1. Head_
    Lữ Liên
    (..1917-8.7.2012)
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Nguyễn Đức Sơn: Một Đỉnh Thơ Kỳ Dị Và Cô Độc (Huỳnh Hữu Ủy)

      15-06-2020 | VĂN HỌC

      Nguyễn Đức Sơn: Một Đỉnh Thơ Kỳ Dị Và Cô Độc

       HUỲNH HỮU ỦY
      Share File.php Share File
          

       


          Sơn Núi Đại Lão
         (Đinh Cường 8.8.2011)

      Trong một bài viết về Bùi Giáng gần đây, tôi có nhắc đến một cô phong đỉnh của vòm thơ Việt hiện đại, đấy là tôi muốn đề cập đến Nguyễn Đức Sơn, cũng là một tài năng rất lạ lùng của nền thi ca đương đại của chúng ta. Cũng ngang ngửa với Bùi Giáng những bước đi bằng một nhịp điệu khác, cũng tài năng lồng lộng và cuộc đời thì vô cùng kỳ cục, kỳ dị, kỳ quái, bao nhiêu chữ kỳ tìm thấy trong từ điển có lẽ đều dùng được để mô tả về chàng thi sĩ này.


      Mấy năm cuối thập niên 50 và đầu 60, Nguyễn Đức Sơn xuất hiện như một hiện tượng ồn ào, ồn ào nhưng vẫn chất chứa, tiềm ẩn một cái gì đó rất sâu thẳm. Văn phong tài hoa, tư tưởng khiêu khích, thái độ ngông nghênh, vung tán tàn. Sau vài bài thơ được ghi nhận là đột khởi thành một dòng riêng biệt trên Sáng TạoVăn Nghệ, Nguyễn Đức Sơn đặc biệt xử dụng báo Mai của ông Hoàng Minh Tuynh như một diễn đàn thích hợp để gây nên bao nhiêu chuyện ồn ào, từ sáng tác văn nghệ cho đến cả những lời nhắn, lời rao trên mục hộp thư. Những truyện ngắn của Nguyễn Đức Sơn in trên báo Mai được chủ nhiệm Hoàng Minh Tuynh giới thiệu rất trang trọng, ưu ái, có nhiều biệt nhãn, như chuyện Cái chuồng khỉ, Thiên đàng địa ngục hai bên (1) đã tạo nên một sự quyến rũ rất đặc biệt đối với lớp người đọc trẻ của một nền văn học trẻ. Thực sự thì cũng không có gì mới mẻ lắm về phương diện tư tưởng, mà chỉ xoay quanh một số chủ đề của triết học hiện sinh đang có một sức quyến rũ nồng nàn đối với giới văn nghệ và trí thức. Cái chính yếu là thái độ của Nguyễn Đức Sơn và văn phong của anh đã tạo nên cái hấp lực đặc biệt đối với người đọc của anh.


      Mới đây, tình cờ mở quyển Tự điên thi ca Anh-Mỹ-Việt của Nguyễn Đình Tuyến xuất bản năm 1997 ở Houston, Texas, tôi thấy ông Tuyển xếp Nguyễn Đức Sơn vào khuynh hướng thơ hiện sinh, và để làm chứng cho điều đó, ông trích dẫn hai câu thơ dưới đây. Hai câu thơ này mặc dù còn non nớt và vụng về, viết lúc Nguyễn Đức Sơn còn ký bút hiệu Sao Trên Rừng vào những năm trước 60, tôi cũng xin trích dẫn lại ở đây để chúng ta có thể có một cái nhìn xuyên suốt về chàng thi sĩ này từ những bước chập chững cho đến ngày nay. Hai câu thơ ấy nói về sự vắng bóng của Thượng đế, Thượng đế đã chết, để con người có thể sống bằng tự chọn và tự do của mình.


      Trông lên Thượng đế đi rồi

      Hỏi mây thái cổ con người vẫn vi

      (Đêm Khơi)


      Từ Nietzsche đến Kierkegaard, Heidegger, Camus, Sartre, rồi Dostoievski, những khuôn mặt đồ sộ ấy đã thâm nhập bầu không khí tinh thần và văn nghệ của miền Nam những năm trước và sau dấu mốc 1960. Nhân cách văn hóa của Nguyễn Đức Sơn là một sự cộng hưởng để hình thành giữa bầu khí thời đại và cá tính độc đáo mãnh liệt của anh. Nên khi đề cập đến những bước chân đầu tiên của Nguyễn Đức Sơn, bước vào cõi văn chương và làm ồn ào nhiều chuyện thì không thể không đề cập đến tình thế lúc đó.

       

      Rất hẳn nhiên, tư tưởng hiện sinh là dòng chảy mạnh nhất, cuốn phăng phăng, đưa một số người đến với những nỗi ngờ vực, hoang mang, mất hướng. Chống lại định mệnh phi lý, họ lên đường đi tìm một ý nghĩa cho cuộc đời. Các thần linh đã chết, con người hiện sinh khẳng định sự tự do của mình. Cùng lúc đó, một số người khác lại chuyển động trên cuộc hành trình từ triết thuyết hiện sinh để đến với chủ nghĩa Marx, rồi đi lên rừng và tham dự vào cuộc chiến đấu giữa các bưng biền.

