1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Từ Điển Anh Việt

       

          

       

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      Thư viện Người Việt:
      NAM PHONG
      TRI TÂN
      THANH NGHỊ
      NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
       

       

    2. Chiến-Ðấu-Ca Và Bi-Hoài-Ca Song Hành Trong Bài Thơ Tây-Tiến (Trần Văn Nam)
      19-07-2016 | VĂN HỌC

      Chiến-Ðấu-Ca Và Bi-Hoài-Ca Song Hành Trong Bài Thơ Tây-Tiến

       TRẦN VĂN NAM


           Nhà thơ Quang Dũng
      (1921-1988)

      Tính hào hùng rất dễ tìm thấy trong bài thơ Tây Tiến. Tính bi tráng của chiến tranh cũng rất dễ tìm ra trong bài thơ. Ngày nay ta thường nói về tính nhân bản để bàn về các tác phẩm chiến tranh. Bài thơ Tây Tiến cũng có nhiều dáng vẻ của tính phản chiến. Dùng từ ngữ phản chiến thì hơi quá, nên xin diễn tả bằng những từ ngữ khác: Cảm nghĩ chân thực của con người đối với sự khốc liệt của bất cứ cuộc chiến tranh nào, dù đó là cuộc chiến tranh thần thánh huy động được cả toàn dân tham gia vào cuộc trường kỳ kháng Pháp. Tính hào hùng, tính bi cảm, hai khía cạnh của bài thơ Tây Tiến thực sự rất dễ tìm thấy, không phải là một gán ghép để trình bày quan niệm nhân bản thường được bàn tới bởi các sách báo Tây Phương. Ðiều làm ta ngạc nhiên là hai khía cạnh đó hiện diện song hành một cách tình cờ trong mỗi đoạn thơ. Ví dụ đoạn thơ đầu, lúc mới lên đường từ giã miền xuôi:


      Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi

      Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

      Sài Khao, sương lấp, đoàn quân mỏi

      Mường Lát mưa về trong đêm hơi.


      Ðây là đoạn thơ giới thiệu về địa lý, nơi xuất phát của đoàn quân Tây Tiến ra đi từ vùng Thanh Nghệ Tĩnh có dòng sông Mã hùng dũng. Câu thơ “Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi” vừa chứa đựng niềm phấn khởi lên đường hướng về vị trí chiến lược trên đất Lào, vừa bao hàm sự luyến tiếc quê nhà đã rời bỏ ngày càng lùi lại ở miền xuôi. Ðích thực của lòng người chiến sĩ: oai phong ra đi mà cũng đầy bịn rịn. Tiếp theo, đây là đoạn thơ bắt đầu lên Trường Sơn:


      Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

      Heo hút cồn mây súng ngửi trời

      Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

      Nhà ai Phà Luông mưa xa khơi.


      Ðoạn thơ mở ra một góc trời hùng vĩ, núi cao chớn chở, vùng biên giới Lào Việt. Ðèo cao, mây lẫn với đoàn người chênh vênh. Dốc thăm thẳm chập chùng đổ xuống vùng đồng bằng. Khi ở trên cao, Quang Dũng nhìn xuống thung lũng bao quát xa xăm, thấy nhà ai trong mưa, chạnh nhớ nhà. Mưa xa khơi là hình ảnh của mờ mịt. Nhà ai là hình ảnh gợi nhớ về mái ấm gia đình. Nhớ nhà xa xôi trong lúc hành quân “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”, rõ ràng là sự song hành của hai mặt chiến tranh và hòa bình, hành quân ca và âu ca. Ta đọc tiếp để thấy rõ quả thật mỗi đoạn thơ lại có sự song hành:


      Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

      Quân xanh màu lá dữ oai hùm

      Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

      Ðêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.


