Head

 

 

Ngoi Quan Voi Tran Hoai Thu (Le Van Trung)

Ngồi "Quán" Với Trần Hoài Thư

Lê Văn Trung

10-01-2011

1. Có lẽ, trong đời một người, không ai là không từng một lần ngồi "QUÁN". "Quán" có thể là một quán cóc bên đường, bên góc chợ, nơi bến xe hay một sân ga nhỏ. "Quán" có thể ở đâu đó nơi góc phố, một vỉa hè. "Quán" có thể quạnh hiu buồn bã thưa vắng khách một chiều mưa, một đêm đông heo hắt gió. "Quán" có thể tưng bừng rộn rã vang tiếng cười tiếng nói của những người đang yêu hòa lẫn trong giòng nhạc giọng ca dẫn dắt người ta đi vào những mộng mơ một thời thanh xuân hừng hực lửa tình.

Người ngồi sau quầy có thể là một giai nhân một thời làm xao xuyến những con tim khao khát cháy bỏng có thể là một thiếu phụ u buồn mà hương sắc còn đọng lại nơi đôi mắt vời vợi một khoảng trời ngọt-ngào-cay-đắng của quá khứ.

Và ghế bàn có thể cũng đơn sơ như bộ bà ba của cô chủ quán miền quê có nước da trắng như hoa quỳnh, có đôi môi ngọt như nước dừa và làn tóc mượt mà rủ xuống như lá dừa xanh thắm Tam Quan.


2. Người đến với quán đôi khi chỉ là kẻ lữ hành đường xa vô tình dừng lại nghỉ chân trên hành trình xuôi ngược; đôi khi là thói quen thành nghiện ngồi quán của một vài người; đôi khi là chuyến trở về của người lưu lạc tha phương, của một người lính sau chuyến hành quân mệt mỏi ê chề... Đến "quán" để gọi một cốc rượu cho lòng ấm lại, để uống một tách cà phê mà gặm nhấm nỗi-ngọt-ngào-cay-đắng, để đốt một điếu thuốc nhả làn khói xám tan vào hư không mà suy ngẫm về cuộc đời chìm nổi của mình.

Và cũng để nhìn cô chủ quán:

"Cô hàng có chiếc quần đen mượt" (QUÁN tr.94)

"Đôi mắt xứ dừa, đôi mắt Tam Quan" (tr. 23)


"Cô hàng có đôi bộ ngực nở

Có hàng mi đậm, mắt mèo xanh" (tr.29)


"How much, nhìn lên phần vú ngực

Cà phê này có cả tà dâm" (tr. 32)

Và để nhìn:

"Vú ngực phập phồng tôi hoa mắt quàng xiêng" (tr.53)

Nhưng đôi khi "cô chủ quán" chỉ là một mất mát nào đó, của bóng mây nào đó trôi qua dưới vòm trời tình ái, hay đôi lúc chỉ là những hư ảnh của những khát khao không thành:

"Tình si, có phải cô hàng nhỏ

Hay là một hình bóng chiêm bao (tr.4)


Ta chiêm bao hoài em hiểu ta không" (tr.27)


Ngồi "Quán" để nhìn thây em thiên thu mờ ảo, để nhìn thấy ta lãng đãng phù vân, suốt một đời cưu mang cái ảo ảnh tình yêu như mang cây thập tự trèo lên núi Sọ, đấy là cái kiếp, cái nghiệp của nhà thơ.

Ta yêu tất cả các em vì "CáC EM LÀ CÁI ĐẸP", và ta cũng khổ đau một đời vì "cái đẹp" trôi qua đời ta, ta chạy theo hụt hơi mệt lã:

"Ừ nhỉ hình như trời đang sương

Người bỏ tôi đi vào đêm không trăng" (tr. 95)

Để rồi gã thi sĩ dại khờ cứ hỏi mãi, hỏi mãi trong cuộc kiếm tìm:

"Em xa, xa ngái tận phương trời" (tr. 88)

"Em ở nơi nào, Sài Gòn, Qui Nhơn?" (tr. 88)

"Em ở nơi nào nắng có vàng không?" (tr. 88)

"Em ở noi nào chim én về không?" (tr. 89)