       

      Nguyễn Đức Sơn, con người tự do và cô đơn ấy quyết liệt báng bổ thần thánh, nên rất dễ hiểu là anh đã nồng nhiệt giới thiệu và bình luận về một tâm hồn đồng điệu: thi sĩ Tô Thùy Yên, người lên tiếng mạnh mẽ về chính nỗi cô đơn và sự tự do của con người. Bài giới thiệu ấy được in trên tờ Mặt Đất số 1 năm 1964 (2), nếu tôi nhớ không nhầm, đã xoáy trọng tâm trên những dòng thơ của bài thơ Thân phận của thi sĩ của Tô Thùy Yên. Có lẽ chúng ta cũng nên đọc vài đoạn trích từ Thân phận của thi sĩ để sống lại phần nào bầu khí tinh thần và trí tuệ mà Nguyễn Đức Sơn đang hít thở, đăm chiêu và cưu mang lúc bấy giờ:


      Cô đơn bằng Thượng Đế

      Yếu đuối như linh hồn

      Làm sao tôi trèo lên

      Vực thẳm tờ bản thảo

      Trắng im lìm giá băng


      Ngó thấy tự đằng xa

      Cuộc đời hàm tiếu thật

      Tôi lỡ dại ôm ghì

      Làm dập hoa, sướt gai

      ...

      Có đọc thuộc Thành thư,

      Linh hồn tôi vẫn vậy.

      Tôi vẫn không thể lạy

      Dù đứng trước hư vô.


      Đầu tôi cứng và trơn

      Thượng đế làm sao ngự?

      Tôi đành trốn chủ nợ

      Định mệnh đòi linh hồn.


      Năm tháng những hoàng hôn

      Đến rã rời thể xác

      Tôi thấy đã mất mát

      Tất cả trừ cô đơn.


      Đọc Tô Thùy Yên khi nói về Nguyễn Đức Sơn tưởng như lạc đề, nhưng thực ra không phải vậy. Qua những dòng thơ trên, chúng ta càng dễ đến gần với Nguyễn Đức Sơn hơn bằng sự chia sẻ với không khí quanh anh lúc ấy. Chúng ta hãy đọc thêm chính những lời Nguyễn Đức Sơn tự nói về mình, in trên trang bìa tập thơ Đêm Nguyệt Đông của anh:

      “Tác giả tự biết không một nơi nào trên trái đất này quạnh quẽ đến đau thương, đau thương đến chỗ muốn tự sát, như trong lòng tác giả, cũng như không nơi nào có thống khổ mênh mông và cực lạc xa vời như trong hồn tác giả (...) Một buổi chiều trốn học lang thang trên bờ biển Nha Trang, thời niên thiếu, tác giả suýt nổi cơn điên khi trực nhận mãnh liệt cái quá ư ngắn ngủi của kiếp sống và từ đó đâm ra khật khủng cho đến nay”. (3)

      Rõ ràng đó chính là cái bầu khí của những Meursault và Roquentin, cũng là những mối ám ảnh và tiếng vang khi rầm rì khi bùng nổ sôi sục từ một thế giới trầm thống của chiều sâu tâm lý phức tạp nơi “Anh em nhà Kamarazov”, “Tội ác và hình phạt” hay “Hồi ký viết dưới nhà mồ”.


      Có một cái gì đó hoảng loạn, hoang mang của một tiếng kêu thương sâu thẳm. Rồi những biến động chính trị và cuộc chiến bùng nổ dữ dội vào những năm 60 cũng đặt ra nhiều câu hỏi cho giới văn nghệ và tuổi trẻ. Trên tất cả bối cảnh ấy, Nguyễn Đức Sơn đã tìm ra một cách phát biểu riêng biệt của mình: một hòa hợp giữa nhu cầu sôi sục của bản thân và đòi hỏi quyết liệt của xã hội, lịch sử, hóa giải những xung đột nội tâm của một tâm hồn cô đơn khốc liệt. Rồi cuộc cách mạng tính dục như một giải phóng con người trước bao nhiêu bức bách đè nặng cũng góp phần rất nhiều trong sự hình thành tính cách tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Đức Sơn, rồi sau cùng là chất thiền đạo lây lan và phát triển mạnh mẽ sau biên cố 1963, là một đáp ứng cao nhất, mặc dù hơi thời thượng, để gỡ ra khỏi ngõ bí càng lúc càng trầm trọng.


      Trong Văn Học Miền Nam Tổng Quan, nhà văn Võ Phiến trích in lại mấy câu thơ của Nguyễn Đức Sơn, rồi đưa ra nhận xét có thể nói là rất xác đáng về Nguyễn Đức Sơn.


      Anh sẽ đến bất ngờ ai biết trước

      Miệng khô rồi nẻo cực lạc xa xôi

      Ôi một đêm bụi cỏ dáng thu người

      Em chưa đái mà hồn anh đã ướt

      (Vũng nước thánh)


      Và ở một bài thơ khác:


      ...