      Gian khổ chốn rừng thiêng nước độc, muỗi vắt gây bệnh làm mòn hao sinh lực. Ðoàn binh không mọc tóc vì sốt rét rừng. Gian khổ của Tây Tiến, đáng lẽ Quang Dũng không nên nói ra vì có thể làm nhụt chí khí của những người tiếp nối biết đâu cũng sắp sửa lên đường. Quang Dũng đã mô tả trung thực, vì ông làm thơ do cảm nghĩ của lòng mình, không làm thơ giấu sự thật theo kiểu “Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh” (Nhan đề một tập truyện của Ðức thời Ðệ Nhất Thế Chiến, trong đó sự thật thì phòng tuyến Miền Tây của Ðức đã tan vỡ trước mũi tiến công của đối phương). Trở lại bài Tây Tiến, đoàn quân Việt Minh đã tiến sát vào lòng đất địch, vùng bố trí của quân đội Pháp trên đất Lào. Ðoàn quân ngụy trang màu xanh lá rừng. Hùng vĩ của thiên nhiên trong bài thơ Tây Tiến như đón mừng hùng khí của con người. Mắt trừng gởi mộng qua biên giới đầy vẻ hăm dọa của cọp rừng xanh chờ đợi giây phút công hãm lũy đồn. Hùng dũng như vậy mà khi đêm xuống, trong lúc dừng bước hành quân để nghỉ ngơi, tâm trí người chiến sĩ lại mơ về Hà Nội có dáng kiều thơm. Ðáng quở trách hay đáng thông cảm một biểu lộ thành thật? Không hẳn đi kháng chiến thì lúc nào cũng nghĩ về đánh giặc mà quên đi đôi chút mơ tưởng khi nghỉ dưỡng quân. Và dưới đây là đoạn thơ gây ấn tượng nhất, vì nó vừa rất mạnh mẽ vừa thật thê lương:


      Rải rác biên cương mồ viễn xứ

      Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

      Áo bào thay chiếu anh về đất

      Sông Mã gầm lên khúc độc hành.


      Hình ảnh thê lương của những nấm mồ viễn xứ rải rác trên núi rừng. Họ không gục ngã vì lâm trận mà vì bệnh tật dọc đường. Những người tiếp tục ra đi sẽ không khỏi liên tưởng có ngày mình cũng như vậy. Vừa mới nói ra điều thê thảm, Quang Dũng liền chấn chỉnh bằng cảm nghĩ chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh. Ta không thể nói là Quang Dũng giả tạo, vớt vát lại cái thê thảm mình vừa nói ra. Vào thời điểm của chiến dịch Tây Tiến, mọi người đều hăm hở lên đường, tự nguyện tham gia kháng chiến, tự nguyện rời bỏ những ấm êm của thành thị, quả là chẳng tiếc đời xanh. Nhưng chẳng tiếc đời xanh cũng bao hàm sự nghĩ ngợi thời gian vô định của cuộc trường kỳ kháng chiến, vì nếu không nghĩ thì tác giả nói ra làm gì. Những gục ngã vì bệnh tật dọc đường cũng là những hy sinh. Ra đi dù biết trước đầy gian hiểm, thật xứng đáng là những cái chết với da ngựa bọc thây, với “áo bào thay chiếu anh về đất”. Và con sông lớn “gầm lên khúc độc-hành” nghe thật dũng mãnh. Nó oai hùng mang tên loài ngựa chiến hí lộng ngược dòng đi vào núi rừng sâu thẳm. Tính chất vừa bi thảm vừa hào hùng một lần nữa song hành một cách tình cờ, gắn bó như một cảm hứng vãng lai trong ý nghĩ của Quang Dũng. Và đoạn gần cuối của bài thơ biểu hiện rõ dần sự song hành giữa chí khí anh hùng “chia phôi không hẹn ước” và hình ảnh hiện thực huyền ảo “Hồn về Sầm Nứa”:


      Tây Tiến người đi không hẹn ước

      Ðường lên thăm thẳm một chia phôi

      Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

      Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.