"Em ở nơi nào?" "Em ở nơi nào". Gã cứ hỏi mãi mà chẳng ai trả lời, và gã tình si cứ mãi đi tìm, cứ mãi ngồi "quán"


Và hỡi ơi, một chiều ngồi quán, gởi lại bên rừng lửa cháy đạn bom, gởi lại ruộng đồng giọt máu chiến tranh, gởi lại bạn bè dặm trường khói bụi, kẻ lữ hành trở về qua phố huyện ghé quán tìm cô hàng, không phải tìm lại cô, để, như lời trong bài hát:

"Trở về để kiếm cô hàng

Cùng nàng kết mối tình duyên

Thì em đã rời nơi ấy

Để cho quán hàng lạnh lẻo".(Bài hát Cô hàng nước)

Nhà thơ cũng trở về, nhưng về để thấy:

Khi tôi về quán cũ đã cài then" (tr. 65)


"Khi tôi về vần vũ trời mây đen

Ai bảo với tôi cô hàng đã chết" (tr. 67)

Hay:

"Cô hàng cũng dẹp quán về quê" (tr. 16

Và em đâu để ta:

"Xin cô hàng một cốc tang thương" (tr. 73)

Cái cay đắng nghiệt ngã là ở đấy, cái còn lại sau cùng là đấy: "một cốc tang thương".


3. Hởi ơi, ai đã từng trải nghiệm đời mình qua những bi thương của số phận, những góc-quán-đời-người với chén rượu đời nhạt thếch hay cay nồng, với cốc cà phê ngọt ngào hay đắng chát, lòng có rưng rưng mà cạn chén-tang-thương?

Em có còn không để rót cho tôi một-cốc-tang-thương?


4. Gấp sách lại tôi bùi ngùi nhớ những năm tháng đã qua trên những ngược xuôi đời mình, đã từng, đôi khi một mình ngồi bên quán cóc mới thấm đẫm nỗi niềm của tác giả. Tôi cũng đã từng có một thời, với ông (THT) và bè bạn (PVN, PCH) ở một thành phố nhỏ duyên hải miền Trung, ngồi quán với nhau như một giãi bày thân phận, như một vùng thoát nỗi cô đơn bi uất trước những cay nghiệt của lịch sử. Và ngồi quán để chạy trốn những vây khốn tàn khốc của chiến tranh.

Và giờ đây, ông (THT), đang ngồi một mình nơi góc quán của xứ người vạn dặm trùng khơi, lòng vẫn khắc khoải nhớ về những hàng quán quê nhà, mà điển hình sâu đậm nhất là những quán hàng nho nhỏ mái tranh vách nứa trên những vùng lửa đạn ông đã ngang qua miền Qui Nhơn, Bình Định.

"Ghé lại Dunkin gọi cốc cà phê

Như bạn ra ngoài đường đốt thuốc

Một chút cay cay xé nồng con mắt

Như khói mù buổi sớm Việt Nam

Cốc xây chừng để lại Qui Nhơn" (tr. 72)


Ông đang sống bằng một nỗi hoài nhớ triền miên về một quê hương đã mất.

Những quán xưa còn không? Và hỡi những cô hàng quán một thời làm ấm lại trái tim người thi sĩ, bây giờ ở đâu? Các em có còn nhớ không một người đã còn sống được, còn hít thở được, và còn làm thơ được để xưng tụng các em như xưng tụng CÁI ĐẸP BI THƯƠNG CỦA NGHỆ THUẬT.


Lê Văn Trung

(Quê nhà 22.11.09)
(Thư Quán Bản Thảo, tập 41 tháng 2/2010)



 

 

Link (Tran Hoai Thu)

 

Bài viết về Trần Hoài Thư

 

Vịn Vào Lục Bát Của Trần Hoài Thư (Phạm Văn Nhàn)

Ra Biển Gọi Thầm: Niềm Đau Của Thế Hệ Lớn Lên Trong Thời Chiến (Lê Tạo)

Trần Hoài Thư - Người Lính Và Nỗi Buồn Chiến Tranh (Đỗ Xuân Tê)

Đọc "Truyện Từ Văn" của Trần Hoài Thư (Hoàng Ngọc Hiển)