      Hai đứa nhìn nhau bảo phải im ru

      Em sắp đái và hồn anh chết cứng

      “Giữa trời bể bao la, sao rơi sóng vỗ, ông vừa nằm vọc c... vừa suy nghĩ mông lung về lẽ huyền vi của vũ trụ v.v... Những cái như thế không phải họa hoằn mới xảy ra. Nó xuất hiện đều đều trong thơ ông. Nó thành ra một đặc điểm của thơ ông, của tính khí, thái độ ông. Một thái độ thách thức, khiêu khích, chống đối, báng bổ thánh thần, thái độ của người méo miệng trợn mặt làm trò giữa cảnh cúng vái trang nghiêm, của người vất đồ dơ dáy lên những cái vẫn được xem là cao cả thiêng liêng.


      Nếu chỉ lăng quăng gàn dở ngoài đời thì vẫn có thể đó là chuyện tính nết. Nguyễn Đức Sơn đưa nó vô trong thơ, cố tình ghép nó bên cạnh cái cao siêu, vĩ đại, thì đây không là nết riêng nữa mà là một thái độ tinh thần. Thái độ Tản Đà rất ngông, Nguyễn Đức Sơn cũng ngông; Tản Đà ngông trong thơ mộng, Nguyễn Đức Sơn ngông mà ngỗ nghịch, phá phách” (4).

      Nhận xét trên rất hay nhưng những chữ “ngông mà ngỗ nghịch, phá phách” để mô tả Nguyễn Đức Sơn trong văn chương và cả ngoài cuộc đời thì tôi sợ rằng chưa đủ. Tôi muốn nói thêm rằng Nguyễn Đức Sơn là một cái gì đó rất kỳ cục, kỳ quái mà lại chất chứa một chiều sâu thâm viễn và u áo.

       


         Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn
        sơn dầu Đinh Cường, 1989

      Dục tính là ngưỡng cửa bí hiểm và khủng khiếp nhất của con người và trời đất. Ngưỡng cửa mà cũng là lằn ranh, là biên giới. Khi bước qua được ngưỡng cửa ấy, con người sẽ thư thái hay xuất thần bước vào một cảnh giới khác. Khi Nguyễn Đức Sơn viết bài thơ chỉ có ba chữ, viết thành hai dòng Hột/thì le thì quả là khủng khiếp, anh đã thu tóm tất cả yếu chỉ tông nguyên của trời đất, vũ trụ vào trong ba chữ ấy. Mọi hạt mầm đều phải nứt vở để phát triển sự sống, đó là yếu tính sinh sinh hóa hóa của trời đất, của vũ trụ, vạn vật. Nguyễn Đức Sơn đang còn hệ lụy, vướng bận trên bờ ranh ấy, nửa bên này nửa bên kia, vẫn còn phải bơi lội giữa dòng dục lạc và còn một chút xíu nữa thì sẽ đáo bỉ ngạn để bước qua một chân trời khác. Khi anh viết bài thơ dưới đây ở cái tuổi của một thanh niên sung sức vừa mới lớn, anh có vẻ như đang chuẩn bị cho một bước nhảy băng cả sinh mệnh đời mình với đầy cảm hứng sung mãn:

      Đầu tiên tôi thở cái phào

      Bao nhiêu phiền não như trào ra theo

      Nín hơi tối thở cái phèo

      Bao nhiêu mộng ảo bay vèo hư không


      Sướng nên tôi thở phập phồng

      Mây bay gió thổi trời hồng muôn năm

      Mai sau này chỗ tôi nằm

      Sao rơi lạnh lẽo âm thầm biển ru (5)

      Cứ mãi bước đi giữa cái hoang vắng ấy, ăn ngủ hít thở với cô tịch còn nhuộm màu bản năng, rồi cũng đến lúc anh hoát nhiên đại ngộ. Vứt bỏ hết tất cả, chẳng còn chút trói buộc nào, anh sống và cảm cái huyền diệu của trời đất, đối đầu với cái hư vô, cái không cùng vô thủy vô chung. Mặc dầu chữ nghĩa, cách diễn đạt và ý niệm hiện đại, bài thơ dưới đây vẫn nằm trong dòng thơ thiền, và riêng tôi, tôi cảm thấy rằng đây là một trong những bài thơ rất hay của dòng thơ thiền từ thời Lý-Trần cho mãi đến ngày nay.

      Khi thấm mệt tôi đi luồn ra núi

      Cuổi chiều tà chỉ gặp bãi hoang sơ

      Bước lủi thủi tôi đi luồn vô núi

      Nghe nắng tàn run rẩy bóng cây khô

      Chân rục rã tôi đi luồn ra núi

      Hôn rụng rời trước mặt bãi hư vô (6)

      Nguyễn Đức Sơn đã ngộ ra lẽ vô thường nhưng anh không an nhiên bước tiếp giữa cõi tĩnh lặng. Anh mặc chiếc áo nâu sồng của thiền sư nhưng chắc chỉ là để “giả dạng qua truông” sau khi đào thoát khỏi một trại lao công đào binh ở tiền tuyến vùng Tây Nguyên. Anh trở lại với cái xã hội ồn ào rồi vẫn quắt queo, hùng hục giữa cái thế giới cô độc của anh. Có lúc nhẹ nhàng, khinh khoái, nhưng thường xuyên vẫn là cay đắng, cô độc, sổ toẹt hết tất cả mọi thứ trên đời, đánh sập hết mọi bảng giá trị, lúc dữ dội nhất thì gần như thù hằn xã hội, văn minh và văn hóa của loài người.