      Dù lồng vào hình ảnh khá ấn tượng của sự mệt mỏi gần kiệt sức, nhưng đoạn thơ vẫn phảng phất hương vị lãng mạn nhớ ngày nào mới chia ly. Có thể nói Quang Dũng không có chủ tâm làm một bài thơ mang tính nhân bản thường nói đến ngày nay, không có chủ đích phản chiến. Những gian nguy Quang Dũng nói ra là để làm nổi bật sự hy sinh vô bờ bến trong cuộc chiến tranh chống Pháp. Ở đoạn cuối của bài thơ, tác giả kết thúc với câu: “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”. Câu ấy làm cho bài thơ mang một chút huyền bí: hồn ma chiến sĩ thành mây trôi bàng bạc về Sầm Nứa trên đất Lào. Nếu Quang Dũng đổi một từ, “Hồn về” thành ra “Lòng về Sầm Nứa”, thì chắc hẳn bài thơ mạnh mẽ tính chiến đấu hơn. Mây trôi về phía chân trời và ta mường tượng các đồng đội đang đứng nghiêm tưởng nhớ những chiến sĩ bỏ mình nơi vùng biên giới. Giây phút trầm mặc ấy khiến sự song hành giữa hào hùng và bi cảm càng thêm đậm nét. “Chiến Tranh Và Hòa Bình”, “Một Thời Ðể Yêu Và Một Thời Ðể Chết”, “Âu ca và Hành quân ca” hiện diện thấp thoáng ở mỗi đoạn thơ.


      Do đâu mà tính chất vừa anh hùng ca vừa bi ca và âu ca gần như là song hành trong mỗi đoạn thơ. Do Quang Dũng đã sáng tác theo cảm nghĩ của lòng mình, do ý hướng làm thơ hơn là ý hướng nào khác, mặc dù Quang Dũng là một trung đoàn trưởng trong đoàn quân Tây Tiến (có tài liệu nói ông là một đại đội trưởng). Nếu do ý hướng cổ võ tinh thần binh sĩ thì đã hẳn Quang Dũng sáng tác bài hịch hay bài thơ tuyên truyền như một Lý Thường Kiệt trong lịch sử thời nhà Lý. Quang Dũng sáng tác do ý hướng làm thơ, do cảm nghĩ của lòng mình, nên ông không hề có ý định đem phổ biến trong hàng ngũ đoàn quân Tây Tiến. Bài thơ được truyền tụng do bạn bè, do mọi người đánh giá được bài thơ hay. Bài thơ Tây Tiến không làm nhụt chí khí binh sĩ. Ra đi tự nguyện là chấp nhận hy sinh, chấp nhận gian khổ. Quang Dũng nói ra cũng chỉ là nói một sự thật mà ai cũng biết. Bài thơ được truyền tụng, chứng tỏ nó làm cảm động lòng người, và sự hào hùng làm ta hứng thú.


      City of Walnut, California, tháng 10 năm 2010


      Trần Văn Nam

      Tác giả gởi



      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Chất Thơ Do Cảm Nhận Vài Kiến Thức Về Tư Tưởng Của Kant Và Hegel Trần Văn Nam Nhận định

      - Nhà Thơ Thành Tôn Và Những Hình Ảnh Tận Tụy Với Văn Học Trần Văn Nam Tạp bút

      - Tứ Thơ Và Chiến Tranh: Chiến-Sự Dù Nhỏ, Cũng Đã Lưu-Dấu Trong Thơ Trần Văn Nam Thơ

      - Nghĩ Về Thơ Biểu Cảm Và Thơ Biện Luận (Qua Thi Phẩm của Thành Tôn) Trần Văn Nam Nhận định

      - Những Dời Đổi Địa Hình và Mối Hoài Cảm Thi Ca Trần Văn Nam Thơ

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975 Của Nguyễn Vy Khanh: Động Cơ Thực Hiện Trần Văn Nam Nhận định

      - Thơ Tình Tám Chữ Theo Lối Nhà Thơ Nguyên Sa Trần Văn Nam Thơ

      - Nguyên văn bài thơ “KHOÁC KÍN” của Cung Trầm Tưởng Trần Văn Nam Bổ túc

      - Bài Phát Biểu Nhân Dịp Nhà Thơ Cung Trầm Tưởng Ra Mắt Sách Ở Quận Cam Trần Văn Nam Phát biểu

