hoài Thư (Phạm Văn Nhàn)

      - Những Giải Thưởng Văn Chương Trên Nước Việt (Nguiễn Hữu Ngư)

      - Đứng Trước Thực Tại (Lý Hoàng Phong)

      - Tản Mạn Về Tính Nhân Bản Trong Thi Ca Miền Nam Thời Chiến (Trần Hoài Thư)

      - Nhận Định Về Thơ Hậu Chiến (Lê Huy Oanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      - Cuộc Phỏng Vấn Văn Nghệ (Nguyễn Ngu Í)

      - Đi tìm nguồn cội (Nguyễn Xuân Hoàng)

      - "Chúng ta đi mang theo Văn học Miền Nam": Trường hợp tạp chí Khởi Hành Bộ Mới... (Nguyễn Tà Cúc)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Du Tử Lê,  Dương Nghiễm Mậu,  Hà Thúc Sinh,  Hà Thượng Nhân,  Hàn Mặc Tử,  Hoài Khanh,  Hoàng Khởi Phong,  Hoàng Ngọc Hiển,  Hoàng Xuân Sơn,  Huỳnh Hữu Ủy,  Khoa Hữu,  Lâm Chương,  Lâm Hảo Dũng,  Lâm Vị Thủy,  Lê Hữu,  Lê Văn Trung,  Luân Hoán,  Mặc Đỗ,  Mai Thảo,  Minh Đức Hoài Trinh,  Ngô Nguyên Nghiễm,  Nguyễn Âu Hồng,  Nguyễn Bắc Sơn,  Nguyễn Lệ Uyên,  Nguyễn Mạnh Côn,  Nguyễn Ngọc Tư,  Nguyễn Phan Thịnh,  Nguyên Sa,  Nguyễn Tất Nhiên,  Nguyễn Thị Hoàng,  Nguyễn Thị Thanh Bình,  Nguyễn Thị Thuỵ Vũ,  Nguyễn Văn Sâm,  Nguyễn Vỹ,  Nguyễn Vy Khanh,  Nguyễn Xuân Hoàng,  Nguyễn Xuân Thiệp,  Nguyễn Đình Toàn,  Nguyễn Đức Sơn,  Nhật Tiến,  Nhất Tuấn,  Phạm Cao Hoàng,  Phạm Ngọc Lư,  Phạm Phú Minh,  Phan Lạc Phúc,  Phan Nhật Nam,  Phan Trang Hy,  Phùng Cung,  Phùng Thăng,  Sơn Nam,  Tâm Thanh,  TchyA,  Thái Văn Kiểm,  Thanh Nam,  Thanh Tâm Tuyền,  Thành Tôn,  Thảo Ca,  Thảo Trường,  Tiểu Tử,  Tô Thùy Yên,  Trần Hoài Thư,  Trần Mộng Tú,  Trần Phù Thế,  Trần Thúc Vũ,  Trần Tuấn Kiệt,  Trần Văn Nam,  Trần Yên Hòa,  Trịnh Y Thư,  Từ Thế Mộng,  Tuệ Sỹ,  Viên Linh,  Võ Phiến,  Vũ Hữu Định,  Vũ Khắc Khoan,  Xuân Thao,  Xuân Vũ,  Y Uyên,  Đặng Phú Phong,  Đào Anh Dũng,  Đỗ Quyên,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)