1. Head_
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Nhà Thơ Thái Tú Hạp (Nguyễn Vy Khanh)

      18-4-2020 | VĂN HỌC

      Nhà Thơ Thái Tú Hạp

        NGUYỄN VY KHANH
      Share File.php Share File
          

       


           Nhà thơ Thái Tú Hạp

      Nhà thơ Thái Tú Hạp (4-1940, Hội An -), nhập ngũ năm 1961, thơ ông từng đăng trên các tạp-chí Bách Khoa, Văn, Văn Học, Chính Văn, Giữ Thơm Quê Mẹ, Trình Bày, Phổ Thông, Chiến Sĩ Cộng Hòa, v.v. từ đầu thập niên 1960. Ông cùng Thành Tôn và Hoàng Quy ra chung tuyển tập thơ đầu đời in ronéo Tình Người Sông Thu (1969) và đã xuất-bản Thèm Về (1970) - dùng tựa bài thơ Thèm Về đã đăng trên tạp-chí Bách Khoa (số 128, 1-5-1962, tr. 57):

      “Đèo heo hút gió chùng sương

      trên cao nghỉ ngựa dừng cương thèm về

      chiều phong kín ngả sơn khê

      non xa mây ngủ trời lê thê buồn

      lạc loài cánh nhạn qua truông

      thả lơi điệu nhớ não nùng bãi hoang

      dưới sâu lũng thấp điêu tàn

      nghe mùa gãy đổ nẻo vàng thu ca

      cô liêu đàn sến dương tà

      lời ru phiến đá cây già hắt hiu

      tiếng đưa dã thú rừng chiều

      buốt xương gió núi tiêu điều cổ sơ

      tóc sương rêu phủ bến chờ

      chiều nghiêng cánh gió hồn mơ đăng trình”.

      Ở thơ Thái Tú Hạp là những nỗi lòng chân quê của thanh niên thời loạn, đã sớm lên đường chiến đấu cho quê-hương, đất nước. Và thật sự dứt khoát như tựa một bài thi:

      “ngả mũ chào quá khứ/hướng nguyện về tương lai

      ghi đời trang sử quý/nuối tiếc gì bụi phai

      tuổi trai ngàn mộng ước/phiêu lãng chuyện sông hồ

      đừng mang sầu tủi nhục/đời đẹp tựa bài thơ

      lên đường vui tám hướng/rừng mênh mông lá hoa

      lòng xuân thêm bát ngát/giữa quê hương thái hòa

      có nghe tiếng non sông/đang chuyển mình bệnh hoạn

      đời thỏa mộng tang bồng/chuyển hóa tâm vô lượng

      kết thêm một vì sao/cho trời đêm rực rỡ

      tình ta đẹp biết bao/trang sử nào mới viết” (Dứt khoát)

      Bởi trên đất nước Việt-Nam yêu dấu, chiến-tranh đã tràn về và tàn phá không phân biệt nơi thành đô hay thôn quê, mà cả tâm tư người tuổi trẻ, những khi đêm về:

      "Đêm của tiếng hát học trò

      đêm của những vì sao tình tự

      đêm của niềm chờ mong con gái

      đêm của nỗi lo âu con trai

      cách chia những biên thùy hoang vắng

      đêm của những viên đạn đồng hỏi thăm / thân thể

      đêm của máu chảy ruột mềm

      đêm của hận thù phục kích

      mắt diều hâu rập rình bờ lũy xa

      bao giờ em/đêm chung niềm thân ái

      đêm gần gũi vuốt ve cuộc đời

      đêm của những tiếng nói thì thầm âu yếm

      đêm của mẹ hỏi con đã về

      bếp lửa mùa xuân vừa nhen đêm gạo mới

      ngày xưa/đêm của những tiếng hát học trò

      đêm của giọng đọc bài dễ thương

      đêm của cha ngồi đọc báo

      đêm mẹ ru lời ca dao ngàn năm/chan chứa tình

      ôi đêm tuyệt vời/như niềm hạnh phúc

      như dòng sông mùa hạ đổ về xuôi

      thở mát từng cơn từ ái vô ngần

      đêm của tình nhân hẹn hò

      những đóa yêu nở ngát trong cuộc/tình thủy chung

      đêm hiền hậu bao dung/bây giờ/đêm của em

      đầy nước mắt chờ nhau mòn mỏi

      đêm của anh/thao thức núi rừng xa

      chờ tin địch về/súng ôm ghì trong nỗi nhớ

      đêm của mẹ tắt nghẽn lời ru

      đêm của cha thường trực niềm đau xó (...)”