      - Hình Dung Một Vòm Trời Nước Pháp Qua Thơ Cung Trầm Tưởng Trần Văn Nam Nhận định

    3. Bài Viết Về Quang Dũng

       

      Bài viết về Quang Dũng

       

      Ba Năm Làm Việc Chung Với Quang Dũng Ở Hà Nội (Xuân Vũ)

      Chiến-Ðấu-Ca Và Bi-Hoài-Ca Song Hành Trong Bài Thơ Tây-Tiến (Trần Văn Nam)

      Bài Thơ Tây Tiến (Quang Dũng) (Viên Linh)

      Nhà thơ Quang Dũng (1921-1988) (Trần Yên Hòa)

       

      Tác phẩm

       

      Thơ Quang Dũng: thivien.net, poem.com

       

       

      Link (Văn Học VN dưới chế độ CS)

       

      Văn Học Việt Nam dưới chế độ CS

       

      Nghi Án 60 Năm (Trần Gia Phụng)

      Nhận Diện Chân Dung Nhà Văn (Lý Hồng Xuân)

      Tự Do Học Thuật (Nguyễn Hưng Quốc)

      Nhân chuyện người lính buồn trong thơ Văn Lê (Trần Mạnh Hảo)

      Vĩnh Biệt Sơn Nam (Tưởng Năng Tiến)

      Tiểu thuyết Gửi người yêu và tin của Nguyễn Thị Từ Huy (Mặc Lâm)

      Vụ Án Nhã Thuyên (Nguyễn Hưng Quốc)

      "Kiện Tướng" Phan Khôi mới thực là Lãnh tụ của Văn Chương Phản Kháng (Thái Việt)

      Những cái chết tức tưởi của nhà văn, chuyện bây giờ mới kể (Thái Doãn Hiểu)

      Thụy Khuê với Nhân Văn Giai Phẩm (Hồ Trường An)

      Nhóm “Mở Miệng”: lịch sử văn học đẫm máu sắp lập lại? (Mặc Lâm)

      Luận văn Đỗ Thị Thoan, một Nhân Văn Giai Phẩm thứ hai (Thanh Phương)

      Phê Bình Văn Học dưới chế độ cộng sản (Nguyễn Hưng Quốc)

      Cú giãy cuối cùng của nền phê bình chỉnh huấn (Phạm Thị Hoài)

      Ghi (1954 - 1960) (Trần Dần)

       

      Thụy An (1916-1989) (Thụy Khuê)

      Về Kinh Bắc (Hoàng Cầm)

      Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt (Lưu Quang Vũ)

      Đêm Giữa Ban Ngày (Vũ Thư Hiên)

      Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất (Nguyễn Khải)

      Chuyện Kể Năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn)

      Hậu Chuyện Kể Năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn)

      Ba Người Khác (Tô Hoài)

      Đèn Cù - I (Trần Đĩnh)

      Đèn Cù - II (Trần Đĩnh)

      Thời Của Thánh Thần (Hoàng Minh Tường)

      Trần Đức Thảo - Những Lời Trăng Trối

      (Tri Vũ - Phan NGọc Khuê)

      Chế độ kiểm duyệt sách báo tại Việt Nam

       (Nguyễn Hưng Quốc)

      Phong Trào Nhân Văn Giai Phẩm (Thuỵ Khuê)

      Thụy Khuê và Nhân Văn Giai Phẩm (VietNam Film Club)

       

      Phim tài liệu (VietNam Film Club, 2013):

      Tập I:  Nhân Văn Giai Phẩm

      Tập II: Cải Cách Ruộng Đất

       

      Tác Giả

      Bùi Ngọc Tấn,  Hà Minh Tuân,  Hoàng Cầm,  Hữu Loan,  Lưu Quang Vũ,  Nguyễn Tuân,  Phùng Quán,  Quang Dũng,  Thuỵ An,  Trần Đĩnh,  Trần Đức Thảo,  

       

       

      Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Thân Phận Của Hồ Xuân Hương (Bùi Giáng)

      - Tại sao Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc?