       

      Ông Võ Phiến đã trích dẫn một ý kiến vô cùng đặc sắc của kịch tác gia và nhà viết tiểu luận Bửu Ý về Nguyễn Đức Sơn, vẽ lại bóng dáng Nguyễn Đức Sơn như một con tê giác cô đơn: “Hình ảnh của con tê giác, từ tính tình đến cách ăn nói, dáng đi... Đơn độc quắt queo. Dã man nghiệt ngã. Chỉ thong dong ở chốn không người: rừng và biển.” Võ Phiến cho biết Nguyễn Đức Sơn đã xem đó như một lời tri kỷ (7).

       

      Nguyễn Đức Sơn có một hiểu biết rộng rãi và sức cảm sâu, sắc bén, tinh vi về văn chương, nghệ thuật nhưng anh lại phủ nhận tất cả. Trong đời sống, anh cũng thường xuyên và hung hăng nói chuyện này chuyện khác, đặc biệt là chuyện chính trị, nào là lực lượng thứ ba, các nước phi liên kết, nào là Á Phi và Châu Mỹ La Tinh, nào là Mặt Trận Giải Phóng. Anh nói với tôi là ông Nguyễn Hữu Thọ gửi thư mời anh ra khu, anh nhận lời nhưng rồi không đi, tôi không biết điều này có thực hay không vì tôi không kiểm chứng được. Thái độ của anh là bao giờ cũng đứng về phía những người yếu, người bị đàn áp nhưng thực chất thì anh là một con người vô chính phủ. Mới ngày hôm trước, tôi có cảm giác anh là người của Mặt Trận Giải Phóng thì chỉ ngày hôm sau, sau 30.4.75, anh là người đầu tiện đi loan những câu ca dao, hò vè chống Cộng, anh đến gặp tôi và cho biết tin tức về những chuyến xe bí mật chở những sĩ quan chế độ cũ đi đâu mất tiêu vào giữa đêm tối bí mật. Có một hạng người sinh ra đời để gánh chịu số phận của người bị đàn áp, hay họ luôn luôn là người chống đối, đó chính là trường hợp Nguyễn Đức Sơn.


      Chống đối mà không có hàng ngũ nào để đứng vào nên bao giờ cũng là một kẻ thất thế. Sự thất thế đó chính là chọn lựa quyết liệt nhất của Nguyễn Đức Sơn. Mà hơn thế nữa, tổng hợp nhận xét của Võ Phiến và Bửu Ý đã trích dẫn ở bên trên, tôi xin thêm một chút xíu nữa: Nguyễn Đức Sơn là một con người lúc nào cũng thủ ở tay một nắm đá hay một gói đồ bẩn thỉu cả theo nghĩa đen và nghĩa bóng để sẵn sàng ném vào những tượng thần, tượng lãnh tụ hay những tên khổng lồ. Năm 1971 hay 72 gì đó, nhà xuất bản An Tiêm in một tập thơ của Nguyễn Đức Sơn theo thể nhịp hai, viết mỗi câu hai chữ, đại khái về hình thức thì gần như bài Sương Rơi của Nguyễn Vỹ thời tiền chiến. Tập thơ ấy là một tuyên ngôn văn hóa chính trị của Nguyễn Đức Sơn, rất dữ dội, ương ngạnh, trang tráo và dị hợm giữa lúc hòa đàm Paris đang tiến hành và sắp đến hồi kết cuộc. Trong tập thơ ấy, tôi còn nhớ mấy câu rất mạnh:


      Địa cầu

      Địa cầu

      Lãnh tụ

      C... lõ...


      Những câu thơ của Nguyễn Đức Sơn được viết ra như thế thì làm sao Hà Nội chịu đời cho thấu, nên trên chương trình văn nghệ gửi vào Nam của đài Hà Nội, Thái Ngọc San, một người bạn cũ đã có thời lang thang giang hồ với anh ở Bình Dương, kết án anh rất nặng nề. Trên tờ Mặt Đất số 1, Thái Ngọc San đã từng in bài thơ Ngày trở lại căn nhà cũ nói về một căn nhà hoang vắng, có lẽ là nơi T.N. San và Nguyễn Đức Sơn từng lưu trú, căn nhà hiu hắt, tiêu điều với những con rắn mối, thạch sùng tới lui trên vách. Sau năm 75, Thái Ngọc San có viết một truyện ngắn về cuộc đời Nguyễn Đức Sơn cũng khá hay trên tạp chí Sông Hương ở Huế. Mà đời Nguyễn Đức Sơn thì chỉ mô tả lại đủ hay rồi, không cần phải thêm thắt gì cả, có lẽ vì thế mà Nguyễn Đức Sơn nửa đùa nửa thực bảo rằng tờ báo phải trả nhuận bút truyện ngắn ấy cho anh mới đúng chứ sao lại trả cho Thái Ngọc San.