      (Đêm Dài Trên Quê Hương)

      Có những đưa tiễn bùi ngùi nhưng chất chứa nhiều hy vọng ở một ngày mai, như trong Xin Lời Mang Tuổi Mộng:

      “rồi ngày mai các anh về đơn vị

      mỗi cánh chim mang nhung nhớ phương trời

      em ở lại già nua đời phố cũ

      bầy tương tư muôn cõi vấn vương đời

      anh về đâu miền Trung nghèo sỏi đá

      tuyến đầu tiên ngàn lựa đạn hiểm nguy

      đem xương máu anh giữ miền Hỏa Tuyến

      tình quê hương đất ngại cõi biên thùy

      anh về đâu trời cao nguyên thăm thẳm

      tiếng suối reo vượn hú giữa đêm thâu

      chiều cao nguyên khói sương nhòa bóng núi

      rượu cần vui bên chiến hữu quên sầu

      anh về đâu miền Tây nao nức nhớ

      sớm Hậu Giang chiều Đồng Tháp Cà Mau

      tiếng quân reo dậy đôi bờ Sông Cửu

      tin khải hoàn chuyển lửa ấm tình nhau

      trời xuân đến nở bừng hoa chiến thắng

      chúng ta yêu từng kỷ niệm ban đầu

      ngày anh đến áo thơm hương thuốc súng

      da sạm đen vì mưa nắng dãi dầu

      em chỉ biết tên anh là lính chiến

      về thăm em chiều hiên nắng bâng khuâng

      anh rực rỡ với niềm tin bừng sáng

      cho mùa xuân mắt biếc vọng thiên thần

      kể từ đấy làng quê thêm nhung nhớ

      tháng ngày vui bao lưu luyến đầy vơi

      em nguyện cầu nơi phương trời viễn xứ

      nhớ đến em dù chỉ phút giây thôi

      rồi ngày mai các anh về đơn vị

      em chúc anh nhiều chiến thắng oai hùng

      để hôm nao tin vui về rộn rã

      em thương anh người chiến sĩ can trường

      vì các anh là chim trời muôn hướng

      là vì sao đêm chiến tuyến điêu linh

      là tiếng ca nhiệm mầu trên đất nước

      gieo tình thương cho quê mẹ an bình (...)”.

      Thế nhưng, nơi chiến địa, có những khi chiều xuống, người lính trẻ vẫn thả hồn về người yêu và quê nhà:

      “anh ru anh hoài con nhớ dữ

      chiều trôi giòng thác lũ đìu hiu

      bến xưa tiếng hát ngậm ngùi

      khẳng khiu nỗi nhớ tiêu điều nắng phai

      yêu em núi thẳm sông dài

      đỉnh cao tượng đá thương hoài nhau thôi

      trắng hoa tuyết mấy phương trời

      nhớ con én liệng tin đời vào xuân

      sá gì thân bọc ngựa rừng

      tử sinh chiến địa chập chùng cơn mê.

      cõi gươm giáo đó nguyện thề

      lần đi chưa hẹn trở về cố hương

      anh ru anh giữa tang thương

      chiều lên với núi hoài vương vấn tình

      người đi ngàn dặm chiến chinh

      em thao thức nguyện thanh bình quê ta

      gởi mây lên chiến trường xa

      tim em chan chứa lệ sa từng ngày

      non cao thăm thẳm chim bay

      hai phương cách biệt sầu ngây ngất chờ

      nhớ thương em phổ tình thơ

      ta như ngựa mỏi bụi mờ chân mây” (Chiều Tưởng Nhớ)

