Head



 

 

Bài Thơ Tây Tiến của Quang Dũng (Viên Linh)
24-08-2013 | VĂN HỌC

Bài Thơ Tây Tiến (Quang Dũng)

 VIÊN LINH


     Quang Dũng (1965)
Nguồn: Khởi Hành 201 tháng 7.13

Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng làm năm 1948, một năm sau khi Trung đoàn Thủ đô, hay Trung đoàn Thăng Long, trong đó thi sĩ tác giả là một thành viên, rút khỏi Hà Nội.


Ngày toàn quốc kháng chiến chống Pháp bùng nổ từ Hà Nội, là ngày 19 tháng 12.1946, giữa 8000 thanh niên sinh viên trí thức "Tự Vệ Thành," (không có đơn vị bộ đội Việt Minh nào), 1 và 4500 quân Pháp, là trận đánh của những trí thức yêu nước của Thủ đô chống lại sự trở lại của thực dân Pháp, do bản ký kết của ông Hồ với Pháp ngày 6 tháng 3.1946, gọi là Hiệp định Sơ bộ. Theo Hlệp-định này, Chính phủ Liên hiệp Quốc gia đồng ý cho Pháp thay quân Tàu như là đại diện Đồng Minh, vào Bắc Việt Nam tới vĩ tuyến 16 giải giới quân Nhật. Sự việc xảy ra một mặt là do Pháp vận động để được trở lại tiếp tục đô hộ Việt Nam, và mặt khác, do ông Hồ muốn nắm giữ quyền hành để có tiêu diệt các đảng phái quốc gia yêu nước. 2


Quang Dũng là anh của bốn cô em gái, một em trai, trong có một em gái và một em trai vào Nam năm chia cắt đất nước 1954, cùng bà mẹ. Người cha, cụ Tú Khuê còn là chánh tổng, dân làng gọi là cụ Tổng. Thuở niên thiếu ra trường thay vì đi dạy học, Quang Dũng lại đi làm xếp ga ở nhà ga Yên Bái, và chính trong thời gian này ông gia nhập Quốc Dân Đảng, khiến Pháp đã về tận làng Phùng tìm bắt ông, song không kết quả.


Trong thời gian ấy, các thanh niên hoạt động hội kín thường được tiếp tế bởi các bạn hữu đồng chí hướng, một trong những người bạn đó là Bùi Thị Thạch, sau này là vợ thi sĩ. Đầu thập niên '40, các thành viên QDĐ bị lùng bắt giữ, Quang Dũng chạy qua Tầu.


Được QDĐ Trung Hoa hỗ trợ, thanh niên Bụi Đình Diễm vào học quân sự tại Trường Quân Sự của QDĐ, sau được bổ làm Doanh trưởng Phủ Khai Phóng, tỉnh Vân Nam. Năm 1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh, quân Tưởng Giới Thạch được Đồng Minh ủy thác từ Trung Hoa vào Bắc Việt Nam tước khí giới quân Nhật. Trong các nhà cách mạng Việt Nam ở Tầu theo Tướng Lư Hán vào Hà Nội có cụ Nguyễn Hải Thần, và thanh niên Bùi Đình Diệm. Theo tài liệu của một bạn thân của Quang Dũng, thì "Quang Dũng trở thành Ủy viên Quân sự đầu tiên tại Bắc Bộ Phủ, sĩ quan liên lạc với quân đội Trong Hoa." (3)


Trận đánh tại Hà Nội bất quân xứng, vì Tự Vệ Thành chi có súng nhỏ, đa số là gậy gộc, dáo mác, trong khi quân Pháp có súng liên thanh, và dùng đến cả xe tăng, hạ ngang nòng súng bắn thẳng vào đám thanh niên, sinh viên trí thức yêu nước. Xin nhắc lại, Bộ đội Việt Minh đã nhận được lệnh của Võ Nguyên Giáp rút khỏi Hà Nội 2 ngày trước khi có lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. 1