      Sau năm 75, Nguyễn Đức Sơn viết khá nhiều, nghe nói có đến mấy ngàn bài thơ và đều được anh chôn giấu rất kỹ, nơi một hang hốc nào đó trên vùng rừng núi Di Linh, Bảo Lộc hay gần khu Am Phương Bối. Anh có chép tặng tôi mấy bài, nhưng hoàn cảnh của tôi cũng không được mấy yên ổn nên không giữ được. Tôi còn nhớ loáng thoáng một bài thơ ngắn, không nhớ được rõ ràng từng chữ từng lời nhưng cũng chép lại ở đây, chỉ cốt giữ lấy cái ý mà thôi.

       

      Bài thơ này chỉ là ba câu rất ngắn, gay gắt, sắc cạnh nhưng vẫn rất thơ mộng:

       


      Đ.m. cây bông hồng

      Mày không lao động

      Sao mày vẫn trổ bông (*)


      Cây bông hồng trổ ra đóa hoa tươi thắm rực rỡ là một triển nở tự nhiên. Đó là con đường của thơ, của đạo, con đường trở về với bản thể tự nhiên. Đừng hỏi tại sao đóa hoa kia nở rực, đừng hỏi tại sao con chim xanh ngứa cổ đứng hót trên cành, cũng đừng hỏi tại sao người thơ ấy đã viết những vần thơ bất tuyệt giữa niềm cô đơn tịch lặng thăm thẳm. Tôi nhớ đến một câu thơ khác của Holderlin Bông hồng nở ra vì nó nở ra một cách tự nhiên, hay một dòng thơ khác trúc trắc cầu kỳ của Gertrude Stein Đóa hồng là một đóa hồng là một đóa hồng là một đóa hồng. Nhưng ở đây, đóa hồng tuyệt đẹp và cao quý ấy đã bị kết án. Phía sau lời kết án ấy, chúng ta chỉ còn thấy một toàn cảnh xô xám, ảm đạm đến cùng cực. Ở đó, cái tươi mát của cảnh vật và nội tâm đã hoàn toàn tan vỡ, trên mặt đất chỉ còn là một thế giới của gian trá, áp bức, tội lỗi, tàn ác và xuẩn ngốc.

       

      Thời tiền chiến, Nguyễn Vỹ viết bài thơ Sương Rơi, bài thơ cũng có cái mới của nó khi xuất hiện trên thi đàn nhưng chẳng gây được cảm xúc gì lắm, đến Nguyễn Đức Sơn thì khác hẳn, thể thơ hai chữ đã hiện ra rất tài tình trong từng chữ, từng lời. Điều quan trọng hơn hết thảy không phải chỉ là kỹ thuật, âm vận mà chính là cái hồn thơ. Chữ và lời và thi ảnh đã pha trộn, nhào nắn bằng một tâm hồn thơ mộng mà thành khẩn đến khốc liệt, bằng một kỹ thuật rất điêu luyện nên đã mang lại cho chúng ta những bài thơ tuyệt diệu. Dưới đây là một trong những bài thơ hai chữ ấy.

      Hẹn một

      Ngày vui

      Anh đui

      Em dắt

      Réo rắt

      Đàn kìm

      Tiếng chìm

      Tiếng nổi

      An xổi

      Ở thì

      Ta đi

      Hát dạo

      Nắm gạo

      Tang thương

      Nắm xương

      Lạc phố (8)

      Chỉ có 32 chữ được xếp trong 16 dòng mà gợi lên một cảnh tượng sống động vô song, gây cảm xúc vô bờ cho những ai còn có chút lòng khi ngoái đầu nhìn lại. Bốn câu cuối tuyệt hay làm chấn động tâm hồn người đọc. Đó đâu phải chỉ là cảnh đời của tác giả, mà chính là bức tranh của đất nước được phác vẽ lại trong một đôi nét, là một biểu ý rất mạnh. Tôi nhớ đến Cao Bá Quát và Đỗ Phủ khi đọc bài thơ này.


      Đầu năm 1995, trên số báo tân niên Thế Kỷ 21, tôi được đọc hai bài thơ mới của Nguyễn Đức Sơn giai đoạn sau này. Tôi chép lại ở đây nguyên xi cả hai bài (9) để những ai trước đây chưa được đọc Nguyễn Đức Sơn có thể thấy và biết được đôi chút về anh.

      (Chưa Có Đề)


      Đêm xưa núp dưới đại hồng chung

      Hai đứa chơi nhau sướng phát khùng

      Khi chảy thấm nhuần thân hữu hạn

      Tinh ra tan biến trí vô cùng

      Cần gì em bấu không nghi hoặc

      Mặc kệ anh ôm chẳng ngại ngùng

      Rắn rết (*) vẫn bò quanh cô tự

      Trăng mờ đồi nhỏ bóng ung dung


      (*) Rắn rết: Không cố ý ám chỉ thực dân và cộng sản (chú | thích của Nguyễn Đức Sơn)


      Nhu Cầu Bức Xúc Của Thời Đại


      Có những ngày

      Sao ta chẳng muốn làm gì cả

      Gò må

      Hết muốn chào

      Gái nhảy ào ào

      Hết muốn tránh

      Trời có đánh

      Cũng hết muốn né

      Này cóc núi lang thang

      Lặng lẽ trở về hang

      Dạy ta ngáp

      1993


         Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn
        sơn dầu Đinh Cường, 1999