      Đi vào nơi gió cát, tay cầm súng nhưng Ước Mơ Của Người Lính Trẻ vẫn là một ngày mai 'thanh bình hạnh ngộ":

      "Khi vũ khí chỉ còn là củi khô

      là thép đem nung trong lò để thành lưỡi cuốc lưỡi cày

      khi viên đạn đã bốc khỏi vỏ để trở thành bình hoa trong phòng khách

      khi giao thông hào biến thành con kinh đem nước mát cho ruộng đồng

      khi ngọn hỏa châu thắp sáng như ngân hà cho đêm mở hội hoa đăng

      khi con tàu chở niềm vui sum vầy về cho quê hương nghìn trùng xa cách

      khi đêm không còn lo âu/khi ngày hết rồi niềm đau xót

      những mắt nhân từ chuyển hóa đau thương

      mẹ sẽ hát cho ta lời thơ nguyên thủy

      nghe ngọt ngào từng âm điệu quê hương

      anh sẽ cho em cuộc tình vĩnh cửu

      có dòng sông có hoa bướm cuộc đời

      chúng mình sẽ cho nhau những tháng ngày/sum họp

      mái tranh quê chan chứa mộng bình an

      bạn bè sẽ đến với nhau đông vui như/ngày xưa lớp học

      hương cốm thơm như hơi thở đậm đà

      với lòng trinh như cành huệ cành mai

      dịu dàng như khói trầm nghi ngút

      tình như mây lụa trắng đỉnh non cao

      tiếng hát ca dao diệu vợi vô cùng

      nụ cười ròn rã yêu thương/lời không còn mang độc dược

      tay không còn mang vũ khí hận thù

      tóc sẽ là rừng xanh/cho chim rủ nhau về giăng cánh

      lòng trải bao la như cánh đồng lúa mọng

      cho gạo trắng chày khua nhịp sống đêm trăng

      ru ấm no cuộc tình nghèo mấy thuở

      cho mắt nhìn hiền hậu biết bao thương (...)”.

      Thái Tú Hạp cay đắng chúc mừng Năm mới Mậu-Thân 1968 đáng ra phải là thời điểm hoan ca của đất trời và con người:

      "ngày đầu năm anh chúc gì em bây giờ

      chúc một năm nhiều súng đạn

      chúc một năm nhiều thêm thù hận đau thương

      năm mới chạy giặc lầm than

      nước mắt bà mẹ già nua nhỏ trên xác con

      đạn còn ghim trong buồng phổi

      em bé thơ chết cứng miệng còn ngậm vú mẹ

      và bà mẹ nó cũng đã chết vì mảnh lựu đạn tự bao giờ ...”

      (Lời Chúc Đầu Năm Mậu Thân, Văn, số 100&101, 1-3-1968, tr. 62)

      Dù sao thì người đi vẫn hẹn thề có ngày vui trở về đoàn viên, tâm tư luôn mong đợi ngày tàn chinh chiến - ngày đó sẽ mãi mãi là Mùa Xuân Trên Quê-Hương:

      “nguyện cầu cho quê hương tàn chinh chiến

      lửa hận thù tắt lịm trên môi cười

      trái tim người tình thương về thắp sáng

      khắp đồng quê thành phố dậy reo vui

      luống cày thơm niềm tin trong nắng mới

      bước chân về trong mái ấm đoàn viên

      tình trong mắt ngời lên bao thắm thiết

      giữa trái tim đời thanh thản bình yên

      non nước này trinh nguyên lời hẹn ước

      dù đạn bom nghiệt ngã dấu điêu tàn

      tóc mẹ hiền thôi giăng mờ đỉnh núi

      lệ như sông trầm uất xót xa thương

      thức dậy anh quê hương đã đổi mới

      trên cành khô cây trái đã nở hoa

      em thấy chẳng khói vươn cao nhà máy

      nhịp sống bừng lên trùng điệp hoan ca

      thơ mộng quá dòng sông quê tri kỷ

      ta thả hồn theo cánh gió diều bay

      trên tay người không còn mang vũ khí

      ta thấy đời thanh khiết mộng tình say

      hòa bình ơi những sớm mai lớp học

      những bình minh vui họp chợ lên đường

      tiếng hát em ngọt ngào như suối mật

      vắng xa rồi oan nghiệt với tang thương

      mùa xuân về núi sông hằng mơ ước

      đời thắm tươi trong tâm nguyện viên thành

      đợi chờ nhau quây quần bên bếp lửa

      ngàn cánh chim tung cánh giữa trời xanh”.