      (Phạm Công Thiện)

      - Tâm sự năm thứ 21 ‘Khởi Hành’ (Viên Linh)

      - Những Công Án Bất Ngờ (Nguyễn Văn Sâm)

      - Đồng hành (Hồ Đình Nghiêm)

      - Tưởng Nhớ Nguyễn Tất Nhiên (Hoàng Dược Thảo)

      - Ông Dương, Ông Đã Về Trời (Cung Tích Biền)

      - Cuộc Phỏng Vấn Các Nhà Văn: Ông Nguyễn Văn Tố

      (Lê Thanh)

      - Từ Đền Sách Cấm Parthenon ở Đức, tới Chiến Dịch Cộng Sản Đốt Sách Miền Nam 1975 (Trùng Dương)

      - Cuộc phỏng vấn Ông Lệ Thần Trần Trọng Kim

      (Lê Thanh)

      - Nhớ học giả Hoàng Văn Chí (ViênLinh)

      - Ông Nguyễn Hiến Lê Và Tôi (Đỗ Hồng Ngọc)

      - Trống một chỗ ngồi (Nguyễn Văn Sâm)

      - Nhân đọc bản thảo cuốn “Nguyễn Hiến Lê” của Châu Hải Kỳ (Võ Phiến)

      - Hội chợ sách Tiếng Quê Hương: 17 năm giữ gìn tiếng Việt (Lâm Hoài Thạch)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Du Tử Lê,  Dương Nghiễm Mậu,  Hà Thúc Sinh,  Hà Thượng Nhân,  Hàn Mặc Tử,  Hoài Khanh,  Hoàng Khởi Phong,  Hoàng Ngọc Hiển,  Hoàng Xuân Sơn,  Huỳnh Hữu Ủy,  Khoa Hữu,  Lâm Chương,  Lâm Hảo Dũng,  Lâm Vị Thủy,  Lê Hữu,  Lê Văn Trung,  Luân Hoán,  Mặc Đỗ,  Mai Thảo,  Minh Đức Hoài Trinh,  Ngô Nguyên Nghiễm,  Nguyễn Âu Hồng,  Nguyễn Bắc Sơn,  Nguyễn Lệ Uyên,  Nguyễn Mạnh Côn,  Nguyễn Ngọc Tư,  Nguyễn Phan Thịnh,  Nguyên Sa,  Nguyễn Tất Nhiên,  Nguyễn Thị Hoàng,  Nguyễn Thị Thanh Bình,  Nguyễn Thị Thảo An,  Nguyễn Thị Thuỵ Vũ,  Nguyễn Văn Sâm,  Nguyễn Vỹ,  Nguyễn Vy Khanh,  Nguyễn Xuân Hoàng,  Nguyễn Xuân Thiệp,  Nguyễn Đình Toàn,  Nguyễn Đức Sơn,  Nhật Tiến,  Nhất Tuấn,  Phạm Cao Hoàng,  Phạm Ngọc Lư,  Phạm Phú Minh,  Phan Lạc Phúc,  Phan Nhật Nam,  Phan Trang Hy,  Phùng Cung,  Phùng Thăng,  Sơn Nam,  Tâm Thanh,  TchyA,  Thái Văn Kiểm,  Thanh Nam,  Thanh Tâm Tuyền,  Thành Tôn,  Thảo Ca,  Thảo Trường,  Tiểu Tử,  Tô Thùy Yên,  Trần Hoài Thư,  Trần Mộng Tú,  Trần Phù Thế,  Trần Thúc Vũ,  Trần Tuấn Kiệt,  Trần Văn Nam,  Trần Yên Hòa,  Trịnh Y Thư,  Từ Thế Mộng,  Tuệ Sỹ,  Viên Linh,  Võ Phiến,  Vũ Hữu Định,  Vũ Khắc Khoan,  Xuân Thao,  Xuân Vũ,  Y Uyên,  Đặng Phú Phong,  Đào Anh Dũng,  Đỗ Quyên,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)