      Tôi nghe một số bạn hữu khen hai bài thơ này hay và quý, nhưng theo tôi bài thứ nhất chỉ là một bản cliché của thơ Nguyễn Đức Sơn 30 năm trước, lặp lại một cách nghèo nàn và nhàm chán. Chỉ có cái chú thích chữ rắn rết là đặc biệt, biểu lộ được vẻ tinh nghịch cố hữu của anh. Cái chú thích này đáng được khuyên một điểm son, nó cứu được bài thơ đã gần như sắp tàn rã hay thành một vật phế thải. Cơn bão thời đại dữ dằn thổi qua cả mấy chục năm nay mà vẫn chưa ngưng dứt, cả một dân tộc đang sống trong cảnh tang thương chưa từng thấy, mà chính Nguyễn Đức Sơn và gia đình anh cũng đã thay đổi hoàn toàn, cái gia đình nhỏ ấy đã trở thành một lũ người rừng và dường như còn liên hệ rất ít với xã hội, tôi tự hỏi Nguyên Đức Sơn còn hứng thú gì để viết nên những dòng như vậy?

       

      Về bài thơ thứ hai, ngay từ cái đề đã hay rồi. Nguyễn Đức Sơn dùng một cụm từ rất thời thượng mà rỗng tuếch “Nhu cầu bức xúc của thời đại” để đập mạnh vào giác quan người đọc. Rồi dẫn theo đó là mấy hình ảnh vừa tinh nghịch, hài hước, vừa chán chường, ngao ngán, thê lương. Ba câu cuối: Này cóc núi lang thang / Lặng lẽ trở về hang / Dạy ta ngáp cô đọng như một bài thơ hài cú, đọc thực là thú. Nguyễn Đức Sơn bao giờ cũng vậy, anh rất thành công trong sự độc đáo lạ lùng và kỹ thuật vững chắc của mình.

      *

      Bao giờ nghĩ đến Nguyễn Đức Sơn, tôi đều nhớ ngay đến Nguyễn Đức Sơn trong chiếc áo nâu sồng với khuôn mặt có đôi chút kỳ dị, đạm bạc và đạo vị, mang một cái túi vải đựng mấy tài liệu riêng gì đó, cái kèn harmonica, một quyển nhật ký đóng bìa cứng rất đẹp mà ngày nào anh cũng có ghi chép đôi điều vào đó. Trong cái túi vải ấy thường cũng lấp ló thò đâu ra một con chó nhỏ, có lẽ là giống chó fox hay chihuahua gì đó. Con chó này cũng khá tội nghiệp, gắn liền với Nguyễn Đức Sơn nên phải sống một cuộc đời kỳ dị quái đản không kém gì thượng thừa thi sĩ chủ nhân. Nó chỉ được nuôi bằng chế độ dinh dưỡng đặc biệt, ngày nào cũng chỉ thấy chay tịnh ổi, xoài, mít, lúc nào sang trọng lắm thì được bồi dưỡng thêm một hai muỗng sữa chua đông lạnh vẫn bày bán ở các xe kem đầu đường. Họa sĩ Chóe có vẽ một bức chân dung Nguyễn Đức Sơn với con chó này bằng bút sắt rất đẹp, tôi chưa thấy in ở đâu cả, hy vọng là Nguyễn Đức Sơn còn giữ được vì anh khoe với tôi là anh giấu cật mấy chục quyển nhật ký và thơ của anh rất cẩn thận, cái phác thảo bằng bút sắt ấy của Chóe hẳn là cũng nằm trong số những thứ chôn giấu ấy.


      Hồi trước năm 75, có một giai đoạn tôi gặp anh thường ngày, ngày nào tôi cũng thấy anh lọc cọc đạp xe lên Bình Dương, không biết để làm gì, tôi không tiện hỏi vì không muốn nhòm ngó vào sinh hoạt riêng của anh. Với chiếc áo nâu sồng, anh đi qua những trạm gác quân sự dễ dàng mặc dù đang trốn lính, trong tay chẳng có giấy tờ tùy thân gì hết. Trên đường đi nếu gặp những nhánh củi khô, những chiếc guốc gỗ thế nào anh cũng dừng lại nhặt lên, và về đến nhà thì anh đã có một bó củi đầy, đủ để đun nấu trong nhiều ngày.

       

      Thêm một điểm đặc biệt nữa của Nguyễn Đức Sơn mà có lẽ ít người biết là anh rất để ý đến đời sống tự nhiên, sinh hoạt của chim chóc, những giống cá sống trong các ao hồ và cây cỏ lạ. Anh nói với tôi là bộ Cây Cỏ Miền Nam của g.s. Phạm Hoàng Hộ còn thiếu sót nhiều, anh đã bổ túc thêm vào một số. Dĩ nhiên là anh chỉ làm việc đó vì nhu cầu riêng của anh chứ chắc là giáo sư Phạm cũng không biết đến. Tôi không biết chuyện này có đúng hay không vì anh không đưa những lời ghi chú này cho tôi xem, nhưng tôi tin là thực, ít ra cũng là thực trong cái thế giới nhiều quái dị và ảo mộng của anh, nghĩ là thực thì đã là thực rồi.