      Tình yêu trong thơ Thái Tú Hạp thời này không thiếu lãng-mạn, hoa mộng, nhưng đồng thời luôn bị thực tại quấy rầy, thành thử thường thăng hoa trong đợi chờ, xa cách hôm nay. Tình đẹp trong nhớ tưởng:

      “từ thuở hong mây bên thềm nắng

      nắng vàng cho tóc ngát hương cau

      anh nhớ như ngày xưa xa vắng

      chuyện chúng mình chưa hóa biển dâu (...)” (Ngoài Chân Mây)


      "mưa tan những trận sầu đông

      trên cao ngọn nắng chớm hồng nụ hoa

      bờ mây nhòa tự non xa

      ta nghe buổi sớm chim ca suối nguồn

      em về từ cõi đông phương

      tóc mùa thu cũng trầm hương quê nhà

      em về nuôi mộng kiêu sa

      ngàn năm hoài vọng chiều ca dao buồn

      chút tình xưa đã trôi sông

      chừ quên thương nhớ mùa đông hiên ngoài

      em về thắp nắng ngọn mai

      rừng phơi áo lụa ngàn phai dấu tàn

      dòng sông đã xóa nỗi hàn

      trong nhau nghe đã ấm lòng yêu thương” (Tình Tứ)

      Bởi nếu tình cờ gặp gỡ, có chăng thì tình ấy cũng như là gió heo may nơi rừng xuân chim vẫn hót trong cây nắng vàng. Tình không thể lãng-mạn, yên bình như trước, khi người trai phải lên đường, đành Biết Còn Gì Cho Em:

      "thôi anh chẳng còn gì nói với em

      những lời yêu thương sách vở học đường

      nhớ thoáng nụ hôn dịu dàng trên má

      cho người yêu bé bỏng bớt đau thương

      ngày lên đường luyến lưu bao nỗi nhớ

      những đồi trăng hư ảo mộng mơ xưa

      đêm tỏ tình giữa trời sao chứng giám

      nghìn thu sau mộng ước vẫn chưa phai

      bờ sông nào lưu dấu chân kỷ niệm

      triều sóng dâng còn đâu nữa em ơi!

      lời sẽ tan bạt ngàn theo gió cuốn

      cay đắng nào đau xót mãi nhau thôi

      anh đi rồi không một lời hò hẹn

      nước xa nguồn biền biệt đến phương nao

      như loài chim xa rừng quên tiếng hót

      nhớ nhung chi những năm tháng ngọt ngào

      anh yêu em nguyên trinh hồn lụa trắng

      tuổi mùa xuân thao thức mộng ban đầu

      những trang thư quen thương từng nét chữ

      mỗi lời thơ chín lịm ý mong chờ

      mai anh đi chắc em buồn tuổi dại

      rồi bướm hoa ai dệt mấy vần thơ

      cho em thẹn như ngày vừa mới lớn

      bàn tay ngà che nửa miệng ngây thơ

      không còn gì trao gửi đến quê nhà

      bài thơ nhỏ xót xa phiền muộn đó

      anh vẫn hoài nhung nhớ giữa trời hoa

      người yêu nhỏ chưa một lần biết khóc”

      Một lần chia tay khác, khi nơi bến ga, con tàu sắp hụ còi tiến vào bóng đêm mù mịt:

      “rồi từ đó mặt trời đêm vỡ vụn

      lũ cột đèn bật sáng nỗi đau thương

      anh ra đi cúi đầu không tiếng nói

      em đứng nhìn ve vẩy mảnh hồn theo

      lời cuối cùng mang em về xứ cũ

      điệu buồn xưa thành phố ấy điêu tàn

      sầu không em kỷ niệm vàng bụi phấn

      tuổi yêu đương đời lỡ dại cưu mang

      em con gái, già nua hồn trinh trắng

      sách vở đầy hoa mộng ước tương lai

      tóc buông cài thơ ngây cười trong nắng

      thuở hồn nhiên nuôi tiếng mẹ sơ khai

      buồn mai nầy lệ cài lên mắt biếc

      lời giã từ lặng lẽ bến ga đêm

      về đi thôi vai gầy sương áo mỏng

      tàu đi rồi hoang vắng lạnh hồn em”

      (Chuyến Tàu Đêm)

      Tình gia-đình nhất là tình mẹ, ở Thái Tú Hạp trước 1975, mang thêm tính tượng trưng bao la:

      “dòng sông đó mang tội vào lịch sử

      Mẹ Việt Nam mang dấu đạn đau thương

      tháng năm buồn trôi qua bằng đau đớn

      trong cô đơn chờ đợi nỗi chán chường

      Mẹ u hoài vì đàn con đội ngã

      chiều chiến tranh âm ỉ cháy trong tim

      những mùa đông lửa tàn trong mái lá

      giọng ru sầu hiu hắt nỗi oan khiên

      Mẹ ngóng hoàng hôn cửa mòn mỏi đợi

      ngọn đèn khuya soi vách lá quạnh hiu

      mẹ nhớ thương con trời Nam bể Bắc

      chờ tin vui từ sớm nắng mưa chiều

      lòng mẹ khóc từng đêm theo tiếng súng

      nhìn non sông ngun ngút lửa tang thương

      ôi giòng máu quê hương cuồn cuộn chảy

      trong thịt da trong cơ thể điều tàn

      Mẹ chua xót mang niềm đau thế kỷ

      nỗi buồn cao như núi cả sông dài

      hồn như mây theo con ngoài vạn lý

      nhớ thương hoài dòng tóc đẫm sương phai

      chia tình xưa những cánh chim muôn hướng

      đời chiến bình từng giấc mộng tha phương

      mẹ già nua với tủi sầu khổ nạn

      nghe từng đêm súng vọng nẻo sa trường

      tim mẹ vỡ khi lửa chiều sau núi

      hãi hùng nuôi từng hy vọng tương lai

      biết bao giờ tin con về hạnh ngộ?

      xuân thanh bình hoa rực rỡ ngày mai”.

      (Lòng Mẹ, Văn, số 18 “Thơ văn có lửa”, 15-9-1964, tr. 59)

      Quê hương ngập tràn trong thơ Thái Tú Hạp – hình ảnh những Hội An, Đà Nẵng như luôn mời gọi “chừ về với phố u sầu / với thành quách cũ lên màu thời gian”:

      "xếp thương áo bụi quê người

      từng yêu dấu đó trọn đời trong ta

      phố em đứng đợi thực thà

      phố cho nhau đủ mặn mà thủy chung

      phố khuyên anh nỗi vui mừng

      phố cho anh những lạnh lùng vinh hoa

      phố em vườn sớm chim ca

      chiều ru trong tiếng thơ và gió bay

      phố thương em quá trọn đầy

      về xin thắp lửa sum vầy cho nhau”

      (Khi Về Đà Nẵng)

      Thơ ông thời này nhiều buồn hơn vui – vui có chăng là trong hy vọng về một ngày mai, nhiều buồn “hiu hắt” cùng cái buồn thân phận bất lực trước thế cuộc: “nghe chiều lành lạnh trong hồn / cái im vắng đến mỏi mòn thịt da”. Lời Buồn Treo Cao là của người tuổi trẻ đó:

      "cho đêm bừng đóa mặt trời

      cho thân thể mẹ qua rồi đớn đau

      cho em tiếng hát ngọt ngào

      cho vùng suy tưởng chở vào giấc thương

      cho chim hoa bướm mùa xuân

      cho lời kinh kệ tan cơn oán thù

      cho tàn binh lửa đôi bờ

      cho cành dương nước cam lồ vô biên

      cho tiêu tan chuyện ưu phiền

      cho quê hương đẹp trăm miền tinh khôi

      cho em thôi giọng ngậm ngùi

      cho sông biển ngọt tuổi đời xanh yêu

      cho mây hôn ánh mắt chiều

      cho cơm khói quyện mái nghèo thiết tha

      cho âu yếm chốn ruột rà

      cho ngàn năm đón thực thà vào tim

      cho phai hờn giận triền miên

      cho tha thứ hết lỗi lầm trong anh

      cho vui thắm mộng dỗ dành

      cho nghìn oan ức tan tành theo chuông”

      (Giữ Thơm Quê Mẹ, số 7&8, Xuân Bính Ngọ 1966, tr. 14)

      Tâm nhà thơ được an-bình, trầm lắng những khi tìm đến chốn Phật, và lời thơ nhuốm Thiền vì thế được diễn đạt tự nhiên:

      «chiều lên mây tỏa vừng ô

      chim tha sợi cỏ đồi khô về thành

      khơi nguồn mạch ngọt hồi sinh

      bé thơ tuổi dại dỗ dành tiếng ca

      điệu vàng phổ nhạc trường sa

      hoa bừng phố thị nguy nga giấc tình

      buồn chăng em cõi đăng trình

      rụng rơi tiếng khóc nguyên trinh bẽ bàng

      đưa em về ngự trần gian

      trùng lai duyên khởi cưu mang kiếp này”

      (Đưa Em Về).


      “xin ngày cho thấy mặt nhau

      xin chuông chùa thức đêm sầu bi thương

      xin thôi chia nẻo chiến trường

      xin cơn đau đớn xa nguồn từ ly

      xin chiều mắt mẹ từ bi

      xin em lặng tiếng ngậm ngùi ru con

      xin chim ngợp nắng ruộng đồng

      xin mây thu vẫn bềnh bồng trên cao

      xin anh lời hát ngọt ngào

      xin ngàn năm đón nụ chào bao dung

      xin sông về kiếp trùng dương

      xin cho lòng mẹ thắm hồng tuổi đau

      xin tay làm nhịp kinh cầu

      xin vùng bom đạn ăn năn

      xin thân thể xóa điêu tàn dấu xưa

      xin van đời những lọc lừa

      xin hồn nguyên thỉ giữa mùa loạn ly

      xin em suối ngọc huyên vi

      xin cho thanh tịnh đời phi nghĩa này...”

      (Nụ Chào Bao Dung: Giữ Thơm Quê Mẹ, số 5, 11-1965, tr. 6)

      Thơ Thái Tú Hạp sử-dụng nhiều thể-loại nhưng riêng Lục Bát được nhà thơ đặc sắc sử-dụng để diễn tả ý tình. Như trong bài Về:

      “về đây tìm mảnh trăng gầy

      soi tâm tư rã như bầy sao rơi

      nghe cồn cát lũ bãi khơi

      nghe tình gió thoảng đầy vơi biển sầu

      về đây chôn nỗi lo âu

      khép thời gian lại nguyện cầu đức tin

      hồn thơ khoác kín im lìm

      ngắm không gian lặng nỗi niềm riêng tư

      về đây biết nói sao chừ?

      lá buông thuyền mãi còn dư thu này

      gió đùa đánh thức ngàn cây

      hoa ngây thơ mộng đắm say hương ngà

      nửa đêm buôn lã thôn ga

      quán hiu hắt lạnh chiều tà phiêu du

      mây sầu lũng thấp âm u

      nghe thương nhớ quá vàng thu âm hài

      về đây còn hẹn ngày mai

      cho trìu mến nở trọn hai tâm hồn”.

