1. Head_
    Duyên Anh
    (16.8.1935-6.2.1997)
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Trường Sa hành của Tô Thùy Yên (Nguyễn Hưng Quốc) Ad-21 Ad-21 (Google - QC3) (Học Xá)

      5-09-2012 | VĂN HỌC

      Trường Sa hành của Tô Thùy Yên

        NGUYỄN HƯNG QUỐC
      Share File.php Share File
          

       


         Tô Thùy Yên (Đinh Cường vẽ)

      Trong bài “Biển Đông: Quyền lợi quốc gia và tinh thần dân tộc”, tôi có in lại trong phần chú thích, bài thơ “Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn” của Trần Đăng Khoa. Bài thơ ấy được nhắc nhở nhiều và thường xuất hiện trong các tuyển tập thơ ở Việt Nam. Nhưng thành thực mà nói, nó không hay, hoặc nếu hay, chỉ hay ở mức vừa phải. Không có gì đặc sắc. Thơ viết về biển đảo của Việt Nam, cho đến nay, hay nhất có lẽ là bài “Trường Sa Hành” của Tô Thùy Yên. Nhân lúc mọi ánh mắt đều hướng về Biển Đông, đặc biệt Hoàng Sa và Trường Sa, chúng ta cũng nên đọc lại bài thơ này.


      Bài thơ có ý nghĩa lịch sử: được sáng tác vào tháng 3 năm 1974, hai tháng sau ngày Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa lúc ấy thuộc Việt Nam Cộng Hòa - là một dấu mốc đáng nhớ. Nó lại có ý nghĩa chính trị: nối liền quá khứ với hiện tại, miền Nam lúc trước và cả nước sau này, vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, những người lính ngày xưa và những người còn tha thiết đối với vận mệnh của đất nước bây giờ. Đặc biệt, nó có giá trị thẩm mỹ: ngay cả khi gạt bỏ hết hai ý nghĩa trên, “Trường Sa Hành”, tự nó, là một bài thơ hay. Đủ hay để thách thức không những thời gian mà còn cả những âm mưu vùi dập tàn bạo của nhà cầm quyền Việt Nam kể từ năm 1975 đến nay.


      Xin nói một chút về Tô Thùy Yên: Theo tôi, ông là một trong những nhà thơ lớn nhất của miền Nam trong giai đoạn 1954-75, hơn nữa, cũng là một trong những nhà thơ lớn nhất của Việt Nam nói chung trong cả nửa sau thế kỷ 20.


      Thơ ông có một số đặc điểm đáng chú ý.


      Một, Tô Thùy Yên viết ít và xuất bản rất muộn: Tập thơ đầu tay của ông, Thơ tuyển, gồm 37 bài, được xuất bản lần đầu năm 1995 (1), tức khoảng 40 năm sau khi ông có thơ đăng báo, tính trung bình mỗi năm ông làm chưa tới một bài. Vậy mà, ngay từ trước 1975, ông đã nổi tiếng và được nhiều người đánh giá rất cao.


      Hai, nét nổi bật nhất trong phong cách thơ Tô Thùy Yên là sự giao thoa: thứ nhất, giao thoa giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và cách tân. Đó hẳn là một sự kết hợp rất nhiều người mong muốn. Nhưng không phải ai cũng làm được. Ngay cả Thanh Tâm Tuyền dù từng tuyên bố, trong bài “Một bài thơ”: “không đa đa siêu thực / thẳng thắn / khởi từ ca dao sang tự do” nhưng thơ ông vẫn nghiêng hẳn về phía hiện đại hơn truyền thống. Ở nhiều người khác cũng thế: hoặc nghiêng bên này hoặc lệch về phía bên kia.


      Chỉ ở Tô Thùy Yên, người ta mới thấy được sự cân bằng. Cũng xin nói thêm: Ở đây, tôi chỉ ghi nhận một đặc điểm chứ không phải đánh giá. Thứ hai, sự giao thoa giữa cảm xúc và tư tưởng: từ cảm xúc đến hình tượng trong thơ ông đều thấp thoáng chút màu sắc siêu hình với những nghĩ ngợi về cuộc sống và về con người; nói chuyện với ai và về cái gì, với ông, dường như cũng là một cuộc trò chuyện với hư không, với cái mênh mông của trời đất và với cái vô tận của thời gian. Có lúc ông như một Trần Tử Ngang lạc loài ở thời hiện đại. Hai sự giao thoa ấy làm cho thơ Tô Thùy Yên vừa quen vừa lạ, vừa bình dị vừa sâu sắc, vừa rất dễ đọc vừa thấp thoáng rất nhiều bí ẩn, vừa sáng sủa vừa thăm thẳm đến không cùng.


      Bài “Trường Sa hành” dưới đây có thể được xem như một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Tô Thùy Yên. Tiêu biểu về thể thơ: Mặc dù Tô Thùy Yên thử nghiệm khá nhiều hình thức, từ lục bát đến tự do, nhưng thể thơ tạo nên phong cách đặc thù và thể hiện cái tài hoa cao ngất của ông, theo tôi, là thể bảy chữ: sau năm 1954, không có nhà thơ Việt Nam nào có nhiều bài thơ bảy chữ hay bằng ông.