       

      Nguyễn Đức Sơn ngổ ngáo và gây hân hết mọi người nhưng dường như chẳng ai ghét anh. Người đồng thời cùng trang lứa như Trịnh Công Sơn và Bửu Ý, lớn tuổi hơn anh một chút là Võ Phiến, tỏ vẻ rất yêu mến anh. Thái Tuấn xem anh là bạn thân. Một số nhà văn hóa lão thành như Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Đăng Thục thì tỏ ra quý trọng anh một cách đặc biệt. Nxb Mặt Đất vừa mới bắt đầu hoạt động thì đã được học giả Nguyễn Hiến Lê tin cậy giao in tác phẩm Những vấn đề của thời đại, và g.s. Nguyễn Đăng Thục thì nhờ in quyển Phật Giáo Việt Nam, và nếu không có biến cố 75 thì chắc chắn đã in một vài tập sách gì đó của cụ Giản Chi. Giữa những người giao du vong niên với Nguyễn Đức Sơn, có lẽ Giản Chi là người để mắt xanh đến Nguyễn Đức Sơn nhiều nhất. Trong một bữa ngồi uống trà ở nhà cụ Giản Chi, 80 Hoàng Diệu, Khánh Hội, tôi thấy cụ và Nguyễn Đức Sơn nói chuyện rất tương đặc, tri kỷ. Đặc biệt phải nhắc đến ông Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm, có lẽ là người yêu mến, quý trọng và chịu đựng Nguyễn Đức Sơn nhiều nhất.

       

      Ngày hôm qua, trên tờ Hợp Lưu số mới nhất (số 46, tháng 4 và 5, 1999), trong một trò chơi có giải thưởng của nhà xuất bản Minh Văn, tôi đọc thấy một bài thơ của Nguyễn Đức Sơn, tôi chép thêm vào đây để kết thúc bài tiểu luận, tôi xin phép bỏ bớt hai câu vì thấy không cần thiết trong văn mạch của bài viết này. Bạn đọc nào muốn đọc hết cả bài thơ thì hãy lật báo Hợp Lưu mà xem, số đã dẫn, trang 241.

      Mắc đái là mắc đái

      Làm thơ cũng cùng hình thái

      Không còn chi để phải nói lại

      ...

      ...

      Trong khi thơ rụng như cây chín trái

      Khôn ngoan ta đưa tay hái

      Cuộc đời của Nguyễn Đức Sơn gắn bó với thơ một cách vô cùng sâu thẳm. Có thể nói thơ chính là sinh mệnh của anh. Thoạt nhìn cái thế giới thơ ấy có vẻ phức tạp, nhiêu khê, cầu kỳ, bí ẩn, mà rồi tất cả đều hóa ra giản dị, tuôn chảy tràn đầy và rơi rụng sung mãn.


      Anh nhặt lấy hoa trái của thơ chất đầy túi trên con đường đi về cõi không cùng.


      Nam California, đầu tháng 4-1999.


      Chú Thích:

      (1) Các truyện ngắn của Nguyễn Đức Sơn được gom lại và in thành hai quyển Cát bụi mệt mỏi (1968) và Cái chuồng khỉ (1969), đều do An Tiêm xuất bản.

      (2) Mặt Đất, tạp chí văn nghệ do chính Nguyễn Đức Sơn chủ biên, ra được hai số, mỏng dính trên tay người đọc vì chỉ là một tờ nhật báo 8 trang xếp đôi lại.

      (3) Đêm nguyệt động, An Tiêm xb, Sàigòn 1967. Dẫn lại trong Văn Học Miền Nam Tổng Quan của Võ Phiến, Nxb Văn Nghệ, California, 1986.

      (4) Văn Học Miền Nam Tổng Quan, sđd, trang 118.

      (5) Một mình nằm thở đủ kiểu trên bờ biển trong Những bài tình đầu, tập III, Mặt Đất xb, 1965. Trích lại trong Văn Học Miền Nam Tổng Quan, sđd, trang 235.

      (6) Nguyễn Đức Sơn, Một mình đi luồn vô luồn ra trong núi chơi. Tạp chí Văn, Sàigòn, số ra ngày 1-3-70, dẫn lại trong Võ Phiến, sđd, trang 117. Bài thơ này, cũng như bài Thược Dược của Quách Thoại và tập văn xuôi Nẻo Về Của Ý của thiền sư Nhất Hạnh là những tuyệt tác hiếm hoi của dòng văn học thiền trong vài chục năm vừa qua. Luôn thể, tôi xin chép lại bài Thược Dược qua trí nhớ:

      Thược Dược

      Đứng im ngoài hàng dậu

      Em mỉm nụ nhiệm mầu

      Lặng nhìn em kinh ngạc

      Vừa thoảng nghe em hát

      Lời ca em thiên thâu

      Ta sụp lạy cúi đầu.

      (7) Võ Phiến, sđd, trang 302.

      (8) Nguyễn Đức Sơn, Mơ về thành phố Hồ Chí Minh, tạp chí Diễn Đàn, Paris, số 1.9.1993.

      (9) Nguyễn Đức Sơn (Chưa có đề), và Nhu cầu bức xúc của thời đại. Tạp chí Thế Kỷ 21, California, số 70, tháng 2.1995.