      Hoặc trong Hoa Cỏ Điêu Tàn:

      "rồi như nước lũ bên cầu

      tình em thôi cũng mang sầu tủi thân

      lời xưa nuối mộng bàng hoàng

      hồn thanh xuân đó lệ ngàn sao sa

      bao nhiêu kỷ niệm đậm đà

      lòng mai sau có xót xa chuyện đời

      chừ thương em cả biển trời

      mây pha màu áo ngọt lời yêu đương

      chừ mê em nụ môi hường

      tương tư từng buổi bỏ trường đi hoang

      tội tình thơ cũng bẽ bàng

      nhớ thương anh cũng điêu tàn cỏ hoa

      bàn tay em đó ngọc ngà

      buồn yêu giọng hát kiêu sa tuổi vàng

      thương em đời dại cưu mang

      cho anh mất cả thiên đàng nữa sao?”

      Nguyễn Vy Khanh

      Văn Học Miền Nam 1954-1975, Quyển hạ: Tác Giả
      Nguyễn Publishings, 2018



      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Túy Hồng Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Cao Thoại Châu Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Nhà Thơ Thái Tú Hạp Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Thơ tình Hoàng Anh Tuấn Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Giáo Sư Nguyễn Nam Châu (1929-2005) Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Về Cách-Tân Tiểu-Thuyết Nguyễn Vy Khanh Biên khảo

      - Cung Tích Biền Những Năm 2000 Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Điểm Sách Nguyễn Vy Khanh Điểm sách

      - Du Tử Lê Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Nguyễn Đức BạtNgàn Nguyễn Vy Khanh Nhận định

    3. Bài viết về nhà thơ Thái Tú Hạp (Học Xá)

       

      Bài viết về Thái Tú Hạp

       
      Cùng Tác Giả (Link-1)

      Nhà Thơ Thái Tú Hạp (Nguyễn Vy Khanh)

      Một Thoáng Xuân Trong Thơ Thái Tú Hạp (Phù Vân)

      Phỏng Vấn Thái Tú Hạp & Ái Cầm

       (Giáng Ngọc)

      Thiền Tính Trong Thơ Thái Tú Hạp

       (Nguyễn Vy Khanh)

      Trôi theo dòng sông thơ Thái Tú Hạp

       (Du Tử Lê)

      Đọc thơ Thái Tú Hạp (Vĩnh hảo)

      Đọc Thơ Thái Tú Hạp (Bùi Bảo Trúc)

      Cõi thơ Thái Tú Hạp (Trần Ngọc Chất)

       

      Tác phẩm của Thái Tú Hạp

       
      Cùng Tác Giả

      Lê Mai Lĩnh Trên Những Chặng Đường Gai Lửa (Thái Tú Hạp)

      Đi Tìm Đường Bay Ưu Việt Của Thi Ca

      (Thái Tú Hạp)

      Nguyên Sa - Thế giới của Tình yêu thơ mộng (Thái Tú Hạp)

      Hoàng Thi Thơ: nửa thế kỷ dành cho tình yêu & quê hương (Thái Tú Hạp)

      Tiểu sử

      Quyền Uy Trong Vương Quốc Của Nhà Thơ Du Tử Lê

      Vài nét về cõi thơ Trần Trung Đạo

      Những bài thơ hoa đào hay nhất

      Những sáng tác phổ thơ của thi sĩ Thái Tú Hạp (hopamviet)

       

      Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Lê Văn Trương (Nguyễn Vỹ)

      - Nhà văn Bình Nguyên Lộc, “Tam kiệt Việt Nam”

      (Du Tử Lê)

      - "Văn Chiêu Hồn" thuộc về lối văn bình dân

      (Hoài Thanh)

      - Tưởng nhớ Túy Hồng (Trùng Dương)

      - Ưu thế của chữ quốc ngữ đối với chữ vuông biểu ý (Thiếu Khanh)

        Giai Thoại Văn Học

       

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Tạp Văn (Nguyễn Kim Phượng)

      - Văn học miền Nam ở hải ngoại (Viên Linh)

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975: Nhận Định, Biên Khảo, Thư Tịch (Nguyễn Vy Khanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      An Khê,  Bàng Bá Lân,  Bích Khê,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Bích Hà,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Vĩnh Phúc,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Thoại Châu,  Cao Tiêu,  Cao Đông Khánh,  Chu Thiên,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)