      Tiêu biểu về tư tưởng: vẫn là một cái “hữu hạn” khao khát hỏi han “Hiu Quạnh Lớn”. Tiêu biểu về nghệ thuật xây dựng hình tượng: Vẫn là những vật bình thường, nhưng dưới ngòi bút của ông, bao giờ cũng có vẻ gì như khốc liệt, từ “sóng thiên cổ khóc” đến “biển tang chế”, từ “đám cây bật gốc chờ tan xác” đến cảnh “trùng dương khóc trắng trời”, từ “mặt trời chiều rã rưng rưng biển” đến “vầng khói chim đen thảng thốt quần”.


      Tiêu biểu trong cách liên tưởng: Dùng tâm lý để đo lường khoảng cách không gian (“Bốn trăm hải lý nhớ không tới”), dùng cảnh vật trong không gian để nghĩ đến thời gian (“Thời gian kết đá mốc u tịch”), và dùng thời gian để nói đến những sự “nhỏ nhoi” và những “nỗi tả tơi”.


      Tiêu biểu trong ngôn ngữ: Lúc nào cũng thật nhiều hình dung từ và hình dung từ nào cũng mạnh và cũng gắt. Đảo thì “chếch choáng”, gió thì hoặc “miên man thổi” hoặc “thổi trùng điệp”, lòng thì “rách tưa”, khóc cười thì “như tự bạo hành”, mây đỏ thì đỏ đến “thảm thê”; nắng thì “chói chang như giũa”, còn ánh sáng thì “vang lừng điệu múa điên”.


      Tất cả đều mang dấu ấn của Tô Thùy Yên. Không lẫn với ai khác.


      *

      TRƯỜNG SA HÀNH


      Toujours il y eut cette clameur,
      Toujours il y eut cette fureur...
      Saint John Perse
      (Exil)

      Trường Sa! Trường Sa! Đảo chuếnh choáng!

      Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề

      Lính thú mươi người lạ sóng nước

      Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi


      Mùa Đông Bắc, gió miên man thổi

      Khiến cả lòng ta cũng rách tưa

      Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn

      Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ


      Đảo hoang, vắng cả hồn ma quỉ

      Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên

      Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh

      Lên xác thân người mãi đứng yên


      Bốn trăm hải lý nhớ không tới

      Ta khóc cười như tự bạo hành

      Dập giận, vác khòm lưng nhẫn nhục

      Đường thân thế lỡ, cố đi nhanh


      Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế

      Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?

      Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ

      Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời


      Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt

      Bãi Đông lở mất, bãi Tây bồi

      Đám cây bật gốc chờ tan xác

      Có hối ra đời chẳng chọn nơi?


      Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng

      Những cụm rong óng ả bập bềnh

      Như những tầng buồn lay động mãi

      Dưới hồn ta tịch mịch long lanh


      Mặt trời chiều rã rưng rưng biển

      Vầng khói chim đen thảng thốt quần

      Kinh động đất trời như cháy đảo

      Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân


      Ta ngồi bên đống lửa man rợ

      Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi

      Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp

      Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi


      Chú em hãy hát, hát thật lớn

      Những điệu vui, bất kể điệu nào

      Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ

      Cho mái đầu ta chớ cúi sâu


      Ai hét trong lòng ta mỗi lúc

      Như người bị bức tử canh khuya

      Xé toang từng mảnh đời tê điếng

      Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê


      Ta nói với từng tinh tú một

      Hằng đêm, tất cả chuyện trong lòng

      Bãi lân tinh thức, âm u sáng

      Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng


      Đất liền, ta gọi, nghe ta không?

      Đập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng

      Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc

      Con chim động giấc gào cô đơn


      Ngày. Ngày trắng chói chang như giũa

      Ánh sáng vang lừng điệu múa điên

      Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ

      Kêu dòn như tiếng nứt hoa niên


      Ôi! lũ cây gầy ven bãi sụp

      Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh

      Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã

      Hay đến ngày bờ tái tạo xanh


      San hô mọc tủa thêm cành nhánh

      Những nỗi niềm kia cũng mãn khai

      Thời gian kết đá mốc u tịch

      Ta lấy làm bia tưởng niệm Người

      3-1974


      Chú thích: (1) Tập thơ này, sau đó, đã được phổ biến dưới ấn bản điện tử trên Talawas


      Nguyễn Hưng Quốc

      Nguồn: Diễn Đàn Thế Kỷ

      Ad-22-A_Newest-Feb25-2022 Ad-22-A_Newest-Feb25-2022


      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Thư Gửi Người Bạn Họa Sĩ Già Ở Orléans Nguyễn Hưng Quốc Tạp luận

      - Vài Ghi Nhận Về Mai Thảo Nguyễn Hưng Quốc Hồi ức

      - Đôi Nét về Võ Phiến Nguyễn Hưng Quốc Nhận định

      - Số phận của văn học miền Nam sau 1975 Nguyễn Hưng Quốc Khảo luận

      - Những ý nghĩ rời (Lời nói đầu) Nguyễn Hưng Quốc Giới thiệu

      - Sống Và Viết Giữa Các Nền Văn Hoá Nguyễn Hưng Quốc Nhận định

      - Nhiệm Vụ Của Nhà Phê Bình Văn Học Nguyễn Hưng Quốc Nhận định

      - Về Văn Học Miền Nam 1954-1975 Nguyễn Hưng Quốc Nhận định

      - Tự Do Học Thuật Nguyễn Hưng Quốc Nhận định

      - Vụ Án Nhã Thuyên Nguyễn Hưng Quốc Nhận định

    3. Bài về nhà thơ Tô Thùy Yên Ad-31 Ad-31 = QC_250-250 (Học Xá)

       

      Bài viết về Tô Thùy Yên

       
      Cùng Tác Giả (Link-1)

      Tô Thùy Yên và những bài thơ viết trong tù (Phạm Tín An Ninh)

      Hai Con Hạc Vàng Vỗ Cánh (Trần-Vấn Lệ)

      Tâm Thức Hòa Giải Trong Bài Thơ "Ta Về" (Nguyễn Cẩn)

      Một Người, Một Người... (V. Phiến)

      Tưởng nhớ 5 khuôn mặt văn chương (Trần D. Nho)

      Ta về Một Bóng Trên Đường Lớn... (Thảo Dân)

      Tô Thùy Yên. Thi Sĩ Lạ (Trần Yên Hòa)

      Tô Thùy Yên (Võ Phiến)

      Tô Thùy Yên: thơ, như một vinh dự lầm than của kiếp người (Bùi Vĩnh Phúc)

      Trường Sa hành của Tô Thùy Yên (Nguyễn Hưng Quốc)

      Đãng Tử (Nguyễn Hưng Quốc)

      Con đường bè bạn (Phan Lạc Phúc)

      Ngựa phi đường xa (Đặng Tiến)

      Tô Thùy Yên,thời gian, tồn tại, cô đơn và đá (Thụy Khuê)

      Giấc Mơ Không Dứt Đó Của Thần Linh (Nguyễn Tà Cúc)

      Vài hình ảnh Tô Thùy Yên với bạn bè (diendantheky.net)

      Tô Thùy Yên, chân dung muôn đời thi sĩ (Nguyễn Mạnh Trinh, sangtao.org)

      Đêm qua Bắc Vàm Cống (Ngự Thuyết, sangtao.org)

      Thắp tạ (Hồ Đình Nghiêm, sangtao.org)

      Nói chuyện với nhà thơ Tô Thùy Yên (Nguyễn Mạnh An Dân, sangtao.org)

      Tô Thùy Yên (1938-2019) nhà thơ Việt Nam (Đặng Tiến, diendantheky.net)

      Nhớ Tô Thùy Yên (Trần Doãn Nho, diendantheky.net)

      Tô Thùy Yên, Chia Xẻ Chút Tình Cay Mặn Cũ (Nguyễn Đức Tùng, diendantheky.net)

      Hãy Cài Bài Thơ Lên Ngực Mới (Trần Mộng Tú, diendantheky.net)

      Thơ Tô Thùy Yên, chênh vênh siêu hình/hiện thực (Trần Hữu Thục, diendantheky.net)

      Nhà thơ Tô Thùy Yên, truớc và sau Sáng Tạo (Trần Hoài Thư, tranhoaithux.com)

      Nghĩ Về Thơ Tô Thùy Yên, thơ bảy chữ có uy thế hơn thơ tự do (Trần Văn Nam, luanhoan.net)

       

      Tác phẩm của Tô Thùy Yên

       
      Cùng Tác Giả (Link-2)

      Hoa Từ Bi Độ Lượng (Tô Thùy Yên)

      Nói Về Thơ, Người Làm Thơ và Người Đọc Thơ (Tô Thùy Yên)

      Trường Sa Hành (Tô Thùy Yên)

      Ta Về (Tô Thùy Yên)

      Tâm thức khuất dạng của thơ (Tô Thùy Yên)

      Thơ Tô Thùy Yên (Talawas)

      Thơ Tô Thùy Yên (dactrung)

       

      Bài Viết về Văn Học (Học Xá)

       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Huế Của Phương, Một Phương Tình Viễn Mộng

      (Lê Văn Trung)

      - Nghĩ về chiến sĩ nhân quyền Võ Văn Ái (18.10.1935—26.1.2023) (Nguyễn Hữu Nghĩa)

      - Trần Hoài Thư và ước nguyện phục hồi văn chương Miền Nam Việt Nam (Hà Vũ)

      - Bài Thơ Tết Cuối Đời Của Vũ Hoàng Chương

      (Đàm Trung Pháp)

      - Bài Thơ Xuân Nhuốm Màu Xung Khắc Văn Hóa

      (Đàm Trung Pháp)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

       

      Văn Học Miền Nam (Học Xá) Văn Học (Học Xá)

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      An Khê,  Au Thị Phục An,  Bắc Phong,  Bàng Bá Lân,  Bích Khê,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Bích Hà,  Bùi Giáng,  Bùi Kỷ,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Vĩnh Phúc,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Mỵ Nhân,  

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)