      (*) Một người bạn cho tôi biết, bài thơ này trước đây đã được in trên một tạp chí ở hải ngoại. Anh đọc lại cho tôi nghe, và tôi cũng xin ghi lại ở đây như một dị bản trước khi chúng ta có dịp kiểm chứng để có một bản gốc chính xác:

      Đ.m. cây bông hồng

      Nếu mày không lao động

      Không cho mày trổ bông.


      Huỳnh Hữu Ủy

      Mấy Chân Dung Văn Nghệ Hiện Đại
      Nxb Văn Mới, 2013



      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Nguyễn Đức Sơn: Một Đỉnh Thơ Kỳ Dị Và Cô Độc Huỳnh Hữu Ủy Nhận định

      - Họa Sĩ Nguyễn Anh Huỳnh Hữu Ủy Nhận định

      - Họa Sĩ Nguyễn Siên Huỳnh Hữu Ủy Nhận định

      - Họa Sĩ Nguyễn Khoa Toàn Huỳnh Hữu Ủy Nhận định

      - Nói chuyện với họa sĩ Rừng: hành trình 40 năm đến với mỹ thuật Huỳnh Hữu Ủy Phỏng vấn

      - Khỏa Thân Phụ Nữ Và Nghệ Thuật Tạo Hình Huỳnh Hữu Ủy Nhận định

      - Họa Sĩ Duy Thanh Huỳnh Hữu Ủy Nhận định

      - Họa Sĩ Lê Văn Đệ Huỳnh Hữu Ủy Nhận định

      - Trừu Tượng Phan Nguyên: Nhịp Điệu Và Xung Lực Huỳnh Hữu Ủy Nhận định

      - Mấy câu hỏi với họa sĩ Phan Nguyên Huỳnh Hữu Ủy Nhận định

    3. Bài viết về nhà thơ Nguyễn Đức Sơn (Học Xá)

       

      Bài viết về Nguyễn Đức Sơn

       
      Cùng Tác Giả

      Nguyễn Đức Sơn: Một Đỉnh Thơ Kỳ Dị Và Cô Độc (Huỳnh Hữu Ủy)

      Những ngày tháng ngắn ngủi với Nguyễn Đức Sơn ở Blao (Lê Văn Trung)

      Bi Khúc Chia Biệt Thi Sĩ Nguyễn Đức Sơn (Huy Tưởng)

      Nguyễn Đức Sơn - Lão quái dị trên đồi Phương Bối (Ban Mai)

      Nguyễn Đức Sơn, Nhà thơ (Nguyễn Mạnh Trinh)

      Về một bài thơ lục bát không đề của Nguyễn Đức Sơn (Phạm Cao Hoàng)

      Thư Quán Bản Thảo số 50, 2.2012 - chủ đề Nguyễn Đức Sơn (tranhoaithu42.com)

      Sơn Núi (Tuệ Sỹ)

      Nguyễn Đức Sơn: Vòng Quay Sinh Tử (Đinh Từ Bích Thúy)

      Thơ và Đá (Việt Báo)

      Bộ Tranh Chân Dung Nguyễn Đức Sơn (dutule.com)

      Tiểu Sử (wikipedia.org)

      Nhà Thơ Kiệt Xuất Nguyễn Đức Sơn (Tâm Nhiên)

      Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn (Mặc Lâm)

      Thi sỹ Nguyễn Đức Sơn (Nguyễn Miên Thảo)

      Nhà thơ kiệt xuất Nguyễn Đức Sơn (Tâm Nhiên)

      Thầy Tuệ Sĩ và nhà thơ Nguyễn Đức Sơn

        (Thu Nguyệt)

      Sự thật về “Người trồng thông quái dị”

        (Nguyễn Đạt)

      Nguyễn Đức Sơn, Riêng Một Cõi

        (Bùi Ngọc Tuấn)

      Sơn Là Núi, Vân Là Mây, Và Phượng Như Bùa Hộ Mệnh (Nguyên Minh)

       

      Tác phẩm của Nguyễn Đức Sơn

       
      Cùng Tác Giả

      Thơ Nguyễn Đức Sơn (thivien.net)

      Cái chuồng khỉ (talawas.org)

      Xóm Chuồng Ngựa (talawas.org)

       

      Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Lệ Khánh, “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” (Trúc Giang)

      - Lời mở cho một tác phẩm mới: Bão (Trần Hoài Thư)

      - Tưởng Nhớ B.S Trần Nguơn Phiêu: Anh Nghe Chăng Cung Kèn Rạng Đông (Vũ Huy Quang)

      - Nguyễn Đức Sơn: Một Đỉnh Thơ Kỳ Dị Và Cô Độc

      (Huỳnh Hữu Ủy)

      - Những ngày tháng ngắn ngủi với Nguyễn Đức Sơn ở Blao (Lê Văn Trung)

        Giai Thoại Văn Học

       

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Tạp Văn (Nguyễn Kim Phượng)

      - Văn học miền Nam ở hải ngoại (Viên Linh)

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975: Nhận Định, Biên Khảo, Thư Tịch (Nguyễn Vy Khanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      An Khê,  Bàng Bá Lân,  Bích Khê,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Bích Hà,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Vĩnh Phúc,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Tiêu,  Cao Đông Khánh,  Chu Thiên,  Chu Trầm Nguyên Minh,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)