Chưa tới hai tháng, đầu năm 1947, Thanh niên Tự Vệ Thành phải rút khỏi thủ đô, một số chạy qua Tầu lưu vong, một số biến thành binh sĩ dự chiến dịch Tây Tiến, gọi là Trung đoàn Thủ đô, trong có Quang Dũng; ngoài ra để lại trên đất Hà thành 1300 tử sĩ, vừa chết vừa mất tích, và 2500 người bị thương.(4)


Bài Tây Tiến của Quang Dũng được thi sĩ viết vào sổ tay, và được anh em chiến hữu lưu truyền rần rần trong Trung đoàn, bằng cách chép lại. Bài thơ rõ ràng không chỉ là tâm sự một thành viên của Trung đoàn, mà là tâm sự của hầu hết trí thức trẻ đã tham gia cách mạng chống Pháp, phải bỏ thủ đô yêu dấu cua Đất Nước, của mình, mà đi. Tây Tiến trở thành bài thơ bất hủ của những người cầm súng chống Pháp, suốt từ 1946 tới 1954 chia cắt, và cho khắp Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở xuống Cà Mau, vì nó bị cấm ở Miền Bắc, tác giả bị giải ngũ ngay từ tháng 7.1951 do quá khứ Quốc Dân Đảng; và sau đó vì tham gia Nhân Văn - Giai Phẩm, bị tù và bị cấm viết.


TÂY TIẾN



     Thủ bút Quang Dũng

Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi!

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi


Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửt trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi


Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi


Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa


Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm


Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu, anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành


Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Phù Lưu Chanh, 1948


Quang Dũng phải sống bằng nghề sửa bản in cho báo Văn Nghệ. Thơ ông được in ra, được đọc, được ngâm và phổ nhạc tại Miền Nam từ sau 1954, nhưng mãi năm 1986, bài Tây Tiến mới được in ra ớ Hà Nôi cùng các bài khác trong thi phẩm Mây Đầu Ô, hai năm trước khi ông từ trần. Lúc tập thơ mang về, thi sĩ nằm trên giường bệnh, không còn đủ sức cầm cây bút lên để ký tặng bạn hữu.


Đọc Tây Tiến, người đọc sẽ thấy tâm hồn thanh niên Hà Nội tha thiết và khắc khoải trong từng câu thơ. Song đời sống của các nhân vật trong bài thơ không phải là đời sống của Hà Nội, mà là của những người Hà Nội ở chiến trường Tây Bắc, và núi rừng Tây Bắc, những người bỏ Hà Nội đi chiến đấu trên núi rừng, mà bên kia biên giới là Vientiane, thuộc Lào. Tới khi bỏ Tây Bắc, thi sĩ mới nhớ Chiến dịch Tây Tiến, mới nhớ núi rừng, sương mù, mới nhớ bản mường và đoàn quân mỏi, làm bài thơ nhan đề "Nhớ Tây Tiến."


Nỗi nhớ này được con trai thi sĩ là Quang Vinh kể lại với một nhà báo, nhà báo này viết lại như sau: "Nhiều lần, ông thấy cha mình ngồi rất lâu trước một cuốn sổ tay băn khoăn về cái tít vỏn vẹn có 3 chữ ấy. Có lẽ Tây Tiến là kỷ niệm đáng nhớ nhất trong cuộc đời binh nghiệp của Quang Dũng nên bài thơ thấm đẫm linh hồn đoàn quân hào hoa ngày nào, ông luôn luôn muốn có một sự chín chu đến từng câu chữ. Cuối cùng Quang Dũng lấy bút bỏ đi chữ "Nhớ."


Dù còn nhỏ, nhưng ông Vĩnh cũng buột miệng hỏi sau thi thấy cha "bóp trán" hàng năm trời ma chỉ sửa được vỏn vẹn duy nhất một chữ. "Chữ 'Nhớ' đâu có ảnh hưởng nhiều đến vần điệu bài thơ sao bố nghĩ gì mà lâu thế?" Quang Dũng chỉ cười mà rằng: "Tây Tiến, nhắc đến là đã thấy nỗi nhớ rồi. Thế nên để chữ 'nhớ' là thừa. Không cần thiết nữa con trai ạ." (3)


Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi


Bước chân thi sĩ đã qua Sông Mã rồi, thi sĩ đang hướng về miền xuôi. Châu thổ người kinh nằm giữa Sông Hồng, Sông Mã; thi sĩ xa sông Mã là đang hướng về bản thổ cũ. Đang rời xa chiến trường rừng núi mà đã nhớ rồi. Đoạn thơ bốn câu trên, cũng như toàn bài thơ, qua bản viết tay của Quang Dũng, không hề có một dấu phẩy, không hề có một dấu chấm.


Nhớ Sài Khao sương mù, nhớ Mường Lát mù sương. Và nhớ những cuộc hành quân súng vác vai vượt một ngàn thước lên cao gần trời, đến nỗi mũi súng như chạm mây, thức dậy, ngửi được hương boa thiên tải, và lúc xuống đáy thung lũng, thấy Fa Luông như chìm trong biển mưa bàng bạc xa xa.


Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Fa luông mưa xa khơi.


Chữ Fa luông tác giả viết Fa, nhưng đã tẩy đi, viết chữ Pha bên trên, còn chữ luông không lên hoa. Bước chân rời Tây Tiến xa hơn, tác giả nhớ đến người bạn đã vĩnh viễn nằm lại Tây Tiến.


Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên dời

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người


Anh không chết, anh chỉ không đi nữa, nằm lên hành trang và vũ khí, quên đi cuộc đời này. Tiếng thác ầm ầm của sơn lâm cũng là oai linh của hồn chiến sĩ. Tác giả tuy thế cũng nhớ đến con cọp thành tinh từng hiện về phá phách thôn bản trong vùng.


Trong một lần hành quân, đại đội của Đại úy Bùi Đình Diệm tới Mường Hịch, không xa Sông Mã. Người dân kể trong vùng có một con cọp đã thanh tinh, thường lẻn vào thôn bản vồ người mang đi mất xác; họ nhờ ông Đại đội trưỏng có súng, hạ nó cứu mạng cho dân trong bản. Quang Dũng, hào kiệt thời kháng chiến, cao lm73, cho trói một con lợn làm mồi, đêm ấy nằm chờ ác thú. Dân bản còn nhớ, đêm nghe mấy tiếng súng nổ, sáng ra thấy Đại úy và mấy binh sĩ hạ cọp vui vẻ trở về. Nhưng vì nó là hổ thành tinh, đã chống trả mãnh liệt, Quang Dũng phải bắn nhiều phát mới kết liễu được nó. (5)


Còn ở Mai Châu là những kỷ niệm khác, êm đềm hơn.



     Khởi Hành số 201, Tháng 7. 2013

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi


Trai Hà Nội, người trung châu, lớn lên giữa Sông Hồng Sông Mã, đói ăn cơm gạo tám, lúa chiêm lúa mùa; yêu người vóc ngọc, thân ngà, giữa rừng thiêng nước độc sốt rét ngã nước không một viên kí ninh, tóc rụng đến trọc đầu, nhưng nghĩ đến giặc xâm lăng biên giới thì mắt trừng nẩy lửa, trong đêm hội ở doanh trại cao nguyên còn mơ mòng chuyện yêu đương cũng rất mơ mòng diễm tuyệt ở kinh thành:


Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên chăn xây hồn thơ


Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn ai nẻo bến bờ

Có nhớ bóng người trên độc mộc

Trôi giòng nước lũ hoa đong đưa


Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm


Trong ba đoạn thơ trên, chữ Viên-chăn mới đầu viết là Viên chiên, sau tác giả sửa lại. Chữ giòng viết giòng, gi. Chữ Kiều, viết chữ K hoa. Hai khúc thơ cuối cùng của bài Tây Tiến, khúc trên dành cho người ở lại, những tử sĩ chôn vùi không có đến một manh chiếu quấn quanh thi thể (áo bào thay chiếu); họ dâng hiến tuổi trẻ cho chiến tranh, khóc họ chỉ có tiếng ầm ì, tiếng gầm thét của giòng Sông Mã. Khúc dưới dành cho những người đã chiến đấu ở Tây Tiến "mùa xuân ấy:", 1947; đã xa Tây Tiến trở về miền xuôi, nhưng lòng không về, lòng ỏ lại với núi rừng xưa, chiến hữu cũ:


Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu, anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành


Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.


Trong 9 năm thơ kháng chiến, bài Tây Tiến nổi trội vượt bực, và không một chữ nào nói đến lãnh tụ, nói đến lòng yêu nước, nhưng lòng yêu nước chan hờa trong từng câu, từng chữ và tình yêu thắm thiết trong đó là tình bạn hữu, tình yêu thiên nhiên, sông núi, và tình mộng cúa những chàng trai một thế hệ: thế hệ thanh niên chống Pháp xâm lược, "chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh," làm nhiệm vụ thanh niên một cách thanh thản, tự nbiên, như tự ý thức nhiệm vụ phải thế, và lên đường.


Westminster, ngày lễ Thanksgiving, 2011.


Viên Linh

Khởi Hành số 201, tháng 7.2013



1. Ngô Văn Chiêu, bộ đội, viết trong Hồi ký: "... quân đội chính qui được lệnh rút khỏi Hà Nội từ ngày 25 tháng 11, (1946)" theo Việt Sử Khảo Luận của Hoàng Cơ Thụy, trang 2136. Cũng sách này, cuối trang, theo tướng Vương Thừa Vũ: "Ngày 17.12, tiểu đoàn cuối cùng của Vệ Quốc Đoàn rút khỏi thành phố, lui về Bạch Mai." Như thế, khi cuộc nổ súng bắt đầu, ngày 19.12, bảo vệ Hà Nội chỉ có thanh niên sinh viên Hà Nội, không có đơn vị chính qui nào.

2. Hoàng Cơ Thụy (2002): Việt Sử Khảo Luận, Nam Á, Paris. Xem thêm "Dương Quảng Hàm, mùa đông 1946," Viên Linh, Khởi Hành 110, 12.2005.

3. Lê Khải Trạch (1974): trong thư gửi Viên Linh, Thời Tập số 20, 2.1975.

4. Viên Linh "Dương Quảng Hàm, mùa đông 1946," Khởi Hành 110, tháng 12.2005.

5. Lâm Bình (2008): "Những câu chuyện phía sau bài thơ Tây Tiến," VnExpress.Net.


Cung Tac Gia

Cùng Tác Giả:

 

- Nguyễn Thị Hoàng, tuyển truyện 12 tác giả Viên Linh Giới thiệu

- Mấy Chân Dung Văn Nghệ Hiện Đại Của Huỳnh Hữu Ủy Viên Linh Nhận định

- Vài tác giả của tạp chí Tư Tưởng Viên Linh Giới thiệu

- Nhà thơ, nhà báo Nguyễn Vỹ Viên Linh Nhận định

- Mục Tạp Ghi và ký giả Lô Răng Viên Linh Nhận định

- Anh lùn cạnh nhà thờ Đức Bà Viên Linh Nhận định

- Giỗ đầu, nhớ Thái Văn Kiểm Viên Linh Hoài niệm

- Nhà văn Việt Nam nói về Xuân đầu ở Mỹ, 40 năm trước Viên Linh Phỏng vấn

- Họa sĩ Duy Thanh, Nhà Văn Viên Linh Nhận định

- Mặc Đỗ Đổi Mới Viên Linh Nhận định

 

 

Bài Viết Về Quang Dũng

 

Bài viết về Quang Dũng

 

Ba Năm Làm Việc Chung Với Quang Dũng Ở Hà Nội (Xuân Vũ)

Chiến-Ðấu-Ca Và Bi-Hoài-Ca Song Hành Trong Bài Thơ Tây-Tiến (Trần Văn Nam)

Bài Thơ Tây Tiến (Quang Dũng) (Viên Linh)

Nhà thơ Quang Dũng (1921-1988) (Trần Yên Hòa)

 

Tác phẩm

 

Thơ Quang Dũng: thivien.net, poem.com

 

 

Link (Văn Học VN dưới chế độ CS)

 

Văn Học Việt Nam dưới chế độ CS

 

Nghi Án 60 Năm (Trần Gia Phụng)

Nhận Diện Chân Dung Nhà Văn (Lý Hồng Xuân)

Tự Do Học Thuật (Nguyễn Hưng Quốc)

Nhân chuyện người lính buồn trong thơ Văn Lê (Trần Mạnh Hảo)

Vĩnh Biệt Sơn Nam (Tưởng Năng Tiến)

Tiểu thuyết Gửi người yêu và tin của Nguyễn Thị Từ Huy (Mặc Lâm)

Vụ Án Nhã Thuyên (Nguyễn Hưng Quốc)

"Kiện Tướng" Phan Khôi mới thực là Lãnh tụ của Văn Chương Phản Kháng (Thái Việt)

Những cái chết tức tưởi của nhà văn, chuyện bây giờ mới kể (Thái Doãn Hiểu)

Thụy Khuê với Nhân Văn Giai Phẩm (Hồ Trường An)

Nhóm “Mở Miệng”: lịch sử văn học đẫm máu sắp lập lại? (Mặc Lâm)

Luận văn Đỗ Thị Thoan, một Nhân Văn Giai Phẩm thứ hai (Thanh Phương)

Phê Bình Văn Học dưới chế độ cộng sản (Nguyễn Hưng Quốc)

Cú giãy cuối cùng của nền phê bình chỉnh huấn (Phạm Thị Hoài)

Ghi (1954 - 1960) (Trần Dần)

 

Thụy An (1916-1989) (Thụy Khuê)

Về Kinh Bắc (Hoàng Cầm)

Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt (Lưu Quang Vũ)

Đêm Giữa Ban Ngày (Vũ Thư Hiên)

Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất (Nguyễn Khải)

Chuyện Kể Năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn)

Hậu Chuyện Kể Năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn)

Ba Người Khác (Tô Hoài)

Đèn Cù - I (Trần Đĩnh)

Đèn Cù - II (Trần Đĩnh)

Thời Của Thánh Thần (Hoàng Minh Tường)

Trần Đức Thảo - Những Lời Trăng Trối

(Tri Vũ - Phan NGọc Khuê)

Chế độ kiểm duyệt sách báo tại Việt Nam

 (Nguyễn Hưng Quốc)

Phong Trào Nhân Văn Giai Phẩm (Thuỵ Khuê)

Thụy Khuê và Nhân Văn Giai Phẩm (VietNam Film Club)

 

Phim tài liệu (VietNam Film Club, 2013):

Tập I:  Nhân Văn Giai Phẩm

Tập II: Cải Cách Ruộng Đất

 

Tác Giả

Bùi Ngọc Tấn,  Hà Minh Tuân,  Hoàng Cầm,  Hữu Loan,  Nguyễn Tuân,  Phùng Quán,  Quang Dũng,  Thuỵ An,  Trần Đĩnh,  Trần Đức Thảo,  

 

 

Bài Viết về Văn Học
 

Bài viết về Văn Học

 

- Thái Văn Kiểm (Lãng Nhân)

- Xuân Vũ: Cây bút lớn trui rèn với kinh nghiệm sống (Lê Văn Lân)

- Nhìn Lại Một Năm Văn Chương Hải Ngoại

(Nguyễn Mộng Giác)

- Nhà Văn (Võ Phiến)

- Nỗi Băn Khoăn Của Một Người Cầm Bút (Võ Đình)

- Đầu năm nói chuyện thơ (Trần Long Hồ)

- TchyA (Lãng Nhân)

- TchyA Đái Đức Tuấn (Nguyễn Vỹ)

- Một bài thơ xuân mang nhiều ý nghĩa của thi sĩ Đông Hồ (Trần Từ Mai)

- Cảnh Tết Xưa (Tạ Quốc Tuấn)

- Loanh Quanh Chuyện Tết Nhứt (Trần Bang Thạch)

- Nguyễn Thị Hoàng, tuyển truyện 12 tác giả

(Viên Linh)

- Cửa Thiền Nào Chốn Hỏi Mai Hoa (Thái Văn Kiểm)

- Mùa Xuân Nói Chuyện Hoa (Lưu Khôn)

- Giới thiệu tạp chí VĂN HÓA NGUYỆT SAN

(Nguyễn Tuấn Cường)

  Giai Thoại Văn Học

Giai Thoại Văn Học

 

Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

Quả Báo (T. V. Phê)

Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

 

Tác phẩm Văn Học

 

Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

        Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

Sách Xưa (Quán Ven Đường)

Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

  (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

Van Hoc

 

 

Tác Giả

 

Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

  Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

  Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

  Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

  Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

  Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

 (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Du Tử Lê,  Dương Nghiễm Mậu,  Hà Thượng Nhân,  Hàn Mặc Tử,  Hoài Khanh,  Hoàng Khởi Phong,  Hoàng Ngọc Hiển,  Hoàng Xuân Sơn,  Huỳnh Hữu Ủy,  Khoa Hữu,  Lâm Chương,  Lâm Hảo Dũng,  Lâm Vị Thủy,  Lê Hữu,  Lê Văn Trung,  Luân Hoán,  Mặc Đỗ,  Mai Thảo,  Ngô Nguyên Nghiễm,  Nguyễn Âu Hồng,  Nguyễn Bắc Sơn,  Nguyễn Lệ Uyên,  Nguyễn Mạnh Côn,  Nguyễn Ngọc Tư,  Nguyễn Phan Thịnh,  Nguyên Sa,  Nguyễn Tất Nhiên,  Nguyễn Thị Hoàng,  Nguyễn Thị Thanh Bình,  Nguyễn Thị Thuỵ Vũ,  Nguyễn Văn Sâm,  Nguyễn Vỹ,  Nguyễn Vy Khanh,  Nguyễn Xuân Hoàng,  Nguyễn Xuân Thiệp,  Nguyễn Đức Sơn,  Nhật Tiến,  Nhất Tuấn,  Phạm Cao Hoàng,  Phạm Ngọc Lư,  Phạm Phú Minh,  Phan Lạc Phúc,  Phan Nhật Nam,  Phan Trang Hy,  Phùng Cung,  Phùng Thăng,  Sơn Nam,  Tâm Thanh,  TchyA,  Thái Văn Kiểm,  Thanh Nam,  Thanh Tâm Tuyền,  Thảo Ca,  Tiểu Tử,  Tô Thùy Yên,  Trần Hoài Thư,  Trần Mộng Tú,  Trần Phù Thế,  Trần Thúc Vũ,  Trần Tuấn Kiệt,  Trần Văn Nam,  Trần Yên Hòa,  Trịnh Y Thư,  Từ Thế Mộng,  Viên Linh,  Võ Phiến,  Vũ Hữu Định,  Vũ Khắc Khoan,  Xuân Thao,  Xuân Vũ,  Y Uyên,  Đặng Phú Phong,  Đào Anh Dũng,  Đỗ Quyên,  

 
 

 

 
© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@hotmail.com)