Hành Trình Của Một Cổ Trắng (White Collar) (Phạm Văn Nhàn)

Lang Thang ... Quán (Nguyễn Lệ Uyên)

Ngồi "Quán" Với Trần Hoài Thư (Lê Văn Trung)

Qui Nhơn, Bình Định trong thơ người lính Trần Hoài Thư (Nguyễn Mạnh An Dân)

Trần Hoài Thư, người khâu di sản (Trần Doãn Nho, nguoi-viet.com)

Trần Hoài Thư, ngọn cờ đầu: nỗ lực xiển dương 20 năm văn chương miền Nam: 1, 2, 3.(Du Tử Lê, nguoi-viet.com)

Trần Hoài Thư, 'hiệp sĩ lẻ loi' của văn chương miền Nam

 (Ðỗ Dzũng, nguoi-viet.com)

Qua Ô CỬA của Trần Hoài Thư, Nghĩ và Viết Về Thơ Chiến Tranh Miền Nam (Phan Bá Thụy Dương, vnthuquan.net)

Trò chuyện cùng Trần Hoài Thư về Thư Ấn Quán & Thư Quán Bản Thảo (Trần Doãn Nho, damau.org)

Nhà văn Trần Hoài Thư và tác phẩm “Văn Miền Nam Thời Chiến” (Mặc Lâm phỏng vấn, rfa.org)

Trần Hoài Thư và Châu Hải Châu (luanhoan.net)

Trang Trần Hoài Thư (art2all.net)

Tiểu sử tóm tắt (hocxa.com)

 

Tác phẩm

 

- Số báo cuối cùng của Ba Tạp Chí Văn Học Miền Nam (Trần Hoài Thư)

- Hình như cây súng con lạ lắm (Trần Hoài Thư)

- Vãn Hóa Nguyệt San: Một bảo tàng viện vãn hóa (Trần Hoài Thư)

- Hồi Phục Một Di Sản Văn Chương (Trần Hoài Thư)

- Đôi mắt La Ronda (Trần Hoài Thư)

- Hành Trình Tạp Chí Văn Học (Trần Hoài Thư)

- Trần Thiện Đạo: Khi nghĩa tử không là nghĩa tận... (Trần Hoài Thư)

- Lưu Biệt và tính phổ quát trong thơ Phạm Ngọc Lư (Trần Hoài Thư)

- Bán nguyệt san Mai (1960-1966) (Trần Hoài Thư)

- Giới Thiệu Tạp Chí Nghệ Thuật (Trần Hoài Thư)

Rong Bút, Trang Thơ

Tản Mạn Về Võ Hồng

Đọc một bài thơ "lục bát mới" trước 1975 của Thành Tôn,

Nhà Văn Trẻ Ấy Bị Thương,

Đi tìm “bài thơ trên xương cụt” của Chinh Ba ,

Trần Phong Giao và những người viết trẻ,

Ý Thức Và Nỗi Bơ Vơ Của Bầy Ngựa Hoang,

Đi tìm Vũ Hữu Ðịnh ở Mỹ (Tạp bút)

 

Gò Bồi Bên Kia Sông,

Ra Biển Gọi Thầm,

Thủ Đức Gọi Ta Về,

Thám Báo,

Ngày cuối cùng của một cổ trắng

Mưa Mùa Hạ

Làng Xóm Buồn Thiu

 

Thư Quán Bản Thảo

Tạp chí Văn học Nghệ thuật phát hành bất định kỳ, tập 1 (tháng 10-2001), tập 45 (tháng 1-2011), nhóm chủ trương: Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn, Trần Bang Thạch, Cao Vị Khanh, NG~.

Ðịa chỉ P.O Box 58, South Bound Brook, NJ 08880.

Email: tranhoaithu@verizon.net

 

Van Hoc

 

 

Tác Giả

 

Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

  Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

  Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

  Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

  Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

  Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

 (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Du Tử Lê,  Dương Nghiễm Mậu,  Duy Liêm,  Hà Thúc Sinh,  Hà Thượng Nhân,  Hàn Mặc Tử,  Hồ Đình Phương,  

 
 

 

